080 Paṭṭhāna
HT Sán Nhiên giảng ngày 11 tháng 11, 2023
Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 080 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ.
Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.
Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.
Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh
Minh Hạnh
Có hai mảnh đất, một mảnh đất bỏ trống không trồng cây gì hết, thì đương nhiên sẽ mọc lên cây dại, cây rừng, cây gai. Một miếng đất trồng cây có 3 loại là danh mộc, tạp mộc, kỳ hoa dị thảo cây ăn trái v.v.
Tạp mộc người ta lấy đem về làm củi đốt mùa đông sưởi ấm cho gia đình.
Danh mộc đem về làm vật gia dụng như bàn ghế tủ giường.
Kỳ hoa dị thảo người ta cắt bông hoa cúng Phật hay là trang trí trong nhà cho đẹp, cây ăn trái thì hái trái ăn.
Thứ hai, trong miếng đất có trồng cây cỏ cũng còn. Dưới bóng cây có bóng mát che thì cỏ mọc ít chứ không hết cỏ, trừ khi mình đổ xi măng đè lấp cỏ thì cỏ tiệt luôn, còn không thì cỏ vẫn còn. Thì người ta muốn vô miếng đất có trồng cây để lấy danh mộc hay tạp mộc người ta phải dọn cỏ cho miếng đất này, còn hơn là miếng đất không trồng trọt bỏ hoang.
Thứ 3, người ta muốn lấy cây trái người ta phải dọn cỏ sạch người ta mới lấy được cây trái về cho gia đình ăn.
Thì giữa 2 miếng đất này, miếng đất không trồng trọt bây giờ mình muốn người ta vô dọn cỏ mình phải mướn người. Miếng đất có trồng trọt mình không mướn mà họ tự làm khi họ vào hái trái hay hái rau.
Do đó, đối với quí Tăng, các chùa không có gieo trồng mà muốn hưởng thì người ta vô làm cho mình mình mắc nợ. Còn cái này mình gieo trồng rồi giờ họ muốn vô lấy thì họ làm mà mình không có mắc nợ mà họ hưởng cái đó và mình cũng hưởng.
Thì khi một vị Sư gieo trồng, in kinh sách, người ta vào thỉnh kinh sách, hay họ vào nghe Pháp, hay họ tham dự khóa tu, thì người ta vào dọn cỏ cho mình, và mình có gieo trồng thì mình được gặt hái, mà người ta cũng gặt hái, thì đó là thành tựu Ba-la-mật.
Để hành Ba-la-mật cho viên mãn mình phải coi mình có gieo trồng cái gì để mình cho chúng sinh dùng cái Ba-la-mật của mình để mình thành tựu cái Ba-la-mật mình viên mãn.
Nên lúc nào Sư cũng gieo trồng, miếng đất của Sư gieo trồng nhiều lắm. Nhìn trở lại các chùa các Tăng Ni không gieo trồng mà muốn gặt hái, muốn người ta vô dọn đất dọn cỏ xây cất to lớn, cái đó là nợ.
Đối với quí Phật tử cũng vậy, mình phải coi 2 miếng đất.
Đức Phật đi khất thực cùng chúng Tỳ Khưu, vị bà la môn bá hộ tên là Bharadvaja có hàng trăm trăm người nông dân đang cày ruộng cho ông trong ngày hôm đó. Chận đường Phật và các vị khất sĩ, ông nói:
- Chúng tôi là nông dân, chúng tôi phải cày sâu cuốc bẫm, bỏ phân, chăm bón và gặt hái mới có được gạo ăn, còn các vị không làm gì cả, không sản xuất gì hết mà các vị cũng ăn.
Đức Phật nói:
- Có chứ, chúng tôi cũng có cày, cuốc, gieo trồng, bỏ phân chăm bón và gặt hái.
- Cày của quý vị đâu, cuốc của quý vị đâu, bò của các vị đâu, hạt giống của các vị đâu? Các vị chăm bón cái gì, săn sóc cái gì, gặt hái cái gì?
Phật nói:
- Hạt giống của chúng tôi là niềm tin. Đất của chúng tôi là chân tâm. Cày của chúng tôi là chánh niệm. Bò của chúng tôi là sự tinh tiến. Mùa màng của chúng tôi là sự hiểu biết và thương yêu. Điền chủ! Nếu không có niềm tin, sự hiểu biết và lòng thương yêu thì cuộc đời sẽ khô cằn và đau khổ lắm. Chúng tôi cũng gieo trồng và cũng gặt hái như điền chủ.
Đức Phật Ngài đâu có nói sai, Ngài là người nói lời chân thật, lời chân ngôn sacca-vādī, và câu chuyện của lời nói của Ngài là Sacca-kiriyā chân hạnh, Ngài có gieo trồng, Ngài có làm.
Nên mình biết cái tu của mình mà không có trí là cái họa cho đường tu của mình, ngay cả người ở trong chùa. Chùa to Phật lớn chỉ là một cái họa thôi. Con đường của mình cũng vậy, mảnh đất của mình có gieo trồng thì lúc bấy giờ mảnh đất sẽ chứng minh mình có gieo trồng. Còn nếu như không có gieo trồng thì lúc Chư Thiên bỏ chạy hết không có ai chứng minh cho mình hết thì Ác Ma vô lượm mình, quí Phật tử phải thức tỉnh.
Thí dụ, Sư nghe Phật tử bệnh Sư muốn cứu bệnh nhân, Sư có gieo trồng, do đó Sư mới cứu được. Thì trong khi đó Sư nói vô chùa lấy mấy cây apple Sư trồng thì họ vô lấy thì họ phải làm cỏ, mà họ làm cỏ đó sạch sẽ. Mình không có trồng cây mà họ vô làm cỏ cho mình một ngày là một công nợ, đó là cách mình tạo Ba-la-mật mình phải có, và cách mình tạo phải đúng chứ còn không là không có một cái gì hết.
Mấy cái cây này Sư trồng Sư cho quí Phật tử là Sư làm xong Ba-la-mật.
Mấy cô phải hiểu mình không có làm và mình không biết làm mà mình muốn hưởng thì là miếng đất bỏ hoang.
Còn mình biết làm thì mình biết hưởng và mình có gặt hái.
Đức Phật Ngài khi Ngài còn là Bồ Tát tới khi đụng chuyện là Chư Thiên bỏ chạy hết, chỉ có mảnh đất ở lại với Ngài. Mà Ngài đã sống với mặt đất thì bây giờ Ác Ma tới Ngài, mà Ngài với mặt đất là một nên Ngài không lo. Còn mình không sống với mặt đất, mình có danh sắc của mình đây thì mình lo, tại vì mình không có cái gì để đối phó, đụng tới mình là mình có vui, buồn, hỉ, nộ, ái, ố, khổ đau, tới liền, chứ mình đâu có sống mặt đất với mình là một.
Trí của Ngài phải thù thắng hơn của Thinh Văn Giác, tại vì Thinh Văn Giác là đường đó bậc Chánh Đẳng Giác đã làm sẵn rồi, các quí Ngài đi đúng Minh Sát Trí. Ngài làm sạch rừng cây cỏ dại này rồi Ngài gieo trồng lên nữa thì phải có trí tuệ.
Dưới mặt đất, dưới sắc thân 32 thể trược này của mình cái nào cứng hơn ? Thì chắc chắn mặt đất cứng hơn, cái 32 thể trược này không đủ cứng, thì khi áp lực của Ba-la-mật đè xuống nếu mình đi với danh sắc 32 thể trược này mình không làm được nếu mình chưa cứng như mảnh đất.
Bữa nay nếu Sư không chia sẻ điều này thì quí Phật tử không chịu nổi Ba-la-mật ở cấp độ cao, đừng nói chi Parami thường, mình càng lên cao thì gió càng lớn, mình ra khơi xa thì sóng càng lớn, mình chưa trang bị đủ thì không thành công, có khi mình mất trước khi Ba-la-mật thành, điều này rất quan trọng mà quí Phật tử không để ý, tại vì mình đụng vô chỉ có danh sắc thôi, mình không nói suông, mình phải giải thích, phải giải quyết, và mình phải sửa đổi.
Sửa đổi bằng cách nào ? Mình phải tìm phương pháp. Đọc lại bài Hành Xả Ba-la-mật, đọc từng chữ của Ngài Mingun nói.
Trong 10 Ba-la-mật: Trí Tuệ Ba-la-mật đi với Đại Thiện Tương Ưng Trí. Trí Tuệ Ba-la-mật đi với nhân Vô Si. Nhưng Hành Xả này nó vượt qua trạng thái đó với trí tuệ phải giải quyết tám ngọn gió đời của chính nghiệp lực của mình chứ không phải là với cảnh đang có, cái nghiệp lực của mình chứ không phải là cảnh, nếu là cảnh thì không phải là Ba-la-mật, cái nghiệp lực của mình.
Vậy thì trở lại, nếu quí Phật tử hành không đúng thì một Sát Na Đạo có 2 chức năng; một là Sát Trừ Phiền Não, hai là thấy cảnh Niết-bàn. Vậy thì khi xả thí Ba-la-mật là đang diệt tánh bỏn xẻn và thành tựu việc Phóng Khí Pariccāga, một động tác mà làm được 2 điều đó thì quí Phật tử có chủng tử của Đạo Quả.
Sát trừ phiền não
Đạo
Chứng đắc Níp-bàn ----> Rỗng Không, Vô Ngã, Vô Thường
Xả thí Ba-la-mật ------> Sát trừ bỏn xẻn
------> Thành tựu Phóng Khí
Một Sát Na chứ nếu mà rời ra là không đúng.
Mình làm cái đó lúc nào cũng đi đôi thì nó mới có chủng tử hay là có nền tảng, mình xây dựng từ Ba-la-mật mới phóng lên được sự giải thoát, Tâm Đạo Tâm Quả của mình.
Còn nếu chia hai, cái này thì đang Phóng Khí thôi, mình đang xả thí này là mình đang Phóng Khí, là đang cho ra. Xưa này mình quan niệm xả thí là cho ra, nhưng mình không quán tỉnh giác này là đang sát trừ cái bỏn xẻn, cái cố hữu bỏn xẻn của mình thì mình bị vuột mất.
Mình phải thấy mình làm lúc nào, làm một vế hay hai vế, một cái tâm mình đi ra mình không bắt 2 cảnh được, do đó, mình phải thấy là 2 cái đó lọng cọng trong khi thực tập.
Khi quí Phật tử đang thực hiện xả thí Ba-la-mật thì nó là Niệm, còn Sát Trừ Bỏn Xẻn và Thành Tựu Phóng Khí là Tỉnh Giác.
Niệm Xả Thí phải Tỉnh Giác 2 vế Sát Trừ Bỏn Xẻn và Thành Tựu Phóng Khí, thì mới được.
Còn nếu Xả Thí, Sát Trừ Bỏn Xẻn, Thành Tựu Phóng Khí đều là Niệm thì mấy cô không có.
Vậy thì mình thấy rõ việc xả thí là diệt trừ bỏn xẻn, cái cố hữu, cái tập khí của mình là keo kiệt không buông ra, thì hai cái diệt trừ bỏn xẻn và thành tựu phóng khí lúc nào cũng có mà chỉ trong một sát na, một cái tâm hay một hành động mình thôi, chỉ trong một sát na mình làm một lúc 2 việc.
Qua tới phần trì giới Ba-la-Mật thì Sát Trừ cái gì trong sự trì giới và thành tựu cái gì trong trì giới Ba-la-mật.
Thì trong trì giới sila, nếu trì giới thì trì giới gì ?
Thí dụ như giới nguyện, phận sự của giới nguyện là gì ? Thì mình phải tìm.
Chức năng của giới ngăn ngừa làm gì?
Giới Sát Trừ làm cái gì ? Mình phải tìm ra được cái đó.
Qua phần Sila, mình đi 3 giới:
Giới nguyện có 2 là Sát Trừ và Thành Tựu
Thì chức năng của giới nguyện nó làm cái gì mà sát trừ
Giới ngăn ngừa có 2 là Sát Trừ và Thành Tựu
Thì chức năng của giới ngăn ngừa nó làm cái gì mà sát trừ
Giới Sát Trừ có 2 là Sát Trừ và Thành Tựu.
Thì chức năng của giới Sát Trừ nó làm cái gì mà sát trừ.
Khi quí Phật tử đi trên Trì Giới Ba-la-mật, cái chức năng trên vế 1 của giới sát trừ là không dễ dui với thân, ngữ, ý, phóng dật thân ngữ ý. Sát trừ phóng dật thân ngữ ý là chức năng của giới sát trừ, mình phải thu thúc thân ngữ ý mới thành tựu sự giải thoát.
Vế thứ 2 là Thành Tựu Giải Thoát Hiệp Thế và Siêu Thế.
Thành Tựu Giải Thoát là thoát được 4 đường ác đạo. Về giữ giới thoát được 4 đường ác đạo là nhân thiên là hiệp thế. Sự giải thoát là Niết-bàn.
Thì khi mình nguyện một giới là mình đang có một tỉnh giác là tôi đang diệt trừ sự phóng dật của thân ngữ ý này. Và Thành Tựu là cắt đứt con đường 4 đường ác đạo hay là con đường sinh tử luân hồi, thành tựu giải thoát hiệp thế và siêu thế.
Khi đi vào trì giới Ba-la-mật, nếu giữ một giới, nếu giữ giới nguyện giữ một giới thôi là mất một về. Nếu nguyện giữ giới mà không hiểu được 2 vế thì giữ có một vế thì đi công thức của Đạo Quả.
Sát trừ phiền não
Đạo
Chứng đắc Níp-bàn ----> Rỗng Không, Vô Ngã, Vô Thường
Mà đi từ Ba-la-mật này tới Ba-la-mật kia mình ráp lại đi tới cửa Đạo mới ráp Sát Na Đạo này được.
Vậy thì khi phương tiện đưa đến cứu cánh của trì giới là ngăn ngừa thu thúc thân ngữ ý mà đưa đến cứu cánh là giải thoát luân hồi. Mượn cửa Giới Nguyện để ngăn ngừa giới Sát Trừ này là để làm phương tiện chặn thói quen thân ngữ ý của mình phóng dật, cái tập khí, cái kiết sử, cái thói quen thân ngữ ý của mình, buông lung phóng dật.
Bây giờ mình làm như là mình làm cái vòng kiềm tỏa để bó chặc thân ngữ ý mình không để nó phóng dật, nhưng cứu cánh của nó là đưa mình giải thoát, chứ nó không làm cái gì để cho mình sinh tử luân hồi lại, thì mấy cái đó quí Phật tử làm một cái nguyện trì giới Ba-la-mật là làm được 2 giới.
Một nguyện xả thí Ba-la-mật làm được 2 vế.
Một nguyện ly dục Ba-la-mật làm được 2 vế thì mới ra được Đạo Quả.
Sát trừ phiền não
Đạo
Chứng đắc Níp-bàn ----> Rỗng Không, Vô Ngã, Vô Thường
Chứ còn không là đi suông suông, một là phải trở lại làm vế thứ 2.
Thí dụ như bây giờ đi con đường xả thí Ba-la-mật
Xả thí Ba-la-mật ------> Sát trừ bỏn xẻn
------> Thành tựu Phóng Khí
thì thường thường là đi Phóng Khí nhưng không sát trừ bỏn xẻn, mình nhìn cảnh, nhìn người, nhìn việc làm mà mình không nhìn Tâm mình đang gột rửa này.
Quí Phật tử phải ngồi nghiệm lại, làm được cái này thì mỗi một cái nguyện của mình, mỗi cái Ba-la-mật của mình như miếng đất trồng cây, cô bỏ một cây vô, nếu là người có trí thì họ bỏ vô một danh mộc, người mà không có trí thì bỏ tạp mộc, còn hơn là miếng đất bỏ hoang. Con người mà không có con đường Ba-la-mật nào thì mình đang ở trong miếng đất bỏ hoang thôi, rồi một ngày nào đó mình cũng vô dùng miếng đất đó được, khi để kiếp này qua đến kiếp kia mà không tu tập không gieo trồng thì một kiếp nữa một mảnh đất đó của mình không nhìn vô nổi, và mình nhìn đi, nhìn người thân của mình mà họ không tu tập đừng nói chi là có Ba-la-mật mình sẽ thấy thân, ngữ, ý của họ như một cánh đồng hoang, một miếng đất hoang mình không dám tới gần. Còn nếu mình có trồng người ta đi ngang qua thấy họ muốn vô mình cho họ vô thu hoạch thì họ vô họ làm cỏ đất cho mình mà mình không mất công nợ.
Ly Dục -------> Sát Trừ Tham Dục / Ái Dục
-------> Thành Tựu Ly Dục ( Dục giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới)
Trí Tuệ ------> Sát Trừ Vô Minh (Bát Bất Tri)
-------> Thành Tựu Minh
Trí Tuệ là Sát Trừ Vô Minh, và Thành Tựu là Minh sanh, Vô Minh diệt Minh sanh.
Quí Phật tử chỉ nghĩ một vế chứ không nghĩ cả 2 vế, do đó, phải làm lại lần thứ 2.
Như xả thí cúng dường, nhưng không nghĩ tâm mình đang làm một hành động bỏ xuống xả thí là mình đang diệt một cái bỏn xẻn của mình. Có khi mình thiếu trí Sát Trừ Bỏn Xẻn vì mình thấy cảnh là bung ra liền. Có khi mình làm.
Thì khi nguyện làm nhân đến Đạo Quả Niết-bàn làm có một về thì không đủ.
Sát Trừ Vô Minh là Bát Bất Tri và Thành Tựu Minh Sát Trí, Minh Giải Thoát.
Vậy thì khi đang hành một pháp thiện và đang áp dụng trí tuệ Ba-la-mật thì pháp thiện đang làm phải thành tựu 2 vế; sát trừ Tập Đế hay đang sát trừ Khổ Đế hay đang làm việc thiện, bất cứ làm việc thiện gì trong Thập Thiện, trong Thập Phúc Hành Tông, thì mình sát trừ Tập Đế này thì lúc đó là đang ở Sát Trừ Vô Minh, tại vì Bát Bất Tri thì dùng Trí Tuệ Ba-la-mật, chứ không nói dùng Trí Tuệ Ba-la-mật suông được.
Việc thiện nào tôi đang làm là tôi diệt Tập Đế, cái mầm Ái Dục hay là Bát Bất Tri. Hay việc thiện xả thí này, việc thiện trong tất cả cảnh trần là tôi đang hành Ly Dục Ba-la-mật, thì trong tham dục trong Ái Dục này, trong Tam Giới này tôi phải vượt qua, thì quí Phật tử đang làm một việc thiện Ly Dục Ba-la-mật, một việc thiện làm với Trí Tuệ Ba-la-mật quí Phật tử phải tìm ra được cái sát trừ và đang làm sự thành tựu đó. Có Sát Trừ thì mới có Thành Tựu, còn mong rằng được Thành Tựu mà chưa Sát Trừ thì chưa hết, nó vẫn còn, nó chưa đến Thành Tựu.
Thiền sinh hỏi: trong 10 Ba-la-mật mà người nào làm một trong 10 hay là làm hết 10 cái được thì càng tốt hơn nữa. Thì khi họ làm như vậy là họ đã có, thí dụ 1 Ba-la-mật họ đã sát trừ được bất thiện rồi. Khi họ làm được thành tựu rồi thì họ thấy rõ ràng là họ đang trên con đường tiến dần đến Niết-bàn. Tất cả những cái nào con nghiệm thấy là như vậy đó.
HT trả lời: Nhưng đa phần cô nói nhưng lúc mình vô trong cảnh mình không nhớ, mình thiếu vế.
Như vậy thì khi mình làm lúc nào cũng là 2 vế thì mảnh đất của tôi có gieo trồng, khi Ác Ma tới hỏi mình mảnh đất này lấy gì làm chứng, miềng đất làm chứng, tôi có gieo trồng thì mảnh đất này làm chứng cho tôi.
Đây Sư chỉ nhắc nhở lại thôi hay là Chư Thiên nhắc nhở thôi, mà nếu có gieo trồng thì có gặt hái, mà ai làm chứng? mảnh đất đó mà mình đang gieo trồng sẽ làm chứng.
Do đó, mình mới thấy rằng khi Bồ Tát nói Ngài không phạm ngôn, khi Ác Ma hỏi: "Lấy gì làm chứng cho ngươi, ta có quân ma làm chứng cho ta ?"
Thì Ngài nói: Quả địa cầu này, mảnh đất này làm chứng cho ta.
Thì Ngài có làm, Ngài có gieo trồng, cây đó, miếng đất đó có sự xác thực.
Từ đây về sau mà mình biết được cái này thì mình nhớ; tôi gieo trồng trên mảnh đất của tôi thì mảnh đất này sẽ chứng cho tôi những gì tôi đã có gieo trồng và không có mất được.
" Ngũ giới bất trì, nhơn thiên lộ triệt" Ngũ giới có trì thành tựu nhân thiên, đó là con đường giải thoát 4 đường ác đạo. Đầu tiên mình phải có sơ đạo sơ quả là cắt 4 đường ác đạo, rồi cắt tới nữa rồi mới tới 3 loại cao nữa là ra khỏi Tam Giới bởi giữ giới
Câu kinh về giới:
Sīlena sugatiṃ yanti sīlena bhogasampadā sīlena nibbutiṃ yanti tasmā sīlam visodhaye
Tất cả chúng sanh được sanh về cõi trời cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giàu sang tài vật cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giải thoát nhập Niết bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy, Chư thiện tín hãy cố gắng thọ trì giới luật cho được trong sạch đừng để lấm nhơ .
Khi mình giữ giới mình chỉ giữ thân, ngữ, ý mình hay chỉ giữ giới thôi chứ mình không đi 2 vế vì quên hay không được nhắc, thì lúc đó mình chỉ giữ giới thông thường chứ không phải giữ giới Ba-la-mật.
Nên mỗi tối ngồi xuống quí Phật tử nguyện trì giới Ba-la-mật thì nói 2 vế; " giới này tôi nguyện để sát trừ, giới này tôi nguyện để tôi thành tựu." Mình phải sát trừ pháp nghịch của mình.
Như vậy thì tất cả Ba-la-mật nó có 2 vế, sát trừ pháp nghịch thì mới thành tựu pháp thuận được, nếu quí Phật tử không biết để mình nguyện sát trừ pháp nghịch thì khi muốn thành tựu pháp thuận không thể được, đó là thất Niệm, chứ không phải là thiếu Niệm, thiếu là chưa đủ, còn thất là đi ra ngoài.
Thí dụ như 10$ mà mình chỉ có 9$ tức là thiếu 1$. Còn thất 10$ là mất hết không còn đồng nào hết.
Vậy là mình thất Niệm.
Trước tiên coi mình ở mảnh đất nào, thứ 2 là miếng đất của mình là miếng đất có trồng trọt, nhưng gieo trồng loại nào, có danh mộc, có kỳ hoa dị thảo, có tạp mộc, có cây ăn trái những thứ này mình có hết, vậy phân tích ra thì có bao nhiêu phần trăm; thì tạp mộc có 90%, danh mộc chỉ có 10%
Thì bao nhiêu phần trăm mình liệt kê ra. Nếu miếng đất gieo trồng đủ các loại danh mộc, tạp mộc, bông hoa, cây ăn trái, thì người mà tới để gặt hái họ làm sạch cỏ cho mình thì sẽ có đủ các loại người trong đó. Do đó các Bồ Tát từ bậc Chánh Đẳng Giác, Độc Giác, Thinh Văn Giác họ gieo trồng trên mảnh đất Ba-la-mật của họ, toàn bộ là danh mộc. Quí Phật tử phải gạn lọc và gạn lọc trong phương pháp nào họ gieo trồng. Tức là mỗi một cái mà làm họ đã có sát trừ trong đó, do đó không thể nào có những tạp mộc vô trong mảnh đất mình trồng danh mộc này, thì người ta mới tới gặt hái được và chính mình cũng gặt hái trong đó nữa.
Mình đi trong trạng thái Ba-la-mật chứ không phải trạng thái thông thường hay đi pháp thiện thông thường, pháp thiện có khi có vô tham, vô sân, có khi có 3 nhân, có khi có 2 nhân. Nhưng đi pháp toàn thiện (Ba-la-mật) này thì không thể náo thiếu xót cái nào mà nó khiếm khuyết được, nó phải hoàn hảo.
Vậy thì khi hiểu được miếng đất mình gieo trồng là Ba-la-mật thì khi hành Ba-la-mật mình phải làm trong cái sát trừ để được thành tựu cái cây đó gieo xuống nó sẽ có kết quả của đạo quả của nó. Không có khinh xuất, không cần phải làm nhiều mà phải làm chắc.
Khi ta muốn hành Ba-la-mật và số lượng Ba-la-mật ta đã hành và đang hành thì mình coi lại chất lượng bao nhiêu thì mình mới gạn lọc ra được thì đường đạo quả của mình mới đi tới được, còn không mình ngồi đếm nhưng mình không có chất lượng lại thì khi mình cần tới nó thì mình đã rớt trong đội quân ma nó tới đánh mình rồi.
Mình coi lại 10 đạo quân ma, thì mấy đội quân ma đó mình coi mình đủ sức để qua được bao nhiêu đội quân ma trong một ngày, đừng nói chi trong cuộc đời. Quân ma nào ra mình cũng rớt hết.
Và khi mình rớt hết trong một ngày khi đội quân ma tới mình rớt hết thì mình mới biết là mình không có Ba-la-mật. Danh cũng rớt, lợi cũng rớt, an vui cũng rớt, khổ đau cũng rớt, tất cả những đội quân ma nào đưa ra mình cũng rớt hết. Khen mình chê người, cũng rớt, mình phải coi lại mình có Ba-la-mật không.
Thì khi đội quân ma tới, mình có cái vế đầu tiên, cái giới sát trừ là mình có thì mình mới có thành tựu, thì mình mới có Ba-la-mật thì ác ma nó mới không đánh mình được. Còn mình chỉ có một vế thành tựu mà vế sát trừ mình chưa có nó vẫn còn mọc nấm trên con người mình, nó sẽ mọc lại, đó là pháp anusaya tiềm thụy, ngủ ngầm trong tâm. Đội quân ma là pháp ngủ ngầm, nó không có nổi ra ngoài, nó nằm ngủ ngầm trong con người của mình.
pañca-māra = Ngũ Ma
1. Phiền Não Ma
2. Pháp hành ma (có Phúc Hành, Phi Phúc Hành, Tối Thắng Hành)
3. Ngũ Uẩn Ma
4. Tử Thần Ma
5. Thiên Ma
Thập Đội Quân Ác Ma
1/ Tham dục, hay là những cảm giác khoái lạc xuyên qua các căn.
2/ Sự bất mãn này là một cảnh, cảnh gì, nhân gì.
3/ Sự đói và khát. Khi mình bị đói và khát, cảnh nó đến với mình, Nhân, Trưởng nó lên liền.
4/ Tham ái, lòng khát vọng
5/ Hôn trầm thụy miên
6/ Sự sợ hãi : nhút nhát + sợ sệt
7/ Sự hoài nghi
8/ Sự phỉ báng + sự tự tôn (dèm pha ngoan cố)
9/ Sự lợi lộc (tán tụng, khen ngợi, danh dự, danh thơm tiếng tốt một cách sai lầm hay tà vạy.
10/ Tự khen mình và chê hay phỉ báng người.
Đó là 10 đạo quân ác ma,
Thập đội quân ma có 3 bao nhiêu ở trong Phiền Não Ma, bao nhiêu trong Pháp Hành Ma, bao nhiêu trong Ngũ Uẩn Ma, bao nhiêu trong Tử Thần Ma, mình kiểm lại.
Khi đội quân ma tới dưới hình thức của Phiền Não Ma trong Ngũ Ma, nếu mà nó tới dưới Thập Đội quân Ma; Danh và Lợi, Đói và Khát là một trong đội quân Phiền Não Ma. Nếu mình không thấy để Sát Trừ Phiền Não thì mình rớt phần Thành Tựu Ba-la-mật
Nhưng khi mình có Xả Thí Ba-la-mật mình sát trừ được cái bỏn xẻn này là cái Phiền Não của đội quân ma thì mình mới thành tựu được Ba-la-mật, mình tìm ra được công thức.
Nếu mình cứ làm mà không coi lại vế Sát Trừ thì mình cứ làm cái vế Thành Tựu rồi cho là tôi thành tựu Ba-la-mật thì nó chỉ ít thôi, nó không có chất lượng, không có kết quả, khi Ác Ma tới là mình rớt liền.
Chư Thiên không có Sát Trừ, Chư Thiên hưởng dục, do đó khi Ác Ma tới Chư Thiên bỏ chạy, còn mình là người tu là mình phải đối diện với cái phiền não là Sát Trừ thì mình mới đối diện được với cái đội quân ma chứ đừng nói tới Ác Ma.
Phiền Não Ma là một trong Ngũ Ma, chỉ có Ba-la-mật mới diệt được. Và khi mình gieo trồng mình mới có để mình hưởng được, còn không thì không có, nếu chỉ làm pháp thiện không đòi hỏi cái đó.
Do đó, khi xả thí mình có xả thí nhưng chưa xả thí Ba-la-mật, tôi có xả thí Ba-la-mật nhưng chỉ có một vế thôi, là phóng khí (từ bỏ tài sản) thôi chứ chưa diệt tâm bỏn xẻn của mình, bỏn xẻn đang ngủ ngầm trong mình chứ chưa diệt trừ hết.
Thập Đội Quân Ma nằm trong Ngũ Ma, mà Ngũ Ma này là nó ở trong mình. Qua bài Mara có 4 chứ không nói 5, thì mình thấy đội quân ma nằm trong đó thì mình có 4, mà 4 x 10 đội quân ma thành ra 40 pháp nghịch nằm trong người mình.
Như vậy thì trong Pháp Hành Ma mình có Phúc Hành, Phi Phúc Hành, Tối Thắng Hành. Thì khi một đội quân ma đến với một trong 4 cái này thì 10 cái vô 4 là cô đỡ không nổi.
Con đường đi tới bậc Thinh Văn Giác chỉ có pāramī thôi,
con đường đi tới bậc Độc Giác upparami là 10 x 2 = 20,
con đường đi tới của bậc Chánh Đẳng Giác Paramattha param là 10 x 3 = 30.
Mà trong con người mình có 40 pháp nghịch.
Do đó, tại sao mình tính ra được số kiếp luân hồi là vì mình chưa diệt được hết cái ngủ ngầm thì mình chưa giải thoát được, giờ mình tìm ra được. Trước tiên quí Phật tử tìm ra còn bao nhiêu kiếp mới ra khỏi luân hồi.
Chánh Đẳng Giáo có 30 Ba-la-mật mà chống 40 pháp nghịch thì Ngài phải trải qua 20 a tăng kỳ một trăm ngàn kiếp, đó là với bậc trí tuệ.
Còn bậc Thinh Văn Giác không cần phải đi cứu độ chúng sinh, Ngài sống bình thường đơn giản 10 Ba-la-mật thôi, thì mình phải lấy 10 Ba-la-mật để trì 40 pháp nghịch này, thì số đó mỗi một kiếp như vậy phải bổ túc bao nhiêu mới ra được một ngàn kiếp hay là một trăm ngàn kiếp thì mới ra vị Thinh Văn Giác được giải thoát.
Vậy thì khi mình biết được như vậy thì mỗi một ngày hôm nay nếu như chưa có Ba-la-mật thì mảnh đất của quí Phật tử còn bao lâu nữa có danh mộc, bao lâu nữa mới gặt hái, thì mảnh đất đó sạch sẽ an toàn. Hãy kiếm câu trả lời.
Quí Phật tử là Thinh Văn Giác với trận giặc là 40 pháp thì có bao nhiêu Ba-la-mật ngay từ bây giờ trở về trước, bữa nay và ngày hôm qua mình có bao nhiêu Ba-la-mật ?
Pháp Hành quí Phật tử cũng còn, các pháp đội quân ma, cái ngũ uẩn này cũng còn, đội quân ma nó ngủ ngầm, thì mình lấy Ba-la-mật để mình nạy nó ra đẩy nó ra thì quí Phật tử nói có bao nhiêu Ba-la-mật, mình lấy Ba-la-mật để đẩy các pháp ma này ra khỏi mình.
Ngũ uẩn; sắc, thọ, tưởng, hành, thức nằm trong đội quân ma thì mình bị cái nào, bằng Ngũ Uẩn đã gieo trồng được bao nhiêu Ba-la-mật chỉ ở trong Ngũ Uẩn này, mỗi cái Sắc Uẩn của tôi có Ba-la-mật, mỗi cái Thọ Uẩn của tôi có Ba-la-mật, thì quí Phật tử mới ngăn ngừa được cái đội quân ma xâm phạm.
Khi nói Sắc Uẩn của tôi nằm trong cái kiên cố xả thí Ba-la-mật, Sắc Uẩn của tôi nằm trong Hành Xả Ba-la-mật thì đội quân ma vô được. Cái Thọ Uẩn của tôi nằm trong kiến cố Trí Tuệ Ba-la-mật, nằm trong kiên cố của Hành Xả Ba-la-mật thì đội quân ma vô, phải tính ra, sắc của tôi 10 Ba-la-mật, Thọ của tôi 10 Ba-la-mật thì đội quân ma vô không được, thì mình có sự ngự phòng. Còn nếu như Sắc tôi chưa có ba-la-mật nào hết thì đội quân nào cũng có nằm trong người tôi hết.
Chỉ là Ngũ Uẩn thôi. Mà đây quí Phật tử đã từng nói là có Hành Ba-la-mật rồi, có gieo trồng rồi. Mình sống chung thực chứ mình không có nói dối được.
Thì cái này Sư với quí Phật tử mình cùng giúp sức nhau để qua sự luân hồi này thôi. Do đó mình không biết người nào đi trước người nào đi sau, người nào giải thoát trước, người nào còn luân hồi, mình phải tự kiểm kê lại.
Trong Ngũ Uẩn, trong Sắc Uẩn của tôi có Ba-la-mật, trong Thọ Uẩn của tôi có Ba-la-mật, trong cái Tưởng của tôi có Ba-la-mật, trong Hành của tôi có Ba-la-mật, trong Thức của tôi có Ba-la-mật. Ngũ Uẩn của tôi được gieo trồng Ba-la-mật, tôi không có khiếm khuyết, tôi không có thiếu, thì đội quân ma không xâm nhập vô được.
Hôm nay Sư muốn đưa cho quí Phật tử một vấn đề phải kiểm kê lại và gạn lọc lại mới có nhận xét lại, chứ mình không có báo cáo suông mà báo cáo con số ma được, phải báo cáo sự thật.
Trong tham sân si là phiền não tôi không còn phiền não này vì tôi đã có Ba-la-mật rồi.
Trong pháp Tham Phiền Não này tôi không có vì tôi có Ba-la-mật. Trong sân phiền não này tôi không có vì tôi có Ba-la-mật.
Vậy thì đối với tham phiền não nó đến với mình nó có 2 cái, cảnh ngoại và cảnh nội, ngoại cảnh và nội cảnh ở tâm mình, thì khi cảnh tham phiền não thì lấy pháp gì có để mà diệt trừ nó. Cái tham phiền não nó đến nếu là cảnh ngoại hay là cảnh nội thì quí Phật tử lấy pháp Ba-la-mật nào để mà diệt trừ nó ngay trong mỗi sát na hay trong mỗi sự việc đến.
Do đó, khi mấy cô hành thì mấy cô sẽ so le, do đó đạo quả mình không ai giống nhau.
Đức Phật nói không ai cùng nhau đắc đạo Ekayāno Maggo.
Khi Tham Phiền Não đến mấy cô hành pháp Ba-la-mật nào ?
Khi người ta bỏ vô chén mình một món ăn thì mình phải lấy Trí Tuệ Ba-la-mật sát trừ cái tham phiền não này bằng Trí Tuệ Ba-la-mật. Mình tập Ly Dục và chú nguyện phải thành.
Khi người ta bỏ thức ăn vô chén của mình, cái này là một tham phiền não của mình thì mình phải lấy trí tuệ nhìn vô nó và Ly Dục và mình chú nguyện mình thành tựu cái Ba-la-mật.
Tham Phiền Não là anusaya là tiềm thùy là ngủ ngầm, nó che lấp, do đó mình không có Trí Tuệ Ba-la-mật, mình không có cái Ba-la-mật kiên cố là gục ngã trước cái sự hiện bày rồi.
Bất cứ việc gì tới mình lấy Trí Tuệ Ba-la-mật phán xét trước rồi mới dùng Ly Dục Ba-la-mật và Chú Nguyện thì mới thành. Chứ nó qua rồi mới dùng Ba-la-mật thì không thành vì mình chưa có Ba-la-mật, và bài học đó quí Phật tử không thành, vì miếng đất này chưa có gieo trồng, mà mình nghĩ mình có gieo trồng, mình nghĩ là mình có hành và mình có vốn ở trong đây rồi. Trước mỗi Phiền Não, đây là một thử thách, đây là một sự cản trở, đây là một pháp nghịch là mình phải dừng liền.
Quí Phật tử phải cẩn thận, con đường tu là trường thi mà nó không có trạng thái thiên vị ngã nghiêng được, nó là nghiệp, là công bằng mà mình chết là do cái tâm mình không có kiên cố thôi.
Một điều Sư dặn quí Phật tử, đó là điều mình kiểm lại mình thấy mình còn khinh suất. Tham Phiền Não nó ngủ ngầm và nó thảy vô một cái là mình rớt, mình phải tỉnh thức, không dễ dui, trong khi mình cũng phải có Niệm và trong hành động mình làm phải có Tỉnh Giác, chứ không có vị tình, nếu vị tình là thua.
Quí Phật tử thấy Sư làm bao nhiêu cái Thân Giáo mà quí Phật tử không bao giờ để ý, tới chùa với tạp khí của mình, Sư không khỏe, Sư mệt, Sư không còn sức để làm, Sư ngưng, mà cái đó là mấy cái phiền não, chưa nói tới Pháp Hành, chưa nói tới Ngũ Uẩn của mình, và quí Phật tử thấy từng bước đi trong pháp Ba-la-mật này không có kiên cố.
Mình vị tình, vị tình trong cái phải, vị tình trong cái sai, vị tình trong lý trí, vị tình trong tình cảm mình cũng sai.
Khi ta làm với trí tuệ ta phải có Tam Tư; Tư Tiền, Tư Hiện, Tư Hậu. Và ta phải có 3; Văn, Tư, Tu, mình phải có Kiến Văn, và phải có Tư Duy, mình phải có suy nghĩ, mình có kiến thức và có suy nghĩ và bắt đầu hành động phải đi theo trí tuệ chứ không theo tập khí kiết sử
Khi Bồ Tát ngồi dưới cội cây Chư Thiên bỏ đi hết chỉ còn một mình Ngài, và Ngài lấy Ba-la-mật của Ngài, và Ba-la-mật của Ngài là Văn, Tư, Tu, Ba-la-mật của Ngài là tam tư; Tư Tiền, Tư Hiện, Tư Hậu, và Ba-la-mật của Ngài đối diện được với Phiền Não, Pháp Hành, Ngũ Uẩn, Tử Thần, thì đội quân của Ác Ma không phá được Ngài.
Với mình chỉ đội quân đói khát là mình đã thua rồi. Thọ Uẩn của mình ở trong Phiền Não.
Thì khi Phiền Não tới, mình phải đặt Tham Phiền Não với cái khía cạnh Tuệ Văn của mình dùng Ba-la-mật nào thì mình mới nói được, mới liệt kê Tham Phiền Não này nằm ở trong Tuệ Văn của mình đó là Hành Xả Ba-la-mật hay là Trí Tuệ Ba-la-mật mới nói được chứ không có nói suông.
Thế thì Tham Phiền Não gốc của nó là Lobha, ngữ căn của nó là Lubh nghĩa là bám chặt vào, là sự dính mắc, Tâm Thức mình còn dính mắc, thì cái Tham hiện bày một cái Phiền Não thì sài Ba-la-mật nào mới trị đúng thuốc mới hết bịnh, chứ không phải nói suông được.
Nên quí Phật tử phải cẩn thận, bài thi không phải lúc nào cũng có sẵn và loại giải đáp đó đâu phải mọi người giống hệt nhau, thiền còn 6 tánh, tam tướng Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, mỗi người nhìn mỗi khác.
Thì khi định được bệnh của mình thì mới dùng thuốc đúng mới trị được chứ không có công thức.
Tôi có dính mắc thì tôi có tham, thì bệnh tôi đang có là dính mắc thì tôi phải sài Ba-la-mật nào tương ứng thích hợp cho sự tu tập của tôi thì mới diệt được nó. Cái đó Đức Phật Ngài Trí Tuệ Ngài đưa 10 cái Ba-la-mật là cho mình có thể thực hành được tùy theo để mình dùng trong Tuệ Văn của mình, trong Tuệ Tư của mình, chứ Ngài không áp đặt mình cái nào, cái nền tảng là Trí Tuệ Ba-la-mật là mũi nhọn, có Ly Dục và Chú Nguyện là 2 cái hỗ trợ sắc bén, nhưng với căn bệnh của mình mình biết, với cái Tam Tướng mình hiểu thì sự tu tập mới đạt đến kết quả chính xác, và căn bệnh sẽ dứt điểm thì mới Thành Tựu.
Chữ Thành Tựu là, mình dứt cái sát trừ này dứt tuyệt thì mới có Thành Tựu.
Đạo là không còn phiền não, chứ còn lợn cợn phiền não thì không được.
Câu hỏi HT đưa ra: Tham Phiền Não đến mấy cô đi thế nào ?
HT trả lời: Đi Trí Tuệ Ba-la-mật + Ly Dục và Chú Nguyện, để diệt trừ Tham Phiền Não đó.
Phát Thú có 4 pháp; pháp thuận, pháp nghịch, pháp nghịch, pháp thuận. Có khi mình đi pháp nghịch cái pháp Tham Phiền Não này mình dùng trí tuệ là mình đi pháp thuận. Còn đi Pháp Nghịch là đi Hành Xả Ba-la-mật để mà đánh cái cố tật của mình cái Tham này đi Hành Xả để nó cọ sát nó phá cái Tham trong con người mình ra.
Thì người mà đi Hành Xả với cái Tham Dục này không diệt cái ngã họ được mà họ phải đi qua con đường Vô Ngã.
Còn người Trí Tuệ họ đi qua con đường diệt cái tham dục này cái Tham Phiền Não này họ thấy sự khổ đau ./.
-----------------------------------------
Chú Thích
Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:
1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.
2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.
3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma. - Pháp hành ma (có Phúc Hành, Phi Phúc Hành, Tối Thắng Hành)
4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.
5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.
--------------------------------------
Bát Bất Tri là 8 điều mình không biết. Là bốn bất tri Tứ Đế + với bốn bất tri quá khứ, hiện tại, tương lai, và liên quan tương sinh:
1. Bất tri khổ (Dukkhe aññāṇaṃ), không thông hiểu về sự khổ ngũ thủ uẩn.
2. Bất tri khổ tập (Dukkhasamudaye aññāṇaṃ), không thông hiểu tập khởi của khổ.
3. Bất tri khổ diệt (Dukkhanirodhe aññāṇaṃ), không thông hiểu sự diệt khổ.
4. Bất tri đạo lộ khổ diệt (Dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṃ), không thông hiểu con đường đưa đến diệt khổ.
5. Bất tri quá khứ (Pubbante aññāṇaṃ), không biết rằng mình đã từng hiện hữu ở quá khứ, có kiếp sống quá khứ.
6. Bất tri vị lai (Aparante aññāṇaṃ), không biết rằng mình sẽ có mặt trong tương lai, có kiếp sống sau.
7. Bất tri quá khứ vị lai (Pubbantāparante aññā-ṇaṃ), không biết có đời sống quá khứ và vị lai, tức là đời sống vui khổ hiện tại bị chi phối bởi quá khứ, và sở hành hiện tại ảnh hưởng vị lai.
8. Bất tri pháp liên quan tương sinh (Idappaccayatāpaṭiccasamuppannesu dhammesu aññāṇaṃ), không biết duyên khởi các pháp, sanh do nhân quả liên quan, như do vô minh có hành, do hành có thức v.v...
-----------------------------
Pariccāga gọi là Phóng Khí, là không để ý tới.
----------------------------
tám thế gian pháp (Lokadhamma), tám pháp đời, tám thói đời:
1. Được lợi (Lābha)
2. Mất lợi (Alābha)
3. Được danh (Yasa)
4. Mất danh (Ayasa)
5. Chê bai (Nindā)
6. Khen ngợi (Pasaṃsā)
7. Hạnh phúc (Sukha)
8. Đau khổ (Dukkha).

