Tuesday, April 14, 2026

078 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 28 tháng 10, 2023

 078 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 28 tháng 10, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 078 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

3 nhân thiện, 3 nhân bất thiện, 3 nhân vô ký cộng lại là 6 nhân nhưng thật ra là 9 nhân, thêm 3 giống. 

Giống Thiện là Vô Tham và Vô Sân.

Giống Bất Thiện Tham, Sân , Si.

Giống Vô Ký là Vô Tham, Vô Sân, Vô Si.

Tức là giống Thiện và giống Vô Ký nó giống nhau, nhưng Vô Ký dành cho bậc Alahan. Sư không dùng từ ngữ Alahan nữa, từ Alahan là âm của từ Arahant, Sư dùng từ Vô Sinh.

Tâm Vô Ký là tâm Duy Tác nó không để lại quả

Tâm Bất Thiện làm duyên cho Bất Thiện theo nhân duyên không có người Vô Sinh (Arahant) tại vì còn Tâm Bất Thiện, chỉ có tới 4 phàm 3 quả Thánh Hữu Học hay là 7 Thánh.

Khi pháp Vô Ký làm duyên cho pháp Vô Ký thì mới có được bậc Arahant bốn phàm bốn quả.

Pháp câu thứ 7 có câu phụ nữa, câu phụ nó có những câu ở trong là mình chia ra bằng chú giải thôi, chứ thật ra Đức Phật nói:

 Kusalo dhammo kusalassa dhammassa hetupaccayena paccayo.- Pháp thiện làm duyên cho pháp thiện bằng nhân duyên.

Kusalo dhammo abyākatassa dhammassa hetupaccayena paccayo - Pháp thiện trợ pháp vô ký bằng Nhân duyên.

 Akusalo dhammo akusalassa dhammassa hetupaccayena paccayo - Pháp bất thiện trợ pháp bất thiện bằng Nhân duyên.

Đức Phật Ngài chỉ nói như vậy thôi, Ngài Xá Lợi Phất cũng nói như vậy, đối với những bậc Arahant  sài tâm Duy Tác của Ngài tâm đó thuộc giống Vô Ký (Abyākata)  có 2 là Dị Thục Quả và Duy Tác, các Ngài dùng Tâm Duy Tác  là không để lại quả.

Các phàm các Thánh, Sơ, Nhị Tam quả tức là Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai thì các Ngài còn tạo tác. 

Tạo tác của các Ngài là gieo các chủng tử giải thoát, chứ Ngài không tạo tác thiện hay bất thiện nữa. Các quí Ngài từ Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai còn tạo tác là các Ngài còn Tâm Thiện và Tâm Dị Thục Quả vipāka phala là Ngài tạo nhân chủng tử giải thoát, tạo tác những pháp của Bát Chánh Đạo để diệt kiết sử, từ hạ phần kiết sử lên tới thượng phần kiết sử, 3 giai đoạn đó là các Ngài làm.

Các bậc Arahant  không còn học, bậc vô học Asekha, Sekha là hữu học, là còn phải học của bậc Chánh Đẳng Giác, Bậc Arahant không còn phải học nữa. Những cái gì mà Đức Phật Ngài dạy để họ đắc đạo quả, thì những bậc đang học gọi là Asekha.

 Những gì của Tam Tạng; Chú Giải aṭṭhakathā , phụ Chú Giải Anutīka aṭṭhakathā là Sư học rồi Sư không phải học nữa. Nhưng khoa học về tia laser, máy bay, tàu lặn, Sư không có học mà Sư phải hỏi, cái đó không phải là học.

Thí dụ câu hỏi của Ngài Sariputa hỏi Đức Phật : Trong các hàng Chư Phật, Phật nào là thọ mạng của Pháp Bảo lâu dài. Thì câu đó không phải là học, mà Ngài hỏi (dhammakathā), đó mới gọi là vô học, còn không người ta sẽ hiểu là bậc vô học vẫn còn là đi học thì là mâu thuẫn. 

Tất cả ngoài dhammakathā ra thì các Ngài không có hỏi, tại vì Ngài Sariputta là người đa văn quảng kiến, chuyện hiệp thế, chuyện siêu thế, chuyện trong đời, chuyện ngoài đời, chuyện ngoài vùng Tam Giới, rồi chuyện quá khứ, vị lai, hiện tại, các Ngài biết hết, các Ngài không cần phải học, biết thì biết không biết thì thôi không cần phải học, mà chỉ hỏi thôi, cũng như Ngài Sariputa hỏi câu hỏi của mình với Đức Phật.

Cũng như sau khi Đức Phật Ngài hiện song thông đi trên bầu trời để hàng phục thân bằng quyến thuộc của Ngài. Ngài làm con đường bằng bảo ngọc ở trên không gian rồi Ngài đi lên đi xuống, rồi Ngài phún lửa với nước từ lỗ chân lông của Ngài, để làm cho hoàng thân quốc thích của Ngài khiếp sợ mà diệt cái ngã, con cháu, anh chị em Ngài đã không đảnh lễ Ngài.

Trong bài kinh Sám Hối Phật Bảo : 

Con đem hết lòng thành kính cúi đầu làm lễ vi trần dưới chân Đức Phật

Uttamaṅgena vandehaṃ

Câu đó là hoàng thân quốc thích đảnh lễ Đức Phật.

Tại vì Ngài làm bảo thạch song thông trên không gian để Ngài đi, thì cái đó Ngài Sariputa không biết về cái đó vì dhammakathā không có nói, dhammakathā chỉ nói về diệt kiết sử diệt lậu hoặc, triền cái, chỉ con đường giải thoát, như Bát Chánh Đạo

(dhammakathā là thuyết pháp; thảo luận về bản chất của sự vật [dhamma + kathā] )

Thì Ngài Xá Lợi Phất cùng 500 đệ tử hỏi về một sự việc gì đó là do nhân nào, duyên nào mà có thì Đức Phật mới kể ra hệ thống Chư Phật mới có bộ Buddhavamsa Biên Niên Sử của Chư Phật, chứ các Ngài không cần học.

Khổ đau thực tướng, nhưng có người không có khổ đau, tâm người ta sáng suốt, cái này chỉ là sắc đang có pháp đối nghịch và đang hoại diệt nhau, nó đang sụp đổ thì người ta dùng pháp Vô Ngã.

Mình giải thích về pháp thiền thì mình không có được quyền nói là pháp khổ đau, Đức Phật không có nói, và các vị Thiền Sư Dhammacariya không có nói, các Ngài chỉ đưa ra pháp thôi mình tự nhận xét, tự mình nói. Người ta nhìn đó là Vô Ngã, người ta nhìn đó là khổ đau, người ta nhìn đó là Vô Thường.

Nhưng lúc đau nhói về thân  là lúc đó sắc đang hiện bày nếu người học Pháp Siêu Lý Paramattha Dhamma thì họ sẽ thấy là sắc đang hiện bày mà sắc này là Sắc Y Sinh  (Upàdarùpa), nó nương nhờ ở sắc tứ đại mahābhūta mà hiện bày sắc này, mà sắc tứ đại này; nước đi với lửa không bao giờ có mà nó chung trong một khối thì không thể nào tồn tại, từng sát na đại, từng sát na tiểu của tâm thức.

Một sát na tâm có sát na đại, có sát na tiểu. 

Thì sát na đại một lộ trình tâm có 17 thì sát na tiểu x 3  = thành 51.

Thì giai đoạn từ sát na 1 tới sát na 17 . 

Thì sát na 1 có 3 sát na tiểu là sát na Sinh

Trong sát na 17 có 3 sát na tiểu là sát na Diệt.

Còn ở giữa 49 sát na là sát na Trụ.

để hình 078 11.24



nếu tính được cái đó thì ra được phần sinh diệt theo từng sát na, chứ còn nếu nói là nói theo chế định thôi, tâm này tâm kia là theo chế định thôi. Thì làm sao mà bậc trí thấy được lúc sinh, chỉ nhìn thấy được diệt thôi. Trong lúc diệt của nó, 

khi Sư nắm bắt trong cái diệt của nó có hiện bày ra Tam Tướng (Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã). 

để hinh 078 - 12.31




Thì trong cái Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, cái tuệ nào trong tam tuệ (Văn, Tư, Tu) mà biết được Tuệ Tư chứ không phải Tuệ Văn, Tuệ Tư biết thì nó bỏ vô Tuệ Văn nó lọc lại và nó trả lời cho Tuệ Tu đó là nó chứng nghiệm.

Tuệ Tư, tư duy được, rồi nó mới trắc nghiệm lại Tuệ Văn, kiến văn của mình và nó trả lời cho Tuệ Tu, là mình có một trải nghiệm.

Nếu như mình không có  Tuệ Tư mà bằng trí tư duy, còn Tuệ Tư mà mình theo kiến thức mình nói nó sẽ rớt vô tà tư duy thì nó không ra được Tuệ Văn không ra được Tuệ Tu, mình không có kiến giải, mình phải đi chính xác như vậy nó mới ra.

Mình ngồi thiền thì mỗi người có một nhận xét của mình, người thì bị đau, người bị tê nhức, thì đa phần nói là khổ đau không ai nói vô thường, không ai nói vô ngã, nói vậy là phổ thông tướng thôi, tính của phổ thông tướng này là khổ đau, hay là Vô Thường, hay là Vô Ngã, mình không được nói chủ quan, mình nói khách quan thì sẽ có hướng đi của mình.

Người mà sống với pháp Vô Ngã trong khi thực hành đi ra đời sống bình thường thì họ không còn dính mắc cái gì cái pháp nào trong cuộc đời của họ, vô ngã, khổ đau còn đọng lại, nó còn cái ngã trong đó, cho dù nó là cái ngã cái khổ đau thực tướng. Khi nói "đau lắm, nhức lắm" là nó có.  

Còn Vô Ngã hợp rồi tan, nó rã rồi không có cái gì đọng lại, như cái bong bóng bị bể rồi.

Do đó, mỗi một cái nó đi theo Nghiệp Chủ Kammassakatā và mình sẽ có kiến giải chứ chưa nói đến kiến chấp, kiến chấp là mình có thủ trong đó nó sẽ rớt trong Liên Quan Tương Sinh, upādāna - thủ sinh ra.


Quyển: Những Pháp Thoại của Đại Trưởng lão Paṇḍita

 Khi bị đau nhức,  trang 536

 Ngài Paṇḍita nói Dukkhã nupassanā   Ñāṇa Khổ Đau Tùy Quán trí,

Dukkhã nupassanä   Ñāṇa Khổ Đau Tùy Quán Trí, tuệ giác lý giải nỗi đông thống, cũng phát sinh tại khoảnh khắc khi người ta đang trầm tư việc diệt vong các hiện tượng, thế nhưng nó có một vị đạo khác biệt với Vô Thường Tùy Quán Trí Aniccanupassanā Ñāṇa.  Người ta một cách đột nhiên đã bị tóm lấy bởi một sự chứng tri cực hảo rằng không có đối tượng nào trong số này là đáng tin cậy.  Không có sự che chở bảo hộ trong chúng, chúng là những điều đáng sợ.

 Vả lại điều trọng yếu cần tuệ tri rằng sự lý giải về nỗi đông thống mà chúng ta hoạch đắc thông qua việc đọc những kinh sách, hoặc thông qua chính sự suy lý và sư thâm tư của chúng ta, không cấu thành điều chận thật.  Khổ Đau Tùy Quán Trí chỉ phát sinh khi tâm thực hiện diện với sự ý thức trung thực, đang quan chú sự khởi sinh và sự diệt vong của các hiện tượng, và đang tuệ tri rằng sự không thường tồn của chúng là đảm ưu (lo rầu, phiền muộn) đáng sợ, bất khả vọng cầu và bất hảo.

Sự chân chứng tri rằng nỗi đông thống cố hữu trong tất cả các hiện tượng có thể hết sức cường hữu lực.  Nó tiêu trừ quan điểm đã lừa phỉnh rằng những điều này khả duyệt ý.  Khi một sự ảo tưởng như vậy tan biến, lòng khát vọng không thể nào khởi sinh.

--------------------------------------

 rồi Ngài qua trang 537  và 538 thì Ngài mới nói tới Vô Ngã tướng Anattalakkhaṇa.

ANATTA: THE ABSENCE OF SELF 

VÔ NGÃ: SỰ KHUYẾT TỊCH VỀ TỰ NGà

Bây giờ một cách tự động, người ta ý thức Vô Ngã, rằng không có ai ở đằng sau các quá trình này.  Từng mỗi khoảnh khắc, các hiện tượng phát sinh, đây là một quá trình tự nhiên vốn người ta đã không nhận xuất được.  Trí tuệ này đang hữu quan với Sự Khuyết Tịch Tự Ngã trong mọi sự việc, Vô Ngã Tùy Quán Trí Anattānupassanā Ñāṇa, cũng đã được dựa trên hai phương diện trước, tự thân nó Vô Ngã và Vô Ngã Thực Tướng Anattalakkhaṇa.

Vô Ngã đề cập đến tất cả các hiện tượng không thường tồn vốn sở hữu bản chất không tự ngã - nói cách khác, từng mọi yếu tố riêng lẽ của tâm thức và vật chất.  Sự khác biệt duy nhất giữa Vô ThườngKhổ Đau đó là một phương diện khác đang được cường điệu.

Đặc tướng Vô Ngã, Vô Ngã Thực Tướng, khi đang tri kiến rằng một đối tượng không khởi sinh hoặc diệt vong căn cứ vào sở nguyện vọng của con người.  Tất cả các hiện tượng tinh thần và thể chất phát sinh trong chúng ta chuyển thuấn tức thệ (qua đi thoáng chốc) vởi cách thức phù hợp riêng của chúng nó, đáp ứng theo định luật tự nhiên của chính chúng nó,  Sự phát sinh của chúng siêu xuất sự khống chế của chúng ta.

-----------------------------------------------

 trang 539 

VERIFIED KNOWLEDGE BY COMPREHENSION: 

THE FULFILLMENT OF THE FIRST VIPASSANĀ JHĀNA 

TRI THỨC ĐÃ ĐƯỢC CHỨNG THỰC QUA SỰ LÝ GIẢI: 

SỰ HOÀN THÀNH VIÊN MÃN THIỀN ĐỊNH MINH SÁT TUỆ THỨ NHẤT


Trở lại trang 536 Khổ Đau Tùy Quán Trí

Thì trong lakkhaṇa này mình thấy khổ đau thôi

Khi mình đang hành thiền có 2 đường tu. Tuệ Văn bổ túc Tuệ Tu qua một trải nghiệm, mình phải biết đi công thức đó. 

 Thì khi vô pháp Tu, dù là Tu Thiền Định thì hành giả phải xác định 2 đường tu của mình.

1. Thứ nhất là tu về thiền (Jhāna) còn gọi là Hành Thiền có 2 loại là Samadhi Vipassana.

2. Thứ hai là tu thiền - Hành Đạo (Magga).

Mình đang ngồi Thiền là mình đang Hành Đạo.

Mình đang ngồi Thiền là mình đang Tu Thiền.

Vậy thì khi người vô ngồi mà thấy được Vô Ngã là họ đi Vipassana thấy thực tướng của pháp. 

Còn đi Hành Đạo họ thấy Khổ Đau, là đi vô Tập Đế Khổ Đế.

Do đó, người hành giả mà nói thấy Vô Ngã là họ chuyên về Vipassana, họ khắn khích vô thực tướng, nhưng họ không diệt được Tập Đế của họ, họ vẫn giữ minh sát của họ với pháp thôi. Còn về Hành Đạo mình chuyên với Tập Đế của mình, tại vì mình thấy Khổ Đế, mình Diệt Tập Đế mình giải thoát.

Còn người chuyên vô Vô Ngã là người đó đi Vipassana dễ lắm, họ chuyên về Vipassana họ nhìn thấy pháp sinh diệt, họ thấy Vô Ngã, họ thấy duyên hợp rồi tan.

Nhưng người đi Hành Đạo, Đức Phật ngày xưa cũng vậy, Ngài thấy 4 tướng là Ngài đi Tập Đế và Diệt Đế.

Chính cái đó mới có abhinñnña - thắng trí, mà các Balamon không có trí tuệ cùng tột là Lậu Tận Trí diệt lậu hoặc, mà lậu hoặc nằm trong đó là ái dục của Tập Đế.

Đạo (Magga) của người phàm là Khổ Đế và Tập Đế, không có Khổ Vô Ngã.

Khi mình đi qua phần Diệt Đế và Đạo Đế. Thực tướng nằm trong Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế.

Thì khi mình đi Hành Đạo mình cũng có đi Hành Thiền, mình đi Vipassana, mình có đi Hành Đạo, mình thấy Khổ Đế, Tập Đế.

Khi cái đạo này mình đang hành thì mình chỉ đi Chánh Kiến Chánh Tư Duy (Đạo phần) 

Còn Định phần, Giới phần nó ở ngoài. Do đó áp dụng. Thí dụ ta nói Tuệ Tư trong Thiền nó khác, Tuệ Tư trong Đạo nó khác.

Tuệ Tư trong Thiền là 5 chi thiền; Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Nhất Thống.

Tuệ Tư trong Đạo nằm trong Tuệ phần; Chánh Kiến, Chánh Tư Duy.

Do đó, khi nói đến Tuệ Tư của Hành Thiền thì nó nằm trong Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Nhất Thống.

Tuệ Tư trong Đạo (Magga) nó chỉ trong Tuệ phần; Chánh Tư Duy, Chánh Kiến, ly tham, ly sân, ly oán hận.

Thì thực tướng mỗi cái thực tướng của Đạo Đế, của Diệt Đế, của Tập Đế, của Khổ Đế nó không giống nhau.

trang 731 

Subhadda: Một Bậc tuyên bố phóng khí không phải Phật Tử, là Bậc đã được Đức Phật thuyết giáo trên sàng lâm chung của Ngài, và do đó Bậc đã trở thành là đệ tử cuối cùng được Đức Phật cải biến tín ngưỡng.

Trưởng Lão Subhadda: Ngài đã là một Bà La Môn thuộc giai tầng cao cấp (thuộc Dòng Tộc Bà La Môn Đại Bá Hộ Cao Quý), và khi đã trở thành một Du Sĩ Ngoại Đạo, đã đang sống trong thành Kusinārā khi Đức Phật đã đến nơi đó trong chuyến lữ hành cuối cùng của Ngài.  Khi đã nghe rằng Đức Phật sẽ viên tịch vào canh ba về đêm, Subhadda đã đi đến khu rừng Long Thọ, nơi mà Đức Phật nằm trên sàng lâm chung, và đã yêu cầu Ānanda cho sự hứa khả để diện kiến Ngài.  Thế nhưng ba lần Ānanda đã cự tuyệt sự yêu cầu, khi nói rằng Đức Phật đã mệt mỏi.  Đức Phật đã vô ý được nghe đến cuộc đàm thoại và đã yêu cầu Subhadda đi vào.  Subhadda đã vấn hỏi Đức Phật liệu là đã có bất luận chân lý nào trong những giáo nghĩa của các chỉ đạo giả tôn giáo khác không.  Đức Phật đã nói Ngài đã không có thời gian để thảo luận điều đó, trừ phi bất luận hệ thống nào khuyết phạp Bát Bội Thánh Đạo đã vô dụng cho sự cứu vớt, và Ngài đã giáo đạo Giáo Nghĩa cho Subhadda.  Subhadda đã yêu cầu được phép gia nhập Giáo Đoàn, và Đức Phật đã đặc biệt ban truyền Ānanda sự hứa khả để thừa nhận Ông ấy ngay lập tức mà không cần chờ đợi thời kỳ kiến tập thường lệ.  Subhadda đã độc cư thiền định và nhanh chóng đã trở thành một Bậc Vô Sinh.  Ông ấy đã là đệ tử cuối cùng được Đức Phật cải biến tín ngưỡng.

Đại Chú Giải Sư Buddhaghosa nói rằng khi Đức Phật đã ban truyền Ānanda sự hứa khả thụ giới Subhadda, Ngài đã đưa Ông ấy ra ngoài, đã rót nước lên đầu Ông ấy, đã khiến Ông ấy lập lại phương án quán dụng về sự không thường tồn của sắc thân, đã cạo bỏ tóc và râu Ông ấy, đã khoác những mảnh y vàng lên Ông ấy, đã khiến Ông ấy lập lại Tam Quy Y, và thế rồi đã dẫn Ông ấy trở về với Đức Phật.  Chính Đức Phật đã thừa nhận Subhadda được sự thụ giới cao hơn và đã trao cho Ông ấy một đề mục cho thiền định.  Subhadda đã nhận lấy điều này, và, đã bộ hành lên và xuống trong một phần tịch tịnh của khu rừng, đã thành đạt Quả Vị Vô Sinh và đã đến và đã ngồi xuống bên cạnh Đức Phật.

------------------------------

Nên Ngài mới trả lời đạo sĩ Subhadda trên sàn lâm chung là nơi Đức Phật nằm trên tảng đá tại vườn Kusinara, do đó đã trở thành đệ tử cuối cùng của Đức Phật cải biến tín ngưỡng , tức là Ngài đã sửa đạo của vị đạo sĩ này, thì đạo sĩ Subhadda hỏi Đức Phật.

Thì sự đàm thoại của Đức Phật và đạo sĩ Subhadda hình thành thoại đề.

Ngài nói ngoài Giáo Pháp của Như Lai ra không có. Thì trong ý nghĩa mà Ngài nói đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ, thì phải nhớ như thế này:

Đức Phật Ngài chứng đắc được gọi là Buddho là Ngài dựa trên lý Tứ Đế nên Ngài được gọi là Đức Phật (Buddho) là bậc Giác Ngộ.

 Chính do đó khi Ngài từ Tứ Đế này Ngài Giác Ngộ, Ngài giải thoát, tri kiến giải thoát của Ngài trên Tứ Đế này.

Còn con đường Ngài hành trong 6 năm là Ngài theo sát thực tính thực tướng của nó nhưng Ngài không nắm bắt sinh diệt của pháp mà Ngài đi trên trạng thái khổ này là do Ái. 

 Ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ thủ uẩn, Ngài đi trong đó, trong mỗi cái đều có thực tướng của nó.

Trong Khổ Đế thực tướng nó là cái gì?  Trong Tập Đế thực tướng là cái gì? Trong Diệt Đế thực tướng là gì? Trong Đạo Đế thực tướng là gì?

Trong Tuệ phần khác, trong Giới phần khác, trong Định phần khác. Bát Chánh Đạo chia làm 3 là Tuệ phần, Giới phần, Định phần. 

Giới phần là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng.

Định phần là Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.

Thì mỗi cái nó có thực tướng của nó.

Khi Hành Đạo, chỗ phóng dật kiết sử có 2 loại phóng dật là phóng dật triền cái, phóng dật kiết sử.

Phóng dật triền cái là phóng dật đề mục, mình có thể có nó một hai lần rồi nó biến mất. 

Nhưng phóng dật kiết sử là phóng dật của tập khí, thói quen rồi khó diệt trừ, thượng phần kiết sử tới Arahant mới diệt được. Là phóng dật ngay khi thấy thực tính thực tướng của pháp mà mình không nắm bắt được. 

Cầm tờ giấy lên hỏi ông giáo sư: ' thằng bạn con nó liệng tờ giấy vô cho con thì chữ này là chữ gì ?" Thì đó là phóng dật kiết sử rồi. 

Phóng dật kiết sử từ gốc của nó là không có trí, phóng dật nằm trong vô minh, si, vô tàm, vô quí, trạo cử, thì nó móc vô paticcasammuppāda - Thập Nhị Nhân Duyên, vô minh và ái dục là hai móc nối đưa tới phiền não luân, nên là nghiệp báo luân, dị thục báo luân, tam luân, vô minh và ái dục.

Vậy thì khi ta hành thiền mà nắm được pháp nhưng mình còn phóng dật và kiết sử thì không tới Đạo Quả được, mình chỉ liễu tri pháp thôi, mình thấy sinh diệt, mình thấy hoại diệt, mình thấy tướng, nhưng không nắm bắt được.

Thiền sinh hỏi: Thưa Sư, phóng dật kiết sử là từ vô minh ?

HT trả lời: phóng dật và kiết sử nằm ở trong vô minh. Mình có thể diệt được phóng dật triền cái, ngũ triền cái, nhưng mình diệt không được kiết sử.

Phải biết là đi vô ngã là đi Minh Sát Trí, liễu tri pháp chứ không phải Hành Đạo để giải thoát.

Khi người hành giả đi trên con đường Hành Đạo thì không còn vướng trong kiến thức này nữa.

 Anuruddha đắc Tam Quả mà không vô được Arahant vì vướng vô Thiên Nhãn Thông. Thiên Nhãn Thông nằm trong Samadhi (định),  Ngài Sariputta mới gỡ cái lậu hoặc này là phóng dật kiết sử, vô minh kiết sử này đang che tri kiến của Ngài Anuruddha ở trong Thiên Nhãn Thông này.

Đó là tu thiền Samadhi đắc Thiên Nhãn Thông.

Còn Hành Đạo Magga là đi Tuệ Tư  với Tuệ Văn và Tuệ Tu của Tứ Đế. Do đó, khi ngồi thiền một hồi mà mình thấy pháp càng ngày càng rõ lên, cái niệm lực của mình mạnh, định lực sâu vô thì mình lại bị phóng dật kiết sử sen vô liền, khi mình biết mình phải gỡ ra.

Khi mình đang tu tập mình chỉ thấy thực tính thôi, khi tới sát na Đạo mình mới thấy thực tướng.

Thí dụ, sát na Đạo (Magga) mà mình thấy được Vô Ngã thì mình thấy pháp này rỗng không. Còn nếu như thấy trên Vô Ngã của pháp Minh Sát Trí thì chưa thấy thực tướng được mà chỉ thấy thực tính.

 Nếu nói trạng thái Vô Ngã thì trong Si, nếu thấy trong Khổ Đau thì trong Sân, nếu  thấy trong Vô Thường là trong tham, thực tướng tham che lấp thực tướng Vô Thường.

Thì lúc đó mình lọc lần nữa của Tập Đế này trong hiện bày pháp Khổ Đế mình phải lọc Tập Đế ra.  Mà lọc cái nào là Diệt Đế ra liền bởi của Đạo Đế, mà lọc từ Chánh Tư Duy qua Chánh Kiến. Chánh Kiến thấy Chánh Tư Duy lọc liền, ly tham, ly sân, ly si, mới thấy được thực tướng.

Trong Chánh Tư Duy là ly tham, ly sân, ly oán hận là mình đang Hành Đạo.

Khi mình thấy pháp căn tiếp xúc với trần.

Thí dụ. Nhãn căn tiếp xúc cảnh sắc. Nhĩ căn tiếp xúc trần với trạng thái Minh Sát Trí với trạng thái Hành Đạo để cho căn tiếp xúc với trần mà mình quán sát nó mình sẽ rớt trong phần phóng dật kiết sử, ngay lúc đó phóng dật kiết sử nhảy vô.

Mình giám sát Nhãn căn tiếp xúc cảnh sắc. Nhĩ căn tiếp xúc cảnh thinh.  Nhưng mình không nắm bắt được thì lúc bấy giờ phóng dật kiết sử nhảy vô lôi mình qua trạng thái Vipassana không ra khỏi Đạo Đế.

Sư đặt câu hỏi:

Khi nhãn căn tiếp xúc cảnh trần thì đế gì trong Tập Đế, thực tính gì mà mình đang có trong khi nhãn căn tiếp xúc cảnh sắc, nhĩ căn tiếp xúc cảnh thinh trong Tập Đế đó mình có thực tính nào ? có tham không, có si không ?

Nếu không có thì lúc đó mình đang hành đạo của Chánh Tư Duy hay là Chánh Kiến, lúc đó mình có ly tham, ly sân, ly oán hận ở trong Chánh Tư Duy nhìn nhãn căn tiếp xúc cảnh sắc không ? Phóng dật kiết sử nhảy vô, cho dù nhãn căn tiếp xúc cảnh sắc thấy được sinh diệt, thì mình chỉ đi Vipassana thôi, đó là hành chính xác, người hành giả chuyên sâu.

 Khi bắt đầu thấy Vô Ngã thì hành xả nó đi, nhưng mình không mất cái ngã của mình, mình chỉ có Pháp Hành mình nắm được cái pháp thôi. Còn thấy được trong cái Hành Đạo thì mình mới thấy là mình si quá, mình sân quá, mình tham quá trong cái Tập Đế này để cho nhãn căn tiếp xúc cảnh sắc này mà mình bị phóng dật.

Nên cái gì cũng vậy, phải ngồi nghĩ cho ra cái pháp mới được.

Ngài mới chỉ dậy cái đó chỉ là Pháp thôi không phải là Đạo, nên người ta giỏi về pháp là như thế, nhưng mà họ không Chuyển Tộc (Gotrabhū) được, tại vì họ tới Hành Xả Trí họ trở lại, họ ngao ngán tam tướng Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, họ bị phóng dật kiết sử, do đó thấy được tam tướng là họ trở lại chứ họ không chịu bỏ, vi họ bị phóng dật và họ rớt trở lại.

Tôi thấy khổ tôi ngán lắm, tôi thấy khổ tôi sợ lắm,  tôi thấy vô ngã tôi sợ lắm, tôi thấy vô thường tôi sợ lắm, "Tôi".  Rồi một phút giây ngày nào đó cái thực tướng mà mình thấy sợ nó đánh mình lúc đó mình mất hết tất cả công lực tu của mình, tại vì mình không có đủ sức để mà đổi cái tri kiến này, tại vì mình giữ cái này lại, mình đi trong phóng dật này.

Thành ra những pháp liệu pháp kỳ tích

 trang 496

MIRACULOUS CURES

NHỮNG CÁCH LIỆU PHÁP KỲ TÍCH

Những căn bệnh cũ, các tiểu bệnh bất khả cải biến, đã bị ảnh hưởng bởi năng lực của các yếu tố giác ngộ, đặc biệt là ở những trình độ thực hành thâm khắc hơn.   Tại Trung Tâm ở Rangoon, một sự phát sinh phổ biến được gọi là những cách liệu pháp kỳ tích phát sinh.  Toàn bộ những sách có thể đã được viết chi liệt kê những ca bệnh.  Tại đây Sư chỉ đề cập đến 2 ca nổi bật.

Trang 498

A WOMEN'S HIGH BLOOD PRESSURE

CAO HUYẾT ÁP CỦA MỘT NỮ NHÂN

Một bệnh lệ khác đã xảy ra khoảng hai mươi năm trước.  Việc này đả là một nữ nhân đã sống trong khu nhân viên của Trung Tâm.  Bà ấy đã có mối quan hệ thân thuộc với một thành viên trong toàn thể viên chức.  Trong một thời gian dài Bà ấy đã bị bệnh hoạn từ căn bệnh cao huyết áp và đã tìm kiếm sự điều trị và những dược phẩm từ những vị y sĩ.  Đôi khi Bà ấy đã đến gặp Sư và Sư sẽ cố lệ Bà ấy để thiền định, đã nói rằng cho dù Bà ấy đã tử vong trong tiến trình thực hành, Bà ấy sẽ thụ hưởng rất nhiều niềm hạnh phúc trong sự tái sinh kế tiếp của mình.  Tuy vậy, Bà ấy đã luôn có một viện cớ, và đã tiếp tục nương tựa vào các vị y sĩ của mình.

Cuối cùng Sư đã kể tội Bà ấy.  "Nhiều người từ rất xa đến, thậm chỉ từ những nước ngoài, để có vị đạo Giáo Pháp trong Trung Tâm tĩnh tu này.  Sự thực hành của họ thâm khắc và họ trải nghiệm được nhiều điều cực hảo.  Bà sống ở đây và tuy vậy Bà đã không có thiền định đến một trình độ mãn ý chút nào cả.  Bà làm Sư nhớ đến con sư tử đá trong hung mãnh canh giữa chân một bảo tháp. Những con sư tử đó, Bà biết đấy, luôn quay lưng của mình lại đối chiếu với bảo tháp nhằm để chúng không bao giờ có thể bày tỏ bất luận lòng tôn kính nào đối với bảo tháp."

Nữ nhân đã cảm thấy khá thương tâm với lời trách mắng này và đã đồng ý cố gắng thiền định.  Trong vòng một thời gian ngắn Bà ấy đã đạt đến giai đoạn thống khổ cường liệt.  Nỗi thống khổ tật bệnh của mình, đã kết hợp với nỗi thống khổ của Giáo Pháp, đã cho Bà ấy một thời gian xác thực khó chịu đựng.  Bà ấy hầu như không thể ăn hoặc ngủ.  Cuối cùng các thành viên trong gia đình của Bà, họ cũng đã sống tại Trung Tâm, đã bắt đầu khởi lên nỗi hoang mang sợ hãi về tình trạng của Bà ấy.  Họ đã thân thỉnh Bà trở về nhưng khu nhà của họ nhằm để họ có thể chiếu cố Bà ấy.  Sư đã cường liệt phải đối điều này và đã khuyên bảo Bà ấy tiếp tục việc thực hành của mình hơn là lắng nghe họ.

Những thành viên trong gia đình của Bà đã đến với Bà ấy lặp đi lặp lại nhiều lần, và về phần Sư đã kiên quyết yêu cầu Bà ấy tiếp tục.  Điều đó quả là một cuộc chiến đấu đối với nữ nhân này, thế nhưng Bà ấy đã kiên trì bất giải với việc thiền định của mình.  Bà ấy đã hết sức cứng rắn.  Bà ấy đã có một sự tăng kích khải phát linh cảm mới và đã quyết tâm kinh lịch việc thực hành của mình cho đến cùng, cho dù Bà ấy tử vong.

Nỗi thống khổ của nữ nhân đã cực kỳ kịch liệt.  Bà ấy đã cảm thấy y như thể não của mình đã sắp long ra.  Các huyết quản trong đầu của Bà ấy đã đập mạnh, đã đập thình thịch và đã đập liên tục.  Bà ấy đã chịu đựng với tất cả sự kiên nhẫn của nó, chỉ đơn giản quan chú nỗi thống khổ.  Ngay sau đó một sức nóng cường liệt đã bắt đầu tản phát từ sắc thân của Bà.  Bà ấy đã phát sinh và đã bức xạ phát tán một ngọn lửa cường liệt.  Cuối cùng Bà đã áp phục tất cả nhưng cảm giác này và mọi thứ đã trở nên tịch tịnh và bình tịnh.  Bà ấy đã chiến thắng trận chiến.  Bệnh cao huyết áp của Bà ấy đã hoàn toàn được chữa khỏi, và Bà ấy đã tuyệt bất tái thọ dụng (không bao giờ dùng lại) những dược phẩm cho căn bệnh đó nữa.

trang 500

OTHER DISEASES - AND DON'T FORGET LIBERATION !

NHỮNG SỰ BỆNH HOẠN KHÁC - VÀ XIN ĐỪNG QUÊN SỰ GIẢI THOÁT


Sư đã chứng kiến những liệu pháp về bệnh tắc nghẽn đường ruột, bệnh cơ lưu tử cung, nham chứng (ung thư) và hơn nữa.. Không có sự bảo chứng cho kết quả này, cho dù Sư hy vọng những truyện ký đang khải phát linh cảm đến bạn.  Tuy nhiên, nếu như một hành giả nhiệt thiết, kiên trì bất giải, anh dũng và dũng cảm trong việc cố gắng cần niệm về những cảm giác đông thống khởi sinh từ những sự bệnh hoạn hoặc những vết thương cũ, Ông ấy hoặc Bà ấy có thể nghiệm thấy một sự khang phục kỳ tích từ những vấn đề này.  Sự nỗ lực trì tục tồn tại mang lại một khả năng cực hảo.

Thiền định Niệm Xứ có lẽ hữu dụng nhất là cho những bệnh nhân nham chứng (ung thư).  Bệnh nham chứng (ung thư) thật khủng khiếp.  Có rất nhiều nỗi đông thống cả trong sắc thân và ở nội tâm.  Một người đã tinh thông trong thiền định Niệm Xứ vị ấy có thể giảm khinh gánh nặng bằng cách cẩn niệm về nỗi thống khổ, bất luận nó kinh khủng như thế nào.  Ông ấy hoặc Bà ấy có thể tử trong mốt sự tử vong an tịnh, chỉ với sự cẩn niệm nỗi thống khổ một cách cực hảo và một cách vô khả khiêu tích (không có khả năng xoi mói, bắt bẻ).  Thể loại tử vong này là minh trí và cao quý.

Ước mong bạn tận dụng triệt để tri thức mà bạn đã hoạch đắc thông qua việc xiển thuật tường tế này về bảy yếu tố giác ngộ.  Ước mong bạn tu dưỡng từng mỗi yếu tố, bắt đầu từ sự chú niệm và kết thúc với sự trấn tịnh, nhằm để cho bạn có thể trở thành một hữu tình đã giải thoát một cách hoàn toàn.

-----------------------------------

trang 501 

Tâm mình cương ngạnh lắm, tâm mình cứng đầu lắm 

SOFTENING THE RIGID MIND

LÀM NHU NGUYỄN TÂM THỰC KIÊN NGẠNH


Đức Phật đã thuyết "Thực ra với thiền định, người ta có thể phát triển tri thức và trí tuệ khi đã được kiến lặp một cách có cơ sở và cự đại như quả địa cầu." Ưu chất của trí tuệ như vậy thẩm thấu tâm thức, đã làm cho nó khoan đại và cự đại.  Tuy nhiên, trong sự khuyết tịch thiền định, tâm thức biến đắc hiệp trách (lòng dạ trở nên hẹp hòi) và kiên ngạnh dưới sự xung kích bất đoạn của các Pháp Phiền Não.  Mỗi khoảnh khắc chúng ta bất lưu tâm, các Pháp Phiền Não thẩm thấu tâm thức, làm cho nó căng thằng, khẩn trương và đã tiêu lự.

Các đối tượng oanh kích chúng ta tại lục môn cảm quan thì đôi khi thiện hảo và đôi khi bất hảo, đôi khi duyệt ý, đôi khi bất duyệt ý.  Một đối tượng thị giác duyệt ý tự nó hiện diện: tâm thức đã bất cẩn hộ sẽ một cách tự nhiên sung mãn với lòng khát vọng và sự y luyến, quan bế một cách khẩn mật xung quanh đối tượng ấy.  Đã bị tóm lấy bởi sự khẩn trương và sự tiêu lự này, tâm thức bắt đầu lập kế hoạch những phương thức để có được đối tượng hết sức duyệt ý ấy.  Từ kế hoạch này đã nắm chắc đối tượng, lời nói và những sự chuyển động thể chất có thể phát triển.

-------------------------

Tâm mình đang cương ngạnh, giờ mình dạy tâm mình làm nó nhu nhuyễn thì thuộc Minh Sát Tuệ chứ không phải là Hành Đạo, mình dạy tâm mình là Minh Sát Tuệ chứ không phải Hành Đạo. Tại vì tâm cương ngạnh mình làm cho nó mềm lại thôi chứ mình không diệt nó được hay là mình không có thoát ra được, thì tại vì nó cứng đầu, nó cương ngạnh, giờ làm cho nó mềm lại, nó thuần thục nhu nhuyễn lại thì giữ nó, rồi nói cái tâm này nhu nhuyễn rồi,  đã thuần phục nó rồi, tôi đã thuần hóa cái tâm rồi.

Thì đó là Vipassanā Jhānas Những Thiền Định Minh Sát Tuệ 

Rồi năng lực của sự khắc chế trang 502

Việc thực hành sự khắc chế là một phương thức hữu hiệu cho việc phòng chỉ sự xung kích của các Pháp Phiền Não.  Sự khắc chế không có nghĩa bất tri và thất khứ tri giác.  Nó có nghĩa việc bảo vệ từng mỗi cảm quan môn nhằm để cho tâm thức không chạy xuyên qua nó rơi vào những sự ảo tưởng và những sự nghĩ suy, những sách hoạch và các kế hoạch. Sự chú niệm một cách xác thiết là nguyên nhân cho sự khắc chế khởi sinh.  Khi chúng ta cần niệm trong từng khoảnh khắc, tâm thức đã được ngăn cản không rơi vào một trạng thái nơi mà sự tham lam, lòng cừu hận, và sự thố giác có thể đột nhiên phát xuất.  Nếu như chúng ta cảnh giác, cuối cùng tâm thức sẽ trở nên phần nào được thuần hóa và nguyện ý bất đào ly mối nguy hiểm do bởi các Pháp Phiền Não phục kích

trang 506

SỰ KHĂC CHẾ MẬT TẬP CHO NHỮNG KHÓA TU TĨNH TÂM.

Những lúc mình vô những khóa tu tĩnh tâm này là mình chỉ khắc chế nó thôi kêu là đá đè cỏ xuống, mà mình vẫn ở trong Thiền Samadhi / Vipassana, và tột cùng chỉ tới Hành Xả Trí thôi, chứ không có Chuyển Tộc.   Mà Đức Phật Ngài là Budho và các đệ tử của Ngài là Thinh Văn Giác cũng từ nơi Budho chứ không phải trên phần Jhānas 

trang 507

Cách thức trí tuệ biến nhuyễn tâm thức này.

Ngài chỉ cho làm sao tâm mình mềm mại

Sự Tinh Cần Chân Chính (Chánh Tinh Tấn), Sự Miêu Chuẩn (ngắm trúng mục đích) Chân Chính (Chánh Tư Duy), Sự Chú Niệm Chân Chính (Chánh Niệm), Sự Định Thức Chân Chính (Chánh Định) : tất cả các điều này là những yếu tố của Bát Bội Thánh Đạo (Bát Thánh Đạo).   Khi chúng hiện diện trong tâm thức, các Pháp Phiền Não không có cơ hội khởi sinh.  Các Pháp Phiền Não, mà đã làm cho tâm thức rất kiên cường và kiên ngạnh và đã bị giáo động, đã bị tiêu trừ khi người ta ở trong khoảnh khắc, và vì vậy tâm thức có một cơ hội biến nhuyễn.

trang 511

SOLVING THE BUDDHA'S RIDDLE

GIẢI KHAI MÊ NGỮ (KHÁI YẾU / XIỄN THUẬT) CỦA ĐỨC PHẬT


 Riddle không nói là chú thuật hay là mê thuật ngữ, trong quyển sách cũ Ngay Trong Kiếp Sống Hiện Tại họ dùng như vậy, nhưng Sư nói Đức Phật Ngài không dùng chú thuật.

trang 512 

QUÁ TRÌNH ĐANG CẢM GIÁC CÓ VÀ KHÔNG CÓ SỰ CHÚ NIỆM

Tất cả những quá trình đang cảm giác phát sinh thông qua một chuỗi nối tiếp nhau các Tâm Ý Thức không tịnh hảo mà cũng không vô tịnh hảo.  Tuy nhiên, ngay sau chuỗi nối tiếp nhau này, nếu như sự chú niệm không can dự, sẽ có phát sinh một chuỗi nối tiếp nhau các Tâm Ý Thức lần thứ hai, có lẽ một lần thứ ba hoặc lần thứ tư và xa hơn nữa đã bồi bạn với sự tham lam, lòng cừu hận, và sự thố giác.  Đặc trung của việc thực hành Minh Sát Tuệ là mẫn nhuệ sự chú niệm cho đến khi nó có thể nắm bắt quá trình đang cảm giác trung thực tại phần kết thúc của chuỗi nối tiếp nhau các Tâm Ý Thức vô đạo đức, và dự tiên trở chỉ (dự phỏng ngăn chặn) việc khởi sinh các chuỗi nối tiếp nhau đã bồi bạn với sự tham lam, lòng cừu hận, và sự thố giác.  Nếu như một tâm thức có thể tạo ra sự ngăn chặn này, chúng ta nói rằng nó đang bất lưu lãng.  Tâm thức đang lưu lãng là tâm thức đã bị đọa lạc bởi các Pháp Phiền Não khi nó tư khảo những gì đã xảy ra hoặc những gì đang xảy ra.

Nói một cách thực sự cầu thị, nếu như chúng ta bắt đầu tư khảo các đặc tính của đối tượng - "Ô, một màu sắc huyễn lệ biết bao" - chúng ta tri đắc tâm thức đã bất dực nhi phi (không cánh mà bay). Mặt khác, nếu như chúng ta xúc phát sự chú niệm minh xác và hữu động sát lực và sự nỗ lực cần phấn tại khoảnh khắc đang khán kiến đối tượng có màu sắc đó, chúng ta có cơ hội tuệ tri quá trình khán kiến với những gì nó thực sự hiện hữu.  Đây là cơ hội để phát triển trí tuệ.  Chúng ta có thể tri đắc mỗi quan hệ của tâm thức với vật chất, tính phụ hữu điều kiện hữu quan của chúng, và các đặc tướng về Sự Không Thường Tồn (Vô Thường) Sự Đông Thống (Khổ Đau) và Sự Khuyết Tịch Tự Ngã (Vô Ngã) mà chúng chia sẻ.

trang 513

CRASH !

ÙNG OÀNG LẠCH TẠCH NHẤT TRẬN CỰ HƯỚNG !

(MỘT TRẬN ÂM THANH VANG DỘI LẠI ÙNG OÀNG LẠCH TẠCH)

Âm thanh một cách đột nhiên trở nên chiếm ưu thế.  Tại khoảnh khắc này, chúng ta bỏ lại đằng sau các sự chuyển động đang phồng lên và đang xộp xuống.  Mặc dù vậy, chúng ta không cho rằng tâm thức đã lưu lãng nếu như chúng ta có khả năng nhận thức ngay rằng đây là một âm thanh, và chú niệm nó là : "nghe, nghe", mà không bị lôi cuốn theo những sự thâm tư về những gì đã gây ra âm thanh và v.v.  Không có sự tham lam, lòng cừu hận hoặc sự thố giác trong nội tâm.

--------------------------------------

Hành giả đang ngồi kế bên một người hành giả ngồi họ đứng lên sửa áo quần gây ra tiếng động thì âm thanh đó dội lại mình là crash, một âm thanh vang dội lại, thì mình đang niệm mạnh một âm thanh nhỏ thôi cũng thành âm thanh vang dội của mình.

trang 514 

Jhana Thiền Định

trang 515 - 516

Bắt đầu là Samatha, Vipassana

trang 517 Năm yếu tố Thiền Định

trang 519 Đình Chỉ Tại Nội Tâm

trang 685 

Mahāpajāpatī Gotami : kế mẫu Đức Phật, sáng lập giả Giáo Đoàn Trưởng Lão Giáo Giới Chư Tỳ Khưu Ni, và là một bậc thực tiễn giả đã giác ngộ trứ danh. 

Một Trưởng Lão Ni kiết xuất. Đức Phật khen ngợi Bà. Bà đã làm những thiện công đức gì, những pháp thiện gì trong đời quá khứ.

Thời Đức Phật PadumuttaraPajāpatī  đã quyết định hoạch đắc sự hiển hách. Thì Đức Phật phải khen ngợi Bà trong hàng Ni chúng là Bà đứng hạng nhất.  Mà không phải tự yên bà có, Bà đã tu tập rất nhiều lần để Bà có được.

Trang 689 Mahākapi.

Trang 692 , câu kệ 69 

Đằng kia vua đã thấy một Bà La Môn,

Một bộ xương khô bước chập chờn,

Da vị ấy trắng với dòng máu hủi,

Xù xì xương xẩu tựa cây mun."

Sư dịch là:

Một vị Bà La Môn nhàn vua đã trông thấy ở nơi đó.

Ông ấy đã là một bộ xương biết đi...

Da Ông ấy đã trắng bệch vì máu bệnh ma phong

Và xù xí tự hồ gỗ mun thô tháo.

 Bài kinh này lúc Ngài là Bồ Tát Ngài là Khỉ Chúa có cái đuôi dài.  Con khỉ mà đuôi dài thì không phải là khỉ đười ươi, không phải là khỉ dã nhân mà là con khỉ nhỏ, nó thuộc loại vượn tay dài, chân dài, đuôi dài, mà thân hình nó nhỏ, mà vác một ông Ba La Môn ở dưới thung lũng sâu đi lên trên đỉnh núi thì phài nói Ba-la-mật (Pārami)  của Ngài tuyệt đỉnh.

Con khỉ dã nhân tướng nó bằng người mình thì còn vác nổi, còn khỉ đuôi dài là thân hình nhỏ mà Ngài ráng vác ông Ba La Môn lên đỉnh núi.

Thì ông Balamon sau gặp vua đã kể tội của ông lúc con khỉ vác ông lên núi rồi ông lấy cục đá đập đầu con khỉ khi con khỉ sau khi vác ông Balamon lên ngọn núi vì mệt quá nên nằm ngủ trong lòng ông Balamon để nhờ ông canh chừng thú dữ tới ăn thịt Ngài thì ông lấy đá đập đầu Ngài.  

 Ông Balamon vừa đập đầu Ngài thì Ngài phóng lên cây thì máu nhiễu xuống. Ông Balamon nói hồi nãy ông hứa giúp tôi về làng, thì Ngài đi trên cây và lấy máu nhiễu xuống đường để làm dấu dẫn đường ông Balamon về làng.

Từ trang 705 đến trang 721 nói về Ác Ma

Māna, nói tới ác ma

Quí Phật tử đọc, khi nào có 1 ma, khi nào có 2 ma, khi nào có 3 ma, khi nào có 4 ma.  Thì lúc bấy giờ mình mới thấy rằng là mình học trong kinh Nikaya không có nói thì mình mới thấy là khi nào có 1 con ma, khi nào có 2 con ma, khi nào có 3 con ma.  Mà Ác Ma đi theo Đức Phật 7 năm liền, tức là 6 năm khổ hạnh với 1 năm sau khi đắc đạo quả mà không tìm ra một khuyết điểm nào từ bậc Giác Hữu Tình cho tới bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới bỏ đi.

Trang 662

Thập loại hành vi bất chính đáng.

Trong phần 662 trên thập loại hành vi bất chính đáng có 10 đội quân ác ma có ghi lại trong đây.

Trang 664 

Thuật ngữ biểu, trong phần Điển Cố Kinh Apadāna.

Trang 670 Cittā: Danh xrmg Ty Khưu Ni trong thời Đức Phật, Bà ta đi tới xin xuất gia với Trưởng Lão Ni Pajāpati Gotami.  Thì khi bà vào tu bà già rồi các bà Ni khác không hoan hỉ với bà, thì bà chỉ tinh tấn tu thôi.

Trang 671 

Dù Ta có mỏi mệt, bệnh hoạn quá yếu đuối,

Dựa trên gậy Ta đi, Ta leo lên đỉnh núi.

Với đại y vắt ngang, với bình bát lộn ngược,

Ta dựa mình tảng đá, phá tan khối si ám"

Bà đắc Đạo Quả Arahant .

Ở cuối trang 671

Devadatta: Một tu sĩ đã xúc tiến việc phân liệt trong Giáo Đoàn Chư Tỳ Khưu, và sau đó đã cố gắng để mưu sát Đức Phật.

Từ trang 671 đến 680 mới hết nói về Devadatta.

Quí Phật tử hoan hỉ đọc hết.

Trang 443

Trước đây đã có Chư Tỳ Khưu Tăng hoặc các vị tu sĩ, Chư Tỳ Khưu Ni hoặc các vị tu nữ, Chư Nữ Học Pháp (Chư Thức Xoa Ma Na Ni) hoặc các tu nữ thực tập, và Chư Sa Di Ni và Chư Sa Di Tăng, những Cần Sách Nữ và Cần Sách Nam.  Trong tiến trình lịch sử, Giáo Đoàn Trưởng Lão Giáo Giới Chư Tỳ Khưu Ni đã diệt tuyệt.  Nói một cách nghiêm chỉnh trong thời đại của chúng ta, Tăng Đoàn đã thọ giới chi tổ thành Chư Tỳ Khưu Tăng và Chư Cần Sách Nam, họ là những vị thực hành y chiếu theo những Huấn Đạo về Giáo Quy Phẩm Hạnh.  Ngoài ra còn có Chư Nam Du Tu Sĩ Khổ Hành và Chư Nữ Du Tu Sĩ Khổ Hạnh, và các tu nữ Giới Đức, mặc dù họ tuân thủ số lượng giới luật ít hơn, vẫn được coi là sống đời sống thánh khiết.

Trang 444

BẤT NHU YẾU, BẤT BỊ HỶ ÁI: TRUYỆN KÝ VỀ TRƯỞNG LÃO NI SONĀ

Một trưởng lão trứ danh trong Tăng Đoàn Chư Tỳ Khưu Ni đã có tên là Trưởng Lão Ni Sonā. Trước khi được thọ giới, Bà ấy đã kết hôn, và bà ấy đã có mười người con - Một đại gia đình theo những tiêu chuẩn ngày nay. Từng người một họ đã lớn lên, đã ly gia và an định sinh hoạt với những phối ngẫu của riêng mình.  Khi người con cuối cùng đã kết hôn, người chồng của Sonā đã quyết định trở thành một vị Tỳ Khưu , như vậy Ông ấy đã ra đi để sống vô gia cư.  Một thời gian ngắn sau đó, Sonā đã thu tập tất cả tài sản Bà ấy và người chồng của mình đã thu tập thông qua cuộc hôn nhân của mình và đã phân phát nó cho từng các người con của họ.  Bà ấy đã yêu cầu rằng lần lượt từng mỗi người trong số họ hỗ trợ lại minh.

Thoạt tiên Bà ấy đã khá mãn ý, khi đã thăm hỏi người con này đến người con khác.  Chắc hẳn là lúc đó Bà ấy đã khá già, sáu mươi hoặc bảy mươi tuổi.  Thế nhưng chẳng bao lâu những người con của Bà ấy đã bắt đầu mệt mỏi về sự hiện diện của Bà ấy.  Họ đã bận rộn với các gia đình của họ.  Họ sẽ nói "Ô, nhạc mẫu đã tới đây rồi."  Sonā đã quan chú sự khuyết phạp nhiệt tình của họ và đã bắt đầu cảm thọ đã uể oải chán nản.  Bà ấy đã tri đắc rằng đây đã không phải là một đời sống thánh khiết đối với Bà ấy, đã bị đối xử như một nỗi phiền toái, đã không được mong muốn và đã không được ưa thích.  Chắc hẳn có những Bậc Cha Mẹ trong thời đại của chúng ta đã quen thuộc với nỗi cảm thọ này.

Tiếp theo là trang 445 

Còn phần Tố Thực là ăn chay Ngài cũng nói luôn, thì trong phần Đề Bà Đạt Đa, mà Đức Phật Ngài bác bỏ, Đức Phật Ngài không nhận lời.

Trang 677  

Năm người này một cách tương ứng đã đến Đức Phật và thỉnh cầu một sự yêu cầu quá đáng về 5 giáo quy cho tất cả các thành viên trong giáo đoàn.

1/ Rằng các vị tu sĩ nên cư trú suốt cuộc đời của họ trong chốn sâm lâm (rừng già dày đặc)

2/ Rằng họ không nên tiếp thụ thiện thực (thọ nhận những bữa ăn hàng ngày) mà trái lại sống một cách hoàn toàn qua việc đi trì bình khất thực.

3/ rằng họ chỉ nên mặc những mảnh y được làm bằng vải vụn đã vứt bỏ và không tiếp thụ những mảnh y của người thế tục,

4/ rằng họ nên cư trú tại gốc cây và không phải dưới một mái nhà.

5/ rằng họ nên giới trừ một cách hoàn toàn cá và thịt.

Sự trả lời Đức Phật đã là những ai cảm thấy có nguyện vọng như vậy thì có thể tuân chiều những giáo quy này - ngoại trừ việc ngủ dưới một gốc cây trong mùa mưa - thế nhưng Ngài đã cự tuyệt đưa ra giáo quy có tính cưỡng chế.  Sự cự tuyệt này đã làm Devadatta thích thú, người đã đi cùng với đoàn thể mình, đã tuyên bố rằng Đức Phật đã có khuynh hướng hưởng thụ xa hoa và sự phú túc.. Ông ấy đã được người ngu xuẩn trong tín, và bất quản việc cảnh cáo của Đức Phật đề phòng tội lỗi cực độ của việc gây phân liệt trong Giáo Đoàn.

Rồi tới khi ông trở về ông gặp Đức Phật sám hối quy y Ngài thì đã trễ rồi.

Trang 677 gần cuối trang 677

Đevadatta, khi đã tương tín rằng họ đã đến để gia nhập với mình, đã hoan hỷ, và, bất quản lời cảnh cáo của  Kokālika, đã hoan nghênh họ.  Đêm hôm đó ông ấy đã thuyết giáo rất muộn đến các vị tu sĩ và có nguyện vọng nghỉ ngơi, đã thỉnh cầu Sāriputta diễn thuyết trong hội chúng, SāriputtaMoggallāna đã thuyết giáo có hiệu quả đến nỗi họ đã thuyết phục được năm trăm vị tu sĩ quay trở lại với họ (nhưng Kokālika đã ở lại với Devadatta) .   Kokālika đã đá Devadatta đã phát hiện điều gì đã xảy ra, máu nóng đã chảy ra từ miệng Ông ấy, và trong chín tháng Ông ấy đã ngã bệnh một cách cực nghiêm trong. (Trong bản tường thuật Tạng Luật bỏ qua việc đá này, thế nhưng nó đã được đề cập đến trong Chú Giải Dhammapada DhA.i.143 và trong Jātaka J.i. 491). Khi sự lâm chung của Ông ấy đã dần dần đến, Ông ấy đã có nguyện vọng được gặp Đức Phật, mặc dù Đức Phật đã tuyên bố rằng điều đó sẽ bất khả thi trong cuộc đời này.  Tuy nhiên Devadatta đã bắt đầu cuộc hành trình trên một nhục thảo (đệm cỏ), thế nhưng đang khi đến Kỳ Viên, Ông ấy đã dừng chiếc đệm cỏ trên những bờ ao và đã bước ra ngoài để tắm rửa.  Quả địa cầu đã mở ra và Ông ấy đã bị nuốt chửng trong Vô Gián Địa Ngục, nơi mà, sau khi chịu nỗi đông thống trong một trăm ngàn kiếp, Ông ấy sẽ được tái sinh thành một Độc Giác Phật được gọi là Aṭṭhissara.  (Bộ Chú Giải Saddharmapuṇḍarika (Chương xi) nói Ông ấy sẽ là một vị Phật có danh xưng Devarāja).  Người ta đã nói (DhA.i 147, cũng xem trong Mi Tiên Ván Đáp Mil.108.  Ông ấy đã là một trong năm người đã bị quả địa cầu nuốt chửng trong thời Đức Phật trong Mi Tiên Vấn Đáp  Mil. 101) rằng tại khoảnh khắc đang bị quả địa nuốt chửng, Devadatta đã thốt lên một kệ thơ bốn câu trong đó Ông ấy đã tuyên bố rằng Ông ấy đã không quy y nơi nào khác ngoài Đức Phật.  Đó là hành động cuối cùng của Devadatta mà Đức Phật đã nhìn thấy rõ khi Ngài đã đồng ý xuất gia cho Devadatta.  Bộ Chú Giải Dhammapada (DhA.i. 147, cũng trong PSA. 79. Sắc thân Ông ấy là một trăm dặm dài.) bao hàm một sự miêu thuật sinh động về những nỗi khốc hình của Devadatta trong Vô Giác Địa Ngục.  Trong những kiếp sống trước, Ông ấy cũng đã bị quả địa cầu nuốt chửng, khi là vua Kaāabu và khi là Mahāpatāpa.

Mấy cô nghe kịp và hoan hỷ đầy đủ những chi tiết này mình phải học sau này mấy cô làm giáo thọ phải nói đủ chi tiết như vậy chứ không nói theo tư kiến của mình được. Sư cố gắng viết đầy đủ chi tiết cho mấy cô để mấy cô nắm bắt. 

Sư muốn nhắc quí Phật tử là Phóng Dật Kiết Sử nó vi tế và nó xen cả vô trong lúc mình đang tu hành, mà không nắm được những cái nào Bhāvanā (Pháp Hành) của Jhāna (thiền), không nắm cái nào bhāvanā (Pháp Hành) của Magga (Đạo) thì bị phóng dật kiết sử dẫn đi.  Những tham, sân, si này khi mà thấy Khổ Đế tới ái biệt ly, oán tắng hội, ngũ thủ uẩn, hay sinh, lão, bệnh, tử, thì mình ở trong cái Ái (Si) của mình là đa phần mình sống trong Ái, trong Si, thì nó mới móc vô được câu Vô Minh duyên Hành của Paticcasamuppāda (Lý Duyên Khởi) được. Đừng có cưỡng cãi nói rằng trong tham trong sân, mà là Si là Vô Minh trong cái Ái của mình. 

Chúng sinh già chết khổ sầu, Bởi do pháp lậu dẫn đầu Vô Minh.  Vô Minh là Si và nó dẫn đi trong từ Ái Tập Đế này mà mình thấy Khổ Tập. Khổ Tập này mà không nhìn được thực tính này thì không có Chánh Kiến, Chánh Tư Duy chính xác được, sẽ bị phóng dật kiết sử bẻ gãy cái đó đi sẽ trở thành tà kiến, tà Tư Duy./.


--------------------------------------------

Chú Thích

dhammakathā là thuyết pháp; thảo luận về bản chất của sự vật [dhamma + kathā]

--------------------------

Kinh tụng Sám Hối Phật Bảo

Uttamaṅgena vandehaṃ

Pādapaṃ suṃ varuttamaṃ

Buddhe yo khalito doso

Buddho khamatu taṃ mamaṃ

Con đem hết lòng thành kính cúi đầu làm lễ vi trần dưới chân Đức Phật, là Đấng Chí Tôn Chí thánh. Các tội lỗi mà con đã vô ý phạm đến Phật bảo, cúi xin Phật bảo xá tội lỗi ấy cho con.

 

No comments:

Post a Comment