Monday, March 15, 2021

Có phải Thắng Pháp, Duy Thức Học, Tâm Lý học và Phân Tâm học là những môn học tương đồng không? - HT Chánh Minh giảng

 Câu hỏi 3: Có phải Thắng Pháp, Duy Thức Học, Tâm Lý học và Phân Tâm học là những môn học tương đồng không?

Câu hỏi trong bài giảng Thắng Pháp, bài 2 Bốn Pháp Siêu Ly

Minh Hạnh chuyển biên

HT Chánh Minh: Nhìn bề ngoài thì tương đồng với nhau, tức là nói lên cái sự diễn tiến của phần tinh thần, tức là Duy Thức Học cũng nói về phần tinh thần, tâm lý học nói về phần tinh thần.

Nhưng xin thưa rằng; tâm lý học không đề cập tới sắc pháp, chỉ nói về diễn tiến của tinh thần, như vậy tâm lý học chúng tôi chưa nói cái tiến trình hình thành tâm lý học, cái thời gian mà phân tâm học hay tâm lý học xuất hiện nó cách thời gian Thắng Pháp xuất hiện trên dưới gần 2 ngàn năm nhưng hình dung thì cũng giống vậy nhưng có những cái khác nhau.

 Duy Thức Học xuất phát sau Abhidhamma, Duy Thức Học là bộ môn học của Ngài Thế Thân và Ngài Vô Trước lập ra. Ngài Thế Thân và Ngài Vô Trước nếu chúng tôi nhớ không lầm thì vào thế kỷ thứ 4 sau Tây Lịch, tức là cũng nương vào Tạng Abhidhamma tức là tạng Thắng Pháp để thành lập ra.

Nói một cách khác dễ hiểu hơn thì, nhìn có vẻ tương đồng nhau nhưng mà có những cái khác biệt nhau tùy theo sự hiểu biết của mỗi người, còn Tâm Lý học thuộc về Tây Phương của những triết gia. 

Trước mắt là chúng ta cứ tạm cho rằng giống nhau ở những nét đại cương, còn những nét dị biệt chúng ta sẽ tìm hiểu sau, cho nên có một số tác phẩm dịch từ bảng luận Abhidhamma ra họ nói tâm lý học là không đúng. Tâm Lý học chỉ phân tích được buồn, vui, không vui, không buồn, chỉ là khía cạnh nhỏ của trạng thái tâm lý, còn trong tạng Thắng Pháp này thì bao la rất nhiều. Nhưng tạm thời chúng ta chấp nhận như vậy 

Duy Thức cũng vậy, nói về Duy Thức, "vạn pháp duy tâm tạo", hay là "nhất thiết duy tâm tạo", tất cả đều do tâm tạo.

 Nhưng xin thưa rằng; nếu "nhất thiết duy tâm tạo" thì chính tâm cũng vẫn bị tạo. Chúng ta nhìn lại chúng ta mới thấy, tâm tạo ra tất cả thì chính tâm cũng bị tạo luôn. 

Chúng tôi giải thích qúi vị là, nhân sinh tâm có bốn; thứ nhất là nghiệp quá khứ, thứ hai có cảnh, thứ ba có tâm sở, và nếu ở cõi dục giới này thì phải có sắc nương, tức là phải có sắc ý vật, tâm không phải tạo tất cả mà chính bản thân tâm cũng bị tạo.

 Có những nét khác biệt như vậy, cho nên nhìn chung thì nói về diễn tiến của những trạng thái tâm, nhìn đại thể thì giống nhau nhưng những chi tiết đó, những điều đặc biệt đó thì, chúng ta mới có thể phân tích ra có rất nhiều khác biệt mà, chỉ cần khác một chút thôi thì vấn đề lại sang một cái ngõ khác, giống như ông xạ thủ chỉ nhắm sai một ly thôi thì mũi tên sẽ không trúng mục tiêu, 

Chúng tôi xác nhận rằng; Tâm Lý học, Duy Thức học, ngay cả Phân Tâm học của Freud và tạng Thắng Pháp tất cả đều hao hao giống nhau có nét tương đồng giống nhau nhưng, chúng ta không nên vì một khía cạnh giống nhau đó mà chúng ta kết luận là như nhau. 

Chúng tôi ví dụ, trong bình hoa có những cánh hoa, trong vườn hoa cũng có những cánh hoa giống giống nhau. Nhưng ở vườn hoa nó có những cánh hoa khác nữa và nó có khác với những cánh hoa ở trong bình, khác chổ nào, hoa trong bình sống không thọ không lâu, còn hoa ở vườn có thể sống thọ sống lâu, đó là một điểm. Điểm thứ hai, hoa ở trong bình có thể bị cắt đứt rễ, hoa trong vườn không bị đứt rễ, chẳng hạn như vậy, mà nhìn chung chung thì giống nhau nhưng coi chừng những nét khác biệt, đó là điều quan trọng, chúng ta mới thấy được những cái đặc biệt. Dĩ nhiên, chúng tôi không bài bác là khác nhau hoàn toàn nhưng chúng ta phải lưu ý những điều khác biệt vậy.

Một ví dụ khác, chúng ta thấy; sắc, thép, đồng, vàng, chì, kẽm, nói chung là kim loại, ai bảo sắc không phải là kim loại, ai bảo thép không phải là kim loại, ai bảo vàng không phải là kim loại, nhưng mà mỗi cái nó khác nhau và chúng ta cần tìm hiểu những nét khác nhau như thế nào và, cũng nên nhớ một điều nữa qua ví dụ này, chúng ta thấy thủy ngân cũng là kim loại mà nó ở thể lỏng, nhưng nó cũng thuộc về kim loại.

Đó là câu trả lời của chúng tôi cho câu hỏi này ./.

Sunday, March 14, 2021

Câu hỏi: Tâm, ý và thức có khả năng cho quả không? - HT Chánh Minh giảng

 Câu hỏi: Tâm, ý và thức có khả năng cho quả không?

Câu hỏi trong bài giảng Thắng Pháp - Bài 2 - Bốn Pháp Siêu Lý, HT Chánh Minh giảng, 

Minh Hạnh chuyển biên

HT Chánh Minh: xin thưa; tâm, thức, và ý, đều có khả năng cho quả. Nhưng  khi nói xử lý cảnh thì Đức Phật Ngài dùng chữ ý bởi vì nó cho kết quả. 

Nói cách khác dễ hiểu hơn, tâm là một đại tập hợp, thức gần giống như tâm cũng là đại tập hợp, còn ý là tiểu tập hợp ở trong đó.

Chúng ta hình dung một vòng tròn lớn trong đó chứa một vòng tròn nhỏ, cho nên khi nói về nhóm hiểu biết cảnh thì Đức Phật Ngài dùng chữ thức uẩn  (Vijnãnaskandha) thì thức này bao gồm sự biết cảnh.

 Nhưng nói về một tính chất đa dạng biết nhiều cảnh, biết cảnh một cách chung chung nhưng nó biết nhiều cảnh, để chỉ ra một khía cạnh biết nhiều loại cảnh như vậy Đức Phật Ngài dùng chữ citta. 

Rồi nói cách xử lý cảnh đặc biệt, chỉ có loại tâm này mới xử lý cảnh thôi thì Đức Phật Ngài dùng chữ ý và, nếu như chúng ta hiểu rộng là thì dù cho tâm hay thức thì ý đều có khả năng cho kết quả, nhưng khi dùng một từ nào đó chúng ta hiểu thêm một khía cạnh khác biệt giữa các từ. 

Khi chúng ta nói tới ý là dứt khoát là hiểu ngay là nó xử lý cảnh.

Còn tâm đôi khi nó xử lý cảnh cũng có đôi khi nó không xử lý cảnh cũng có.

Thức cũng vậy. Nói tới thức thì nói nôm na là chỉ biết cảnh mà thôi.

 Nhưng  khi nói tới tâm thì nhấn mạnh là tâm này biết nhiều cảnh, đó là tính chất nói để nêu ra một khía cạnh khác biệt, chứ còn tâm, thức, hay ý, đều có khả năng tạo tác để cho quả, đó là nét chung.

 Và khi nói cái tạo tác, Đức Phật Ngài chỉ ra một cách nhất định rằng; ý nó tạo ra kết quả. 

Còn tâm, có nhiều tâm không tạo ra kết quả, nó không cho quả thiện quả bất thiện. Có 121 tâm, thí dụ tâm nhãn thức thọ xả quả thiện, mắt thấy cảnh sắc tốt, nhưng nó thấy rồi thôi, hưởng quả rồi thôi, không cho kết quả nữa và, ngay cả tâm nhãn thức hoặc nhãn thức không thôi chúng ta thấy có chữ thức trong đó, hoặc giả chúng ta có một tâm khác thí dụ như là tâm hướng ngũ môn (Pañcadvārāvajjana) cũng là tâm nhưng loại này cũng không cho kết quả.

Nhưng khi nói tâm tham, tâm này cho kết quả nó tạo tác cho quả bất thiện. Tâm thiện cho quả thiện. 

Cho nên khi nói như vậy để nhấn mạnh một khía cạnh khác biệt thôi, chứ còn, tâm, thức, hay ý, thì đều có khả năng tạo tác để cho quả trong tương lai. 

Nhưng mà nói mãnh lực xử lý cảnh thì dùng chữ ý, nói tới ý nghĩa biết cảnh thì dùng chữ thức, nếu biết cảnh nhiều đa dạng thì dùng chữ tâm. Phải nắm bắt chỗ này qúi vị sẽ không còn thắc mắc nữa.

Cho nên tất cả những danh từ đó để chỉ ra những nét khác biệt mà thôi, còn nhìn tụ chung cả ba tâm, thức, ý, đều có khả năng tạo tác và cho kết quả nhưng khi nói tạo tác thì chỉ rõ ra ý.

Tâm là nói chung. Tâm hay là thức là đại tập hợp. Còn ý là tiểu tập hợp nằm trong đó mà công năng của nó là chỉ tạo tác ra hay xử lý cảnh. Sau này sẽ học tới phần tâm lộ thì ý nằm trong lộ gọi là Javana citta là tâm đổng lực, nằm ở trong 7 sát na đó hay là nằm trong lộ đó được gọi là ý ngoài ra là thức hoặc là tâm, và ý nằm trong lộ đổng lực cũng là tâm cũng là thức ./.


Saturday, March 13, 2021

Câu hỏi: tại sao Đức Phật lại giảng bộ Vi Diệu Pháp để báo hiếu mẹ ở cung trời Đao Lợi? - HT Chánh Minh giảng

Nhị Tường ghi chép 

4. Kính thưa sư tại sao Đức Phật lại giảng bộ Vi Diệu Pháp để báo hiếu mẹ ở cung trời Đao Lợi trong khi hoàng hậu Māyā không ở cung trời Đao Lợi, Đức Phật đi bằng thân nào để lên cung trời thuyết pháp ạ.

Mặc dầu vị thiên tử Māyā ở cung trời Đâu Suất nhưng tại sao Đức Thế Tôn lại thuyết giảng trên cung trời Đao Lợi, đây cũng câu hỏi hay, và câu hỏi tiếp theo, bằng cách nào Đức Thế Tôn ngự lên cung trời Đao Lợi. Xin thưa, bản sớ giải sau khi dùng song thông lực để nhiếp phục ngoại đạo trên cội cây xoài có tên Ganda. Cây xoài này có tên Ganda bởi do chàng thanh niên Ganda này trồng. Chuyện trước đó cũng khá dài nên chúng tôi không thuật lại chỉ nói ngắn gọn. Sau khi Ngài thi triển song thông lực rồi Ngài quán xét rằng sau khi chư Phật quá khứ dùng thần thông lực nhiếp phục ngoại đạo rồi đi đâu, Ngài thấy rằng chư Phật quá khứ lên cung trời Đao Lợi để tế độ hoàng hậu thân mẫu của Ngài.

Năng lực thần thông của Đức Thế Tôn và uy đức của Đức Thế Tôn từ cội xoài đó lên cung trời Đao Lợi chỉ ba bước: Bước thứ nhất, Ngài  bước chân lên thì cái núi Yugaṃdhara (Trì Song Sơn) dường như cúi xuống để Đức Thế Tôn bước lên. Hội chúng mà thấy giống như Ngài bước một bước lên đỉnh núi Yugaṃdhara. Bước thứ hai, từ đỉnh núi Yugaṃdhara Ngài bước lên đỉnh núi Sineru (Tu Di Sơn) là cung trời  Đao Lợi. Với năng lực thần thông của Đức Phật là Ngài có thể thâu lại đoạn đường đó. Chính trong Kinh Tạng Đức Phật nói, người có thánh trí, có thể vuốt rờ mặt trời mặt trăng, tức là thâu mặt trời mặt trăng tới gần rồi xoa giống như mình vuốt gương vậy, nói chi Đức Thế Tôn có thần lực siêu đẳng để rút đường lại. Đỉnh núi Sineru có vương quốc Đao Lợi. Mặt bằng Vương quốc Đao Lợi này (theo bản Chú giải Người và Cõi, do đại đức Thiên Phúc dịch) này rộng 84 ngàn do-tuần và kinh thành Đao Lợi trước tiên rộng 10 ngàn do-tuần thôi, nhưng từ khi thanh niên Makkhava sanh lên cùng với 32 người bạn của mình sanh lên thì từ lúc đó kinh thành này có tên là Tāvatiṃsa (Cõi 33). Đứng đầu là vua trời Đế Thích. Nói cách khác, vương quốc Đao Lợi gồm có 33 vị chúa trời mà vị trưởng đoàn của 33 vị chúa trời đó là vua Trời Đế Thích, nên cung trời đó có tên là Tāvatiṃsa. Từ khi thanh niên Makkhava sanh lên, do phước của thanh  niên Makkhava cùng và 22 người bạn của mình thì vương quốc đó nới rộng thêm 10 ngàn do-tuần nữa. Chúng ta cứ tưởng tượng hình vuông rộng 84 ngàn do-tuần thì vương quốc nằm ở giữa chỉ có 20 ngàn do-tuần thôi. Cho nên bước chân thứ ba của Đức Phật từ đỉnh núi Sineru (Tu Di Sơn) Ngài bước tới ngai vàng của vua trời Đế Thích, tức là một tảng đá gọi là ‘paṇḍukambala’ màu vàng. Ngài ngồi lên đó. Đó là cách thức mà Ngài ngự lên cung trời Đao Lợi bằng năng lượng thần thông.

Có một số sách nói rằng bà Māyā tái sanh về cõi Đao Lợi, xin thưa không phải, theo Nam truyền, do phước ba-la-mật của bà, mà có cõi Đâu Suất (Tusita) là nơi hưởng quả của phước ba-la-mật. Những quả phước thường thì sanh về cõi Dạ Ma, người làm việc với tâm hoan hỉ thì có thể tái sanh về cõi Dạ Ma vì chỗ đó không có buồn phiền, tâm lúc nào cũng vui, cũng hân hoan. Cõi thấp hơn là cõi Đao Lợi, làm việc phước một cách tốt đẹp nhưng còn ước nguyện hưởng phước nhân thiên thì tái sanh về cõi đó. Còn người nào làm việc phước chỉ ước mong đạt tới đạo quả niết-bàn thì khi đủ phước ba-la-mật sẽ tái sanh về cõi Đâu Suất. Tiền thân hoàng hậu làm phước ba-la-mật nên tái sanh về cõi Đâu Suất, theo Nam Truyền. Vậy tại sao Đức Thế Tôn không ngự vào cõi Đâu Suất để tế độ? Xin thưa, nói là tế độ bà Māyā nhưng thật sự Ngài tế độ những người hữu duyên chứ không phải chỉ riêng hoàng hậu Māyā. Chúng ta biết rằng, vị Bồ tát Chánh Đẳng Giác thực hành Bồ tát hạnh với ba mục tiêu:

-Thực hành pháp ba-la-mật để đắc được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác

-Thực hành pháp ba-la-mật để tế  độ quyến thuộc

-Thực hành pháp để chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác để tế độ chúng sanh, và Ngài thấy  duyên lành của chư thiên Đao Lợi nhiều, phước nhiều, còn Ngài ngự lên cung trời Tusita chỉ tế độ được thiên tử Māyā mà thôi. Nhưng tại cung trời Đao Lợi thì chư thiên được tế độ rất nhiều, trong đó có vị thiên tử Māyā. Biết được ý nghĩ của Đức Thế Tôn như vậy nên vua trời Đế Thích đã tự thân tới cung trời Tusita để cung thỉnh vị thiên tử Māyā: Thưa ngài, con của ngài ở trong kiếp trước nay đã thành bậc Chánh Đẳng Giác đang ngự tại kinh thành Đao Lợi, có ý định sẽ giảng pháp đến cho ngài, xin ngài hãy ngự xuống dưới cung trời. Vị thiên tử hoan hỷ nói: Ồ vậy con của ta kiếp trước đã thành Phật rồi a, hoan hỷ. Chính với ý nghĩ này mà vị thiên tử đó đã chứng đắc được quả Dự Lưu, sau khi vị này nghĩ là không còn phải là con của ta nữa.

Bởi vậy Thắng Pháp này đem tới đạo quả cho tới 800 vị chư thiên, trong đó có thiên tử Māyā nữa. Thời pháp này đem tới lợi ích cho nhiều thính chúng. Tuy là mục đích tế độ vị thiên tử mà tiền kiếp là thân mẫu của mình nhưng Thế Tôn đâu có làm chuyện không mang tới lợi ích cho nhiều người đâu. Ngài thấy duyên lành của nhiều người cho nên Ngài ngự về đó và tế độ những người hữu duyên tức những vị thiên tử. Những vị thiên tử đó phần lớn cũng chính là những nam nữ cư sĩ khi còn thân nhân loại đã đặt niềm tin nơi Ngài rất nhiều, nhưng chưa đủ cận y duyên nên sau mệnh chung tái sanh về cõi đó. Điển hình chúng ta thấy rằng, trước khi vị thiên tử Māyā đi tới để nghe pháp thì có hai vị thiên tử là Indaka và Anruka, khi chư thiên đến ngự đông thì vị thiên tử Anruka này phải lui xa lui xa tới 12 do-tuần, trong khi thiên tử Indaka chỉ ngồi tại chỗ. Đức Thế Tôn hỏi vì sao, thiên tử Indaka nói: “Bạch Thế Tôn, trong tiền kiếp con chỉ cúng dường đức Anuruddha (A-na-luật/A-Nậu-Đà-La), nhờ phước đó con sanh lên đây có uy lực như vậy.” Ngài Anuruddha là đệ tử của Đức Thế Tôn, cúng dường cho đức Anuruddha sau khi mệnh chung tái sanh lên, nhóm chư thiên còn lại đa phần là những thiện nam tín nữ thời Đức Phật khi còn tại tiền cúng dường cho Đức Phật, hoan hỉ với phạm hạnh của Đức Phật Gotama, do đó thân hoại mệnh chung tái sanh về cõi đó. Thành ra bây giờ họ đang tụ họp ở đó. Những người này có niềm tin nơi Đức Thế Tôn. Ngài tế độ, luôn tiện nhân đó Ngài tế độ luôn. Đó là việc làm có ích cho nhiều người. Có thế thôi. 

Nhị Tường ghi chép    


Friday, March 12, 2021

Câu hỏi: Tại sao trong Thắng Pháp không có câu "Như vầy tôi nghe?" - HT Chánh Minh giảng

 3. Tại sao kỳ kết tập lần thứ nhất và thứ hai không có tạng Thắng Pháp, và tại sao không có câu ‘như vầy tôi nghe’ trong tạng Thắng Pháp?

Nhị Tường ghi chép

Chúng ta nhớ là trong kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ nhất với mục đích của các ngài là loại trừ những lời nói phi pháp của vị tỳ kheo già có tên là Subhadda. Khi Đức Thế Tôn mới vừa viên tịch ở thành Kusinārā, một số vị tỳ kheo còn phàm buồn tủi khóc lóc, lúc bấy giờ có vị tỳ kheo già mới xuất gia tên là Subhadda (đừng nhầm lẫn với vị đệ tử cuối cùng của Đức Thế Tôn cũng tên là Subhadda) nói rằng:

- "Này chư hiền, đừng khóc làm chi, hồi còn Đức Thế Tôn, mình làm cái gì thì Ngài nói này tỳ kheo việc này nên làm việc này không nên làm, giờ Ngài niết-bàn rồi, mình muốn làm gì mình làm". 

Đức Kassapa nghe như vậy mới nói:

- "Đức Thế Tôn mới niết-bàn mà có tư tưởng như vậy thì không được. Nhưng bây giờ thì đang trong thời điểm quan trọng phải lo đại sự cho sự viên tịch của Đức Thế Tôn."

Nên sau đó thì với sự hỗ trợ (bảo trợ) của vua A-Xà-Thế ngài kết tập Tam Tạng lần thứ nhất, tức là kết tập toàn bộ Phật ngôn, với mục đích là như vậy. 

Và như chúng tôi trình bày khi nãy, trong thời Đức Thế Tôn thì không có tạng Luận – không có tách riêng mà chỉ có Pháp và Luật, những quy định, những thể thức, cách thức, cách hành xử trong chư tăng cũng như chư tăng đối với Phật tử, điều nên làm, điều không nên làm, những nghi thức. Ví dụ như người xuất gia không nên đi tới những  những thanh lâu, nhà của các sương phụ, gái lỡ thời v.v... Những gì còn lại ngoài những nghi thức, ngoài những hành xử những điều được làm và không được làm, toàn bộ những cái còn lại được gọi là pháp. Như vậy trong kỳ kết tập lần thứ nhất thì không có phân chia ra. Sau kỳ kết tập lần thứ ba thì các ngài mới phân ra thành ba giỏ Kinh, Luật và Luận. 

Tại sao trong tạng kinh có “như vầy tôi nghe” mà trong tạng Diệu Pháp không có, và ai là người trùng tuyên? 

Xin thưa cũng chính là đức Ānanda trùng tuyên tạng Diệu Pháp. Còn câu “Như vầy tôi nghe” ở trong tạng Kinh, thứ nhất, là do đức Ānanda xác nhận “bài kinh này tôi nghe.” Trong thời Đức Phật, những vị muốn học tạng Diệu Pháp thì không có sách vở như chúng ta, ngoại trừ 500 vì mà chúng tôi giới thiệu quí vị khi nãy, thông tạng Thắng Pháp đầu tiên là đức Xá Lợi Phất. 

Tạng Diệu Pháp này thực tình mà nói, như nhiều người nói thì khô khan, nhưng thật ra  không có khô khan, mà đòi hỏi chúng ta phải nghiền ngẫm rất là nhiều. Cho nên những tạng Kinh thì được sâu rộng, và những bài kinh có thể là bị sai lệch nên đức Ānanda trùng tuyên lại “như vầy tôi nghe, một thời”. Đức Ānanda  xác nhận “tôi nghe từ Đức Thế Tôn, không nghe từ vị nào khác nữa hết”, vì Đức Thế Tôn thuyết ở đâu đó, về thuyết lại cho đức Ānanda nghe. Cho nên nói “như vầy tôi nghe” tức là có những bài kinh bị cải biên hoặc những bài kinh thiếu từ, mất từ hoặc đoạn trước nói sau, đoạn sau nói trước v.v..., nên đức Ānanda trùng tuyên trở lại từ đu đến cuối, bởi vì đức Ānanda có một trí nhớ tuyệt vời, và xác nhận “tôi nghe từ Đức Phật”.

 Chữ ‘một thời’ này có giá trị không xác định. Ví dụ một thời Đức Thế Tôn ngự ở tại Kỳ Viên Tịnh xá, vào cái thời Đức Thế Tôn ngự tại Kỳ Viên tịnh xá thì nhiều lắm, khoảng 19 hạ. Hoặc một thời Đức Thế Tôn ngự tại Đông Phương tự, thời gian này cũng nhiều lắm, khoảng 6 hạ. Chữ ‘một thời’ này không có tính chất xác định ở hạ nào, mà chỉ nói chung chung, đại khái là có lần Đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên tịnh xá, có lần Đức Thế Tôn ở tại thành Vương Xá. Một thời tức là “bài kinh này tôi nghe từ Đức Thế Tôn, có lần Đức Thế Tôn ngự tại đó đó.” 

Còn trong tạng Diệu Pháp thường thường được gọi là “tasmiṃ samaye” (trong khi ấy), và lúc này thì không có “một thời” nữa, vì rõ ràng là hạ thứ bảy và Ngài ở trên cung trời Đao Lợi. Bài pháp này Đức Thế Tôn cũng có thể thuyết lại đức cho Ānanda mà đức Xá Lợi Phất cũng có thể thuyết lại cho ngài. Đức Ānanda là vị thủ khố Tam Tạng, đức Ānanda rất là thương kính Đức Thế Tôn và rất là cung kính đức Xá Lợi Phất luôn cả đức Kassapa. Cho nên có những lúc đức Ānanda ngại Đức Thế Tôn mệt nhọc, Đức Phật thuyết giảng trên đó ba tháng trời, mà giờ thuyết Đức Thế Tôn giảng lại cho đức Ānanda cũng phải ba tháng trời, liên tục như vậy, thì quí vị sẽ thấy như thế nào? Cho nên đức Ānanda có thể nghe từ Đức Thế Tôn và có thể học tập từ nơi đức Xá Lợi Phất bởi đức Xá Lợi Phất không bao giờ giảng sai. Tướng quân chánh pháp mà, cũng có trí nhớ tuyệt vời. 

Vậy cho nên, trong đó là “như vầy tôi nghe” mà rõ ràng là đức Ānanda cũng trùng tuyên tạng Thắng Pháp nhưng không cần nói, người ta cũng hiểu. Bởi vì rõ ràng tạng này chính thức là Đức Thế Tôn thuyết giảng không còn bàn cãi nữa. Không có một thánh đệ tử nào có trí tuệ mà có thể phân tích được 24 duyên, trùng trùng duyên sinh điệp điệp duyên khởi đó. Cũng không có một vị thánh thượng thủ Thanh văn nào mà có thể lý thập nhị duyên khởi sâu rộng tận cùng như trong tạng Thắng Pháp. Điều này chắc chắn của Đức Phật rồi, nhất là phần Duyên hệ, bộ Paṭṭhāna - bộ thứ 7. Chắc chắn phần này là của Đức Phật rồi, còn có ai khác nữa, không cần phải nói “như vầy tôi nghe, một thời” nữa, mà là “trong khi đó” (tasmiṃ samaye) bởi vì tạng Thắng Pháp chỉ thuyết trong hạ thứ 7 mà thôi, ngoài ra không thuyết chỗ nào nữa, không cần phải nhắc tới là như vậy.


Thursday, March 11, 2021

Tại sao Đức Thế Tôn phải thuyết bộ Vi Diệu Pháp ròng rã ba tháng mà không thuyết từ từ? - HT Chánh Minh giảng

 2. Tại sao Đức Thế Tôn phải thuyết bộ Vi Diệu Pháp ròng rã ba tháng mà không thuyết từ từ?

Nhị Tường ghi chép

Thứ nhất, đó là vào mùa An cư mùa mưa, tức vào hạ thứ 7. Vào ngày rằm tháng 6, Ngài dùng song thông lực để nhiếp phục ngoại đạo xong Ngài suy quán rằng: Sau khi dùng song thông lực để nhiếp phục ngoại đạo xong thì chư Phật quá khứ ngự về đâu, Ngài quán xét và thấy rằng chư Phật quá khứ sẽ ngự lên cung trời Đạo Lợi để thuyết tạng Thắng Pháp, hay nói cách khác là sẽ ngự trên cung trời Đạo Lợi để tế độ thân mẫu của mình trước khi Ngài thành Phật, tức người mẹ sanh ra Bồ tát kiếp chót. Đó cũng là vào lúc an cư mùa mưa.

Thứ hai, khi chư thiên tề tựu lại mục đích nghe pháp mà thời gian trên đó, ba tháng ròng rã cõi nhân loại, nhưng Đức Thế Tôn thuyết giảng trong Tăng Chi Kinh, Pháp 3 Chi, ngày  trai giới giảng cho bà Visākhā về ân đức niệm Thiên, Đức Thế Tôn dạy: Này Visākhā một ngày một đêm ở cõi Đao Lợi tương đương bằng một trăm năm ở cõi nhân loại. Chúng ta thấy rằng như vậy ba tháng cõi Nhân loại tương đương trên đó độ khoảng vài phút. Giống như một trăm đồng (đô) của người Mỹ tương đương với một triệu tám trăm ngàn của VN chẳng hạn. Giá trị cũng tương đương vậy thôi nhưng đơn vị thì khác nhau. Mỗi lần chư thiên tụ họp trên đó, quí vị cứ nghĩ rằng, khi tới khoảng chừng năm ba phút mà mới vừa hai phút thì nghỉ, thời giảng này nửa tiếng đồng hồ mà mới có năm phút thì nghỉ, rồi ba phút sau thuyết tiếp như vậy theo dõi sẽ ngắt đoạn ngắt đoạn. Nếu như nửa tiếng đồng hồ mà cứ liên tục liên tục theo dõi từ đoạn đầu đến đoạn cuối không hề bỏ được thì trí tuệ phát triển nhanh và tốt đẹp hơn. Vì vậy tạng Thắng Pháp này Đức Phật không thuyết từ từ được, bởi chư thiên trên đó thì khoảng vài phút thôi. Đức Thế Tôn thuyết giảng kiểu này từ từ không ròng rã ba tháng thì chư thiên bỏ đi hết, cũng không theo dõi cho hết bài pháp để chứng đắc được đạo quả, do đó Đức Thế Tôn thuyết ròng rã, và dứt thời pháp đó thì thiên tử Māyā chứng quả Dự lưu.


Wednesday, March 10, 2021

Câu hỏi: Tại sao bộ Thanh Tịnh Đạo và Vô Ngại Giải Đạo không thuộc Vi Diệu Pháp? - HT Chánh Minh giảng

 1. Tại sao bộ Thanh Tịnh Đạo và Vô Ngại Giải Đạo không thuộc Vi Diệu Pháp?

Sở dĩ bộ Vô Ngại Giải không gọi là tạng Thắng Pháp vì bộ này do đức Xá Lợi Phất giải ra. Nói cách khác nương theo tạng Thắng Pháp mà đức Xá Lợi Phất gom những tinh hoa trong Thắng Pháp để giải thích về con đường dẫn tới niết-bàn từ trí, từ ly tham, từ quyền, từ lực, từ niệm xứ v.v... Nghĩa là đó là phiên bản của tạng Thắng Pháp. Tất nhiên là trích từ tạng Thắng Pháp để lấy những phần tinh hoa trong tạng Thắng Pháp để thành lập tạng riêng, trong đó có lồng những giải thích từ những bản kinh, đem tinh hoa của tạng Diệu Pháp ra giải thích, cho nên bộ Vô Ngại Giải đạo không liệt kê vào tạng Thắng Pháp vì trích dẫn từ tạng Thắng Pháp ra và trong đó có lồng tạng Kinh. Ví dụ bài kinh nào đó Đức Phật thuyết giảng về quyền, về lực, về ý nghĩa chữ ly tham (ly tham ngữ) chẳng hạn, thì đức Xá Lợi Phất giảng rộng ra và lồng trong đó những chi pháp của tạng Vi Diệu Pháp, thế thôi.

Bộ Thanh Tịnh Đạo cũng vậy, đây là tác phẩm của ngài Buddhaghosa, tác phẩm này là do chư tăng muốn thử trình độ của ngài Buddhaghosa cho nên lấy một câu kệ trong Tương Ưng Kinh để thử coi ngài Buddhaghosa giải thích như thế nào. Tức là lấy câu kệ đầu tiên, một câu kệ trong Tương Ưng Kinh là: “Người trú giới có trí. Tu tập tâm và tuệ. Nhiệt tâm và thận trọng. Tỷ kheo ấy thoát triền.” làm tiêu đề để cho đức Buddhaghosa giải thích câu kệ ngôn này. Nhưng từ câu kệ ngôn này, thì ngài Buddhaghosa đưa vào con đường Giới Định Tuệ, ngài giải thích theo giới, định, tuệ và triển khai rất rộng. trong đó có tạng Kinh cũng có, tạng Luật cũng có và tạng Diệu Pháp cũng có, do đó bộ sách Thanh Tịnh Đạo không được liệt kê vào tạng Thắng Pháp.

Nhị Tường ghi chép

Tuesday, March 9, 2021

Câu Hỏi: Phân biệt phước phóng sanh và các loại phước khác. - TT Pháp Chất giảng

 Câu Hỏi: Phân biệt phước phóng sanh và các loại phước khác.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Pháp Chất: Lễ phóng sanh hay phước phóng sanh này bắt nguồn từ bên Trung Hoa, theo truyền thống Phật giáo Bắc Tông. Người ta khuyến khích tất cả người ở thế gian trong đó có các Phật tử Bắc Tông, tổ chức làm phước bằng phương tiện này, bằng phương tiện kia, để tổ chức phóng sanh. Mục đích và động cơ để thực hiện lễ phóng sanh hay nghi thức phóng sanh ngày xưa, là đối với những nhà tu hành khi thấy một chúng sanh bị giam cầm, nhất là những loài thú, rất là đau khổ, mà loài thú bị giam cầm ngoài vấn đề đau khổ theo thông thường của chúng sanh bị tù hãm giam giữ, còn bị giết hại mất mạng v.v... Chính vì đó mà những bậc thiện nhân ngày xưa thấy tội nghiệp, thấy thương, do đó không phải là tự mình phóng sanh để giúp đỡ chúng sanh thóat khỏi sự giam hãm, thoát khỏi tù đày, thoát khỏi sự giết hại đó, và từ đó về sau đương nhiên qúi Sư, hay Thầy, hay Sư Cô khuyến khích thì các Phật tử hành theo.

Điều đó, nếu đánh giá theo Phật giáo, thì đó là một loại phước. Thì việc nào thuộc về phước chúng ta cũng khuyến khích, cũng tán thán. Nhưng đối với Phật giáo, Đức Phật dạy các loại phước chúng ta làm, phước nào ra phước nấy, đủ loại phước mà chúng ta phải xác định là thuộc loại phước gì, mục đích để làm chi v.v...

Thì đối với Phật giáo, việc phóng sanh Đức Phật không phải là khuyến khích theo nghĩa một pháp hành giống như bây giờ. Mà là khuyến khích hay khích lệ, Đức Phật chỉ dạy chúng ta phải giữ giới, chứ không phải dạy chúng ta phóng sanh. Bởi nếu phóng sanh thì chỉ phóng sanh có một lần thôi, và người học phóng sanh chỉ được một lần đó mà thôi, nhưng cả đời của họ về sau có thể trong hoàn cảnh nào họ sát sanh hại vật, tạo rất nhiều tội lỗi và khó vượt qua được điều đó.

Đức Phật dạy giữ giới, bản thân chúng ta giữ giới là khuyến khích những người khác cùng giữ giới theo. Thì coi như một chúng sanh giữ giới, nguyện trọn đời giữ giới sát sanh, không sát hại sinh vật nữa, thì người đó không phải là phóng sanh có một cái mạng đó trong một đợt đó mà thôi, mà có thể phóng sanh luôn suốt cả đời suốt cả kiếp. Có thể đời này và có những đời sau. Mà không phải chỉ có một chúng sanh đó, tức là một người tu đó, không sát sanh mà họ còn khuyến khích nếu được hai người, được ba người, bốn năm người. Thì chúng ta có thể nói phóng sanh không phải là một lần giống như bây giờ qúi vị đã làm, mà có thể phóng sanh nhiều lần, có thể phóng sanh trọn đời trọn kiếp. Hay nói một cách khác là chúng ta phóng sanh luôn chứ không phải là mỗi đời mỗi kiếp như chúng ta làm phóng sanh giống như bây giờ.

Đó là lý do chánh, Đức Phật không khuyến khích phóng sanh theo nghĩa trở thành một pháp hành, mà phóng sanh đó thuộc về một thiện pháp. Là thiện pháp thì tùy duyên lúc nào chúng ta làm được thì làm, chứ không phải là pháp hành để tu tập. Pháp hành để tu tập chính là pháp hành giữ giới, đó là phước báu rất lớn. Bởi vì nếu phóng sanh, có thể nói một tháng chúng ta phóng sanh có một ngày, nhưng giữ giới thì chúng ta giữ giới luôn cả một tháng, thậm chí có thể cả trọn đời.

Nếu so sánh cả hai loại phước này, phước phóng sanh chúng ta chỉ làm được trong một lúc đó mà thôi, phước đó rất là nhỏ bé, chỉ có một tiếng đồng hồ, hay nửa tiếng, hay trong giây phút nào chúng ta quyết định để thực hiện việc phóng sanh đó. Nhưng việc giữ giới khi chúng ta phát nguyện rồi, phước giữ giới đó không có nghĩa là một lần đó chúng ta có, mà có thể là nguyện giữ giới trong trọn ngày đó chúng ta sẽ được hưởng phước giữ giới trọn ngày đó. Và không phải chỉ trọn ngày đó mà có thể chúng ta đã nguyện giữ giới như năm giới, nguyện trọn đời, là phước chúng ta sẽ có trọn đời. Trừ ra khi nào bị đứt thì khi đó chúng ta thọ giới lại. Nói chung thì phước giới chúng ta sẽ có một cách liên tục cả ngày cả tháng cả năm cả đời cả kiếp, thì phước báu này nếu so sánh giữa hai loại phước thì phước phóng sanh này chỉ tích tắc mà thôi.

Nếu so sánh về kết quả về sau lại khác nữa.

Người làm phước phóng sanh chưa chắc chết được sanh lên thiên đàng, chưa chắc chết mà vượt khỏi địa ngục, bởi phước đó chỉ làm trong một giây khắc ngắn ngủi, nó không đủ sức hộ trì giữ được cho người này còn tái sanh lại làm người, hay được phước sanh thiên, hay giữ người đó không tái sanh sa đoạ địa ngục.

Phước giữ giới ngăn được bốn đường ác đạo, có thể ngăn chặn người ta không đọa địa ngục, ngạ qủi, súc sanh, atula, mà có khả năng giúp cho người ta được sanh về thiên giới. Do đó cổ đức người ta có nói câu "Ngũ giới bất tri nhân thiên lộ triệt", tức là năm giới mà không giữ thì đường người đường trời bị đóng rồi, mà đường người đường trời bị đóng tức là chúng ta phạm giới thì đương nhiên bốn đường ác đạo, đường địa ngục, đường ngã quỉ đường súc sanh, atula chúng ta sẽ bị đoạ vào.

Do đó phước phóng sanh có thể kể huộc loại bố thí, thuộc về bố thí mạng sống. Phước phóng sanh này không phải tự nhiên làm được, chúng ta phải bỏ tiền bỏ của mua các loài thú rồi thả chúng ra, phước này muốn làm thì đòi hỏi phải có tiền của, chúng ta không thể nào có đủ tiền mua hết tất cả chúng sanh trên thế gian để phóng sanh để chúng sanh được toàn mạng. Khi được phóng sanh rồi thì có thể chúng sanh đó còn nghiệp báo của cái sát sanh của nó phải trả, có thể vừa phóng sanh nó ra rồi có những loài thú còn cái nghiệp phải trả thì chúng sanh khác nhảy vô sẽ bắt nó giam hãm, có thể giết hại nó, hay có thể bán tiếp tục.

Do đó một số người trí thức ở đời thấy điểm nàysẽ phê phán: phóng sanh là tiếp tay cho người làm việc ác bất thiện. Hỏi tại sao người ta nói vậy? Bởi vì người ta nói mình mua chim rồi thả, thì nhóm nuôi chim sẽ đi bắt lại và bán lại cho người ta. Như vậy có khác nào chúng ta phóng sanh càng nhiều là chúng ta khuyến khích người đó tiếp tục bắt cho nhiều chúng sanh để bán. Bởi vì có CẦU thì đương nhiên phải có CUNG. Và chính vì đó mà thấy có nhiều điểm bất thiện, những điểm không tốt trong việc mua bán chúng sanh để phóng sanh như thế này, thành ra một số bậc trí thức phê phán chỉ trích, khuyên không nên mua theo kiểu dặn hay đặt hàng, và nhất là làm thành một cái lễ thì coi như điều đó chúng ta khuyến khích nhau, và người ta tham gia vào nghiệp bắt giữ những chúng sanh để đem bán cho chúng ta. Ở Việt Nam, chúng ta nghe có một số người nuôi thú chuyên nghiệp, chẳng hạn như loài chim chóc chẳng hạn, người ta thả nó ra rồi nó bay trở về tổ của người nuôi, và người ta bắt đem bán lại. Điều này không biết quí vị có từng nghe không? ở bên Thái Lan chúng tôi cũng nghe, về những người nuôi loài chim, họ dùng một loại ma túy pha loãng cho uống hàng ngày quen, thành ra nó có bay đi đâu cũng trở về chỗ đó, khi người ta thả rồi nó bay đã rồi cũng trở về chỗ đó ăn, đó là chim. Còn loài cá cũng vậy, họ cho ăn cũng trộn với ma túy, thả xuống sông vùng chuyên môn phóng sanh, hễ thả xuống chỗ đó nó bơi một hồi rồi cũng trở lại chỗ đó, giống như người ta nuôi là chúng sanh để cho phóng sanh. Thành ra điều này người ta thấy người ta phê phán cũng có lý.

Nếu chúng ta muốn thực hiện phóng sanh thì lúc nào rảnh rỗi, lúc năm khi mười hoạ, chúng ta thực hành, thì điều đó có lẽ nó không dính dáng gì tới điều này, nhưng mà tổ chức và khuyến khích theo nghĩa trở thành một phong trào thì coi chừng nó sẽ có cái tác hại, người ta lên tiếng phê phán. Qúi vị lên mạng internet xem, không phải ai cũng tán đồng việc phóng sanh của chúng ta, mà người ta còn phê phán điều đó. Mà cách phóng sanh này người ta phê phán, nếu nói rằng Đức Phật dạy thì coi chừng người ta phê phán Đức Phật là sai, Đức Phật không có dạy điều này, Đức Phật dạy chúng ta hành thiện, làm những thiện sự, chứ không dạy chúng ta phóng sanh. Đức Phật dạy chúng ta giữ giới là cấm sát sanh cho bản thân chúng ta, nếu chúng ta giữ được điều đó thì có thể nói là chúng ta đã phóng sanh trọn đời cho tất cả chúng sanh này, chúng ta không còn giết hại nó nữa. Hai nữa là chúng ta khuyến khích thành phong trào giữ giới, một người, hai người, ba người, bốn người năm người, thì việc này không có bậc trí thức nào phê phán chúng ta cả, mà không phê phán chúng ta tức là không phê phán về Đức Phật.

Do đó nếu so sánh về phước thì chúng ta thấy về phước phóng sanh này sẽ được phước gì?

Trước hết động cơ phóng sanh là do lòng từ bi, thì chúng ta kể đó là phước đức. Phước từ bi tội nghiệp thương chúng sanh, do phước này nhân này, đời sau chúng ta sanh ra nếu bị giam hãm bị cầm tù thì có những người thương và tội nghiệp chúng ta. Chúng ta thả chúng sanh này thì nhân nào quả nấy, chúng ta giả xử sanh làm loài thú thì nhân nào quả nấy, chúng ta chỉ hưởng được quả sẽ có những người giải thoát chúng ta khỏi sự giam cầm, khỏi tù tội, đó là chúng ta nói về nhân quả theo thông thường. Chúng ta chỉ thấy được có tới đây thôi, đó là điểm chính.

Nhưng phước giữ giới là khác, phước giữ giới này nếu chúng ta phát triển thấp thì cũng là phước từ bi, từ bi này khác. Từ bi kia là tội nghiệp chúng sanh bị giam hãm cầm tù. Nhưng từ bi này là tội nghiệp chúng sanh bị sát hại, bị mình giết hại trong hiện tại và bị người khác giết hại trong hiện tại ,hoặc là kể cả tương lai, thành ra mình nguyện như thế này là có thể mình chấm dứt sự sát sanh trong tương lai cũng dựa trên lòng từ bi, giữ giới cũng là lòng từ bi. Nó khác nhau ở chỗ là phóng sanh chúng ta phải phải tiền dùng tài sản của mới thực hiện được phước đó. Còn đối với phước giữ giới thì chúng ta không cần tốn tiền tốn bạc chúng ta giữ được điều này, đó là nói theo thông thường giữ giới, phước giữ giới. So sánh giữa hai cái phước về sanh thiên, phước phóng sanh thì năm khi mười hoạ lúc nào phước mà tới bất chợt bởi chúng ta làm mong manh trong cả một đời sống chúng ta không biết làm được bao nhiêu lần, thành ra phước này bấp bênh không đủ sức giải quyết trong lúc chúng ta cận tử hấp hối lâm chung để nó có thể chận bốn đường ác đạo hay có thể giúp chúng ta sanh lên thiên giới. Do đó phước này nói một cách khác hơn, đôi khi chúng ta có phước này nhưng phước này không đủ sức để chúng ta sanh lại làm người hay không đủ sức sanh làm chư thiên, mà chúng ta bị một nghiệp ác khác, phước này không đủ sức chận nghiệp ác thì nghiệp ác kéo chúng ta sanh vào cõi thú chẳng hạn, thì chết sanh làm cõi thú chúng ta trả nghiệp ác đó, nhưng nếu chúng ta bị chúng sanh bắt bớ giam hãm cầm tù ăn thịt hay hãm hại, thì lúc bấy giờ phước phóng sanh mới giúp cho chúng ta, thì người ta mới thả chúng ta giống như chúng ta đang thả chúng sanh vậy thôi. Nhưng riêng phước giữ giới thì khác, khi chúng ta giữ giới như thế này thì phải nói là nó đủ sức chận ngang tất cả những nghiệp ác nào, tất cả những nghiệp bất thiện nào mà nó có thể khiến chúng ta đoạ bốn đường ác đạo, cái phước giữ giới mà nó mạnh như thế đó, phước giữ giới còn giúp cho chúng ta có thể sanh được về các cõi trời.

Nói đặc biệt đây là chúng ta nói giữ giới theo nghĩa giữ giới để kiếm phước, chứ chưa phải giữ giới theo nghĩa đoạn trừ phiền não, giữ giới cao cấp hơn. Giữ giới theo cấp đoạn trừ phiền não chúng ta có thể đắc được thiền định. Trước hết nói về công năng đắc thiền định, thiền định thì chuyện này dễ dàng, người ta nói "giới năng sanh định, định năng sanh tuệ." Nhưng đặc biệt của giới nhà Phật không phải chữ năng đắc định không đâu, giữ giới của nhà Phật có khả năng đoạn trừ phiền não và có thể đắc thành quả thánh Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, Alahán. Do đó Đức Phật mới khuyến khích chúng ta giữ giới, chẳng hạn giới không sát sanh chẳng hạn, bởi chúng ta giữ giới không phải chỉ một giới không sát sanh, chúng ta còn nhiều giới khác. Nhưng ở đây chúng ta muốn nói là so sánh giữa giới không sát sanh và sự phóng sanh, hai cái khác nhau. Và hai cái phước trổ quả báo ra sao kết quả như thế nào, thì chúng ta so sánh thấy quả báo của giữ giới này trong khi giữ giới chỉ kể một giới không sát sanh mà phước thù thắng to lớn nhiều hơn đặc biệt hơn tất cả chúng sanh.

Và đây là lý do Đức Phật không chủ trương không thuyết giảng một đề tài một pháp nào khuyến khích làm việc phóng sanh, nhưng điều đó không có nghĩa là Đức Phật cấm làm. Đức Phật không cấm nhưng không khuyến khích. Tức là Đức Phật kể cái này là loại hành thiện, thì hành thiện này là tùy theo chúng ta muốn làm thì làm còn không làm thì điều đó không quan trọng. Không phải là chúng ta người tu hành mà không phóng sanh là chúng ta không đầy đủ phước, không đầy đủ đức để tu hành. Nói như vậy là sai, là không đúng. Bởi vì so sánh giữa hai cái, người phóng sanh và người giữ giới thì người giữ giới cao thượng, người giữ giới cả ngày cả tháng cả năm cả đời cả kiếp còn cái này phóng sanh thì lâu lâu năm mười bữa nửa tháng hay ba bốn tháng mới làm được một lần, nó không phải là cái hạnh, không phải là nguyện, không phải là pháp để tu tập, thì đó là lý do mà chúng ta thấy hai cái khác nhau. Thì trong hai cái khác nhau chúng ta đã thấy phước báu rõ ràng là phước giữ giới cao thượng qúi giá hơn. Chúng ta giữ được bản thân và khuyến khích trở thành một phong trào giữ giới thì quả thật phước báu lớn. Chúng ta đã tự mình giác ngộ và khuyến khích cho người khác giác ngộ theo trong con đường tự giác giác tha giác hành viên mãn.

Còn nếu so sánh theo một nghĩa nữa của phóng sanh, thường thường người ta phóng sanh để cầu phước. Thì nếu nói cầu phước cũng sai. Vì nếu cầu phước thì cầu phước gì? Nếu người ta cầu phước từ bi tội nghiệp chúng sanh bị giam hãm cầm tù, thì nghĩa là nếu tôi sau này có bị giam hãm cầm tù thì xin người ta thả ra, thì thấy rõ ràng nếu làm phước với mục đích này thấy uổng công mất thì giờ, chưa gì hết mà chúng ta sợ bị đoạ bị bắt bị giam cầm tù. Bởi làm sao vậy? Người phóng sanh này họ không có pháp tu, họ không có được giữ giới không có phước giữ giới. Thì đương nhiên giống như người đời không biết làm được phước gì thì thôi làm đại phước phóng sanh cho có phước này hộ trì cho chút định. Thì nếu so sánh giữa hai phước, thì phước phóng sanh người ta chỉ hiểu theo nghĩa là thả chúng sanh để nữa chúng sanh giải thoát thôi, còn nếu mà trưởng dưỡng về lòng từ bi thì trưởng dưỡng lòng từ bi này thì có lúc đó thôi. Còn giữ giới, đã giữ giới liên tục rồi thì phước từ bi chúng ta cũng là phước liên tục, tâm từ bi chúng ta liên tục.

Nếu tu hạnh từ bi đúng hạnh từ bi thì lại khác. Người ta tu không phải là lâu năm khi mười hoạ hay nửa tháng nào đó người ta tu tập về hạnh từ bi, thì như vậy giữ giới sát sanh này nhiều khi người ta lại nghĩ là phóng sanh để cầu phước cho gia đình mạnh khỏe và an vui, thì chẳng qua chúng ta suy nghĩ là phước sẽ đem lại cho chúng ta những điều đó thôi, chứ chưa phải là cái chính.

Nếu mà gọi là làm phước theo nghĩa cầu lợi cầu tài có phước báu nhiều trong đời sống để giàu sang, thì phước đó không phải là phước phóng sanh, mà phước muốn cầu tài giàu sang thì ngoài vấn đề cúng dường cho Tam Bảo hay cúng dường cho Đức Phật hoặc cúng dường cho Chư Tăng thì phước này mới đúng là người cầu phước. Giả xử qúi vị muốn cầu phước để phước trổ hiện tại được giàu sang, được sung sướng, được có tiền, có của, thì không có phước nào ngoài phước cúng dường cho Tam Bảo, mà Tam Bảo cụ thể nói về Chư Tăng hiện tại, bởi việc cúng dường cho Chư Tăng hiện tại là cúng dường bằng đồ ăn, thức uống, bằng tứ sự đến cho Chư Đại Tăng, qúi vị cúng dường đúng pháp thì cầu phước có thể trổ cho qúi vị sanh ngay trong đời hiện tại, có thể trổ cho qúi vị giàu sang sung sướng có tiền có của, đạt địa vị. Ngày xưa người ta làm phước thì phải nói người ta được giàu sang thành những vị trưởng giả, giống như bây giờ trở thành những người triệu phú, trở thành những người tỷ phú, và thậm chí người ta còn đạt được những địa vị quan quyền, thậm chí địa vị vua chúa cũng vẫn còn đạt được. Đó là phước báu bố thí để cầu phước. Nếu chúng ta gọi là cầu phước thì cụ thể hơn là làm phước cúng dường đến Chư Tăng.

Và nếu so sánh giữa hai loại phước, phước đến do phóng sanh là phước từ bi tế độ, tức là chúng ta thương hại chúng ta giúp cũng giống như làm phước cho người nghèo khổ thì hai cái phước Chư Tăng này thì chúng ta không thể nào nói chúng ta làm phước bằng từ bi bằng cái nghèo khổ được bởi Chư Tăng không phải là đối tượng thiếu phước hay đối tượng nghèo khổ để chúng ta từ bi thương hại chúng ta cho. Chư Tăng là bậc tu hành có ân đức lớn đạo đức cao thì chúng ta cúng dường đến mục đích là cúng dường cầu phước, thì chúng ta cúng dường này bằng sự tôn kính, cúng dường này cũng giống như cúng dường cha mẹ là bậc đáng tôn đáng kính. Vậy chúng ta cúng dường bằng cách như thế này thì phước tôn kính, phước quả báu cúng dường đưa đến chúng ta sẽ được quả báu tôn kính. Thì chính quả báu tôn kính này làm đúng, sở dĩ ta được phước làm vua được làm trưởng giả là nhờ ta tôn kính Chư Tăng, tôn kính đến đâu thì phước người ta được tôn kính đến đó, mà chúng ta tôn kính Chư Tăng nhất hạng thì đương nhiên chúng ta được mọi người tôn kính nhất hạng, mọi người tôn kính nhất hạng lại là chúng ta đã đứng trong địa vị của vua chúa rồi. Đó là phước báu tôn kính đến Chư Tăng đem lại bằng sự lễ vật bằng sự cúng dường. Khi chúng ta xuất tiền của để cúng dường cầu phước thì nếu cầu phước bằng cách cúng dường Chư Tăng thì chúng ta mới cầu phước giàu sang có tiền có của đem lại chúng ta. Còn chúng ta bố thí bằng cách mua chúng sanh để phóng sanh thì chúng ta muốn cầu phước này như muối bỏ sông bỏ biển chứ đừng hi vọng cầu phước nào được ngay trong hiện tại, bởi phước này không đem lại, bởi chúng sanh này nếu nói theo Đức Phật nghĩa là cho con thú một trăm lần không bằng cho người ác một lần, mà cho con thú nghĩa là phải nói rằng bất quá chúng ta chỉ hưởng được có một trăm đời trăm kiếp mà thôi, còn khi cúng dường mà cho người nghèo khổ những người lỡ đường người bịnh hoạn mà chúng ta từ bi tội nghiệp người ta cơ nhỡ hay thiếu thốn bất hạnh gì đó thì chúng ta cúng dường hay là bố thí cho họ thì phước chúng ta vẫn còn hơn con thú cả chục lần. Từ đó mà chúng ta so sánh đến cái hạng đắc thiền rồi hướng đến Tu Đà Hườn Tu Đà Hàm A Na Hàm, A La Hán, từ từ tới Chư Tăng phước báu cúng dường Chư Tăng là phước báu tối thượng để chúng ta cầu phước được.

Do đó người nào nói rằng phóng sanh để cầu phước được có tài sản có tiền của có được may mắn có gì đó, thì chẳng qua người đó chủ trương về phóng sanh khuyến khích người ta nói vậy thôi, còn đúng hay sai thì không ai kiểm tra không ai biết. Còn nếu mà nói Đức Phật thuyết thì Đức Phật không thuyết. Thành ra chúng ta không thể nào tin những lời người ta nói phóng sanh để được giàu sang, phóng sanh được sung sướng, cái đó chẳng qua là lời của mấy vị tổ nói mà thôi chứ không phải là Đức Phật nói.

Đó là điểm quan trọng nhất để chúng ta so sánh về từng loại phước, phóng sanh phước như thế nào, phước bố thí cúng dường như thế nào. Nếu giả xử như chúng ta muốn trưởng dưỡng lòng từ bi thì chúng ta phóng sanh cũng được, chúng ta làm phước điều đó cũng được, nhưng nếu chúng ta cầu phước thì chuyện phóng sanh này không phải là chuyện cầu phước của chúng ta, mà chúng ta cúng dường Chư Tăng là chuyện cầu phước, cúng dường Chư Tăng là chúng ta được phước cúng dường mà được thêm phước về tôn kính đem theo. Còn nếu chúng ta gọi là cầu phước theo nghĩa để chặn bốn đường ác đạo, hay để được sanh thiên, hay được phước đặc biệt quí báu về đời sau, thì phải nói nhờ phước của giữ giới đem cho chúng ta tất cả. Qúí vị chỉ phóng sanh bình thường thôi nghĩa là nghiệp ác chưa từ bỏ, cái giới qúi vị không giữ, qúi vị phạm đủ cách thì đời sau qúi vị sanh ra có thể được là mình khi nào bị cầm tù thì người ta sẽ giải thoát cho mình, còn nếu người ta không cầm tù thì phước đó không sanh không còn trổ cho chúng ta, và khi chúng ta trong lúc bị cầm tù đôi khi không phải chúng ta được may mắn có tay chân mắt mũi đầy đủ ngũ quan, bởi vì nếu chúng ta không giữ giới mà giới khiếm khuyết nó có thể sanh chúng ta đui mù tàn tật câm điếc v.v.... và chúng ta cũng sẽ bị giam hãm cũng giống như tất cả các chúng sanh khác, nhưng phước giữ giới thì sẽ đưa ngũ quan hoàn hảo cho chúng ta, chúng ta sẽ có tay chân mắt mũi không khuyến tật bộ phận nào hết, nó đem đến cho chúng ta một thân thể đầy đủ của một chúng sanh, nhất là thân thể của loài người chẳng hạn, và nó giúp cho chúng ta có thêm về trí tuệ để chúng ta được giải thóat. Còn phước phóng sanh thì bất quá phước đó là phước thông thường để cứu mạng của một chúng sanh để nuôi nấng lòng từ bi theo nghĩa người ta không biết có từ bi thôi. Chứ Phật Giáo là từ bi giữ giới, từ bi đó cao thượng hơn qúi giá hơn.

Tuy nhiên hôm nay qúi vị làm phước phóng sanh thì chúng tôi cũng chỉ qúi vị làm cách này nữa, bây giờ mình đã làm rồi hay lỡ làm rồi hay mình đã thường làm rồi, thì thôi cũng được, bây giờ qúi vị làm phước xong qúi vị có thể nguyện như thế này, chẳng qua nó tạo duyên cho chúng ta thôi thì chúng ta nghĩ là nhờ làm phước mà phóng sanh cho chúng sanh này được thoát khỏi giam hãm thoát khỏi tù đày, thì thôi do nhờ phước báu này cho tôi nguyện cho tôi giải thoát được ngục tù tham ngục, tù sân ngục, tù si, tức là giải thoát khỏi tham sân si. Thì nếu nguyện như thế đó thì từ phước vật này nó sẽ chuyển qua thành phước trí cho qúi vị. Hay phần phước đức này chuyển qua phước trí thì nó trợ duyên phước này sẽ có một tác dụng khác không phải tác dụng phóng sanh, mà nó có tác dụng nhờ phước này đời sau chúng ta có thể giải thoát được tham sân si. Chúng sanh bây giờ bị tham sân si giam hãm, chúng ta là người đang bị nô lệ của tham sân si, ở trong ngục tù của tham sân si, nghĩa là quản lý hay hành hạ chúng ta hàng ngày, chúng ta chưa được giải thoát, chúng ta bị chịu nhiều đau khổ giống như một chúng sanh ở trong ngục tù chịu đau khổ. Như vậy thì chúng ta tác ý khéo qua thì chúng ta vẫn được phước nguyện giải thoát, nhưng phước này chẳng qua là phước phụ thuộc, hay phước trợ duyên. Giống như ngày xưa trong kinh thấy câu chuyện của một ông sa di đi đổ rác, rồi một ông Tỳ Khưu quét rác đổ rác, thì phước thông thường thôi, nhưng người ta cũng biết khéo chuyển phước này, "do phước này đời sau cho tôi có nhiều trí tuệ hay có thể tôi tu hành tôi giải thoát" v.v.... Thì người ta chuyển phước qua thành phước để giải thoát thì cũng được. Trong kinh còn kể một có một ông đi quét lá bồ đề bình thường thôi, ông nhờ quét lá này ông mới dùng tác dụng quét đó ông nguyện cho sau này ông có được trí tuệ giống như cây trổi quét sạch tham sân si này. Người ta khéo chuyển những phước vật đi qua thì người ta cũng có được lợi ích, mà phước này chỉ có trong Phật giáo dạy cho chúng ta mới được, còn nếu không có thì giống như người đời làm phước phóng sanh chẳng qua là phước thông thường của người đời chỉ có phước nhân quả tương quan trả lại cho thôi.

Thời pháp đến đây cũng vừa phải lẽ trước khi dứt lời chúng tôi xin hồi hướng đến tất cả Chư Thiên, nhất là Chư Thiên hộ pháp Đức Trời Đế Thích Tứ Đại Thiên Vương .....