Saturday, September 5, 2026

085 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 16 tháng 12, 2023

 085 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 16 tháng 12, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 085 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

THE GREAT CHRONICLE OF BUDDHAS

BIÊN NIÊN SỬ CỦA CHƯ PHẬT

VOLUME ONE - PART 1

TẬP MỘT - PHẦN 1

Mở trang 'Tác Giả'. Từ trang 5 cho đến trang 13. Tóm tắc:

Tác giả, là Đại Trưởng Lão Bhaddanta Vicittasārābhivaṃsa, Ngài được biết đến với tên gọi một cách phổ thông là Đại Trưởng Lão Tam Tạng Thục Thủ Mingun, sinh Ngày 11 tháng Mười Một, Năm 1911 trong ngôi làng Thaibyuwa.  Vào lúc tuổi lên tám,  Ngài được gửi đến Đại Trưởng Lão U Sobhita của Tu Viện Mingyaung, Myingyan, để bắt đầu học các nguyên lý cơ bản của Phật Giáo.  Khi được mười tuổi, Ngài thọ Sa Di Giới bởi cùng một vị Đại Trưởng Lão.  Mười năm sau, nhằm tăng tiến cho việc học, Ngài đã đến Tu Viện Dhammanāda, một nơi tách biệt của các bậc Thánh nhân, tại Mingun.  Vào năm 1930, Ngài đã được thọ Đại Giới, những nhà bảo trợ cho Ngài là Bà Dhammacārī, một vị Tu Nữ tài danh và uyên bác của thành phố Mingun, là tác giả của Bộ Phụ Chú Giải Chân Ngôn (Saccavādī Tikā), và Ngài U Thwin, là một nhà từ thiện giàu có của thành phố Yangon.  Kể từ đó, Bà Dhammacārī trở thành người Mẹ tinh thần và Ngài U Thwin là người Cha bảo hộ cho đời sống tu tập của Ngài.  Vào năm 1937, khi vị Đại Trưởng Lão Đệ Nhất của Tu Viện Dhammanāda, là vị Thầy Tế Độ cho việc xuất gia của Ngài qua đời, Ngài đã phải đảm trách ngôi Tu Viện. (Trang 6)

-------------------

Nên quí Phật tử phải hiểu là, Ngài Mingun này Ngài trải qua những khóa học của trường lớp trong chùa của Giáo Hội Ngài đều đỗ thủ khoa. Ngài là người đầu tiên học 16,000 trang, một kỳ thi vô cùng khó khăn, chỉ có vài thí sinh đảm đương nổi và Ngài đỗ thủ khoa Pháp Sư Pháp Học Thịnh Vượng Ngài đạt được hết. (Trang 7)

---------------------

Ở bên Ấn Độ người ta kính phục cái trí tuệ của Ngài.

Kết tập Tam Tạng trên thế giới có 6 lần kết tập ; Từ kết tập Tam Tạng lần thứ nhất sau 3 tháng Đức Phật viên tịch tại thạch động với 500 vị Alahan cho tới kết tập Tam Tạng lần thứ 6 tại Miến Điện vào năm 1954.  kết tập trong vòng 2 năm, đọc mỗi ngày, rồi ăn uống ngủ nghỉ, với hơn trăm ngàn nhà Sư tham gia ở trong Thạch Động, và quy luật là phải thuộc lòng Tam Tạng mới được. Do đó ngày hôm nay trên thế giới chưa ai dám làm, chỉ có Miến Điện làm được. 

Ở Miến Điện họ có kỹ thuật  như là tốc ký, họ ghi notes, họ đọc vào đó là họ biết và họ trả lời được hết. Thì Ngài Mingun lập ra cái đó. Nên cho tới ngày nay Thái Lan họ có tiền, nhưng không có người thuộc lòng Tam Tạng. Thế giới không chấp nhận cho Thái Lan đứng làm kết tập Tam Tạng lần thứ 7, còn bên Miến Điện này có, bây giờ có 12 vị, và vị thứ 11 mới chết vì bị bệnh ung thư. 

Thì chưa làm được là cần có 2 điều; thứ nhất là người hỏi, và người đáp. Vị Đáp Vấn Viên là "Người trả  lời những câu hỏi trong cả ba phần của Giáo Điển".  Bàn Vấn Viên là "Người nêu lên câu hỏi". Chỉ có thời của Ngài Mahāsi Ngài là Bàn Vấn Viên vì Ngài là người nêu lên câu hỏi, còn Đáp Vấn Viên là người trả lời là Ngài Mingun, 2 vị này là thủ khoa. Mà người ta đồn rỉ tai chứ không xác nhận là Ngài Mahāsi là Alahan thì mới làm được.  Trong khi trả lời những câu hỏi, tác giả (Ngài Mingun) đã đóng vai trò kết hợp của Trưởng Lão Upāli và Trưởng Lão Ananda, là những vị đã trả lời những câu hỏi lần lượt trong từng mỗi phần về Giới Luật và Giáo Pháp một cách tương ứng, tại Hội Nghị lần thứ nhất được chủ trì do bởi Đại Trưởng Lão Kassapa. (trang 9)

Rồi trong Hội Đồng Giám Khảo hay Hội Đồng Kết Tập Tam Tạng phải có một vị Trưởng Lão, kỳ kết tập Tam Tạng thứ 6 có vị Trưởng Lão 96 tuổi, người ta khiêng Ngài ra bằng cái kiệu, đặt nằm trên đỉnh núi có thạch động, khi đọc sai thì Ngài bấm chuông liền và phải đọc lại. Thái Lan chưa đủ.

Khi đọc xong, kết tập Tam Tạng 2 năm xong rồi là xác nhận bộ Tam Tạng được hiệu đính lại, sửa sai, điều chỉnh lại hết thì Giáo Hội theo lời yêu cầu của Thủ Tướng U Nu, là vị  Chánh Phủ của nước Miến Điện U Nu, ông mới thỉnh cầu Ngài Mingun vô trong ban quản lý của Giáo Hội, giữ chức Tổng Thư Ký, chứ chưa được là Tăng Thống.

Bộ Chủng Tộc Chư Phật, bây giờ đổi lại là Hệ Tộc Chư Phật, được đưa vô trong phần Tiểu Bộ Kinh, trong bộ của bà Elizabeth mà mình Gia Tộc nói là thuộc Tỳ Đáo Giả - Người đến sau. Tiểu Bộ Hệ Thống Chư Phật nằm trong Tiểu Bộ Kinh là đến sau chót của bộ Tiểu Bộ Kinh là sau đợt kết tập Tam Tạng. Tiểu Bộ Hệ Thống Chư Phật này mới được nằm trong Tiểu Bộ Kinh, thuộc về Kinh Tạng Pali, là quyển sau chót của Tiểu Bộ Kinh.

Ngài Mingun làm được 9 quyển, sau tách ra thành 10 quyển nhỏ, cuộc đời của Ngài Mingun học hết Tam Tạng viết ra được nguyên bộ Biên Niên Sử.

Ngài được mời vô làm Tổng Thư Ký của Ủy Ban Chánh Phủ Lãnh Đạo Đại Tăng Đoàn, đảm đương Tam Tạng.  Lúc thỉnh Ngài xong rồi thì đưa Ngài về Mandalay. Hành chánh là ở Yangon, nhưng nơi đào tạo, người học về Tam Tạng thì phải về Mandalay để trau luyện học về Tam Tạng. Và những người đó được học từ tuổi nhỏ cho tới khi lớn, chứ không phải là vào học ngang.

Hồi Sư qua Sư hỏi cho tôi học Tam Tạng được không, thì ông trả lời là ông hóa nhỏ lại thì tôi mới chỉ được.

Cuộc đời của Ngài Mingun có một công đức nữa là Ngài xây bệnh viện Jīvitadāna Sāsana Specialist Hospital là của Ngài Mingun, bệnh viện ở tại Yangon, Ngài lập 2 cái; một cái ở Yangon mà mình tới cúng dường, một cái ở Mandalay. 

Ngài Mingun không phải tên của Ngài là Mingun, nhưng Mingun là làng nơi Ngài sinh ra. Như Sư ở Saigon thì gọi Sư là Saya Saigon, chứ không kêu tên Pasādo.  Tên của Ngài Mingun là Vicittasārā, tên của Ngài Mahāsi là Sobhana, Mahāsi chỉ là pháp hiệu.

Ngài lập ra bệnh viện Jīvitadāna một bệnh viện chuyên môn cho Chư Tỳ Khưu tại Mandalay, về sau mở ở Yangon  Một bệnh viện chuyên môn có một trăm giường bệnh với tất cả những phương tiện và những trang thiết bị cho một trung tâm y tế hiện đại và đã được chính thức khai mạc dưới sự bảo trở của Ngài vào Ngày 18 Tháng Tám Năm 1990.

Cuộc đời của Ngài Mingun, từ khi Ngài ra đời đến 7 tuổi, 8 tuổi vô chùa cho tới ngày mất Ngài chỉ cống hiến cho Phật Pháp, sống trong sạch. Nhưng cuối đời của Ngài trở về làng Mingun, mỗi buổi chiều Ngài đi lấy nước, Ngài đội bình nước trên đầu đem về phòng của Ngài, Ngài sống một mình không có người hầu, vào buổi chiều khoảng bốn, năm giờ, Ngài ra ngồi với mấy ông Sadi và Ngài giảng kinh cho mấy ông Sadi nghe.  Ngài bỏ hết những chức vụ của Giáo Hội và Ngài rút về làng Mingun của Ngài, Ngài sống cho mình cuối đời, thứ hai là Ngài ra sinh hoạt với mấy ông Sư nhỏ, khi mấy ông Sư nhỏ nói cái gì là Ngài nghe hết.

Trang 16.

Ngài giữ chức vụ Chủ Tịch của Tổ Chức Giáo Hội Tam Tạng Kinh Điển, Ngài phiên dịch sáu Tập trong tám quyển sác sang Anh Ngữ của bộ kinh Biên Niên Sử của Chư Phật. Thì ông tiến Sĩ bệnh viện chủ tịch nhờ Ngài đảm nhiệm đứng ra làm hội Tam Tạng. Ngài viết bộ Biên Niên Sử.

Thứ hai là, quí Phật tử nhớ:

Vị Thiên Giác Hữu Tình (Bồ Tát) Setaketu  tử cung Trời đi xuống vào trong thai bào của Mẹ là Hoàng Hậu Maya. Ngài giải thích từ kiếp chót khi Ngài được thọ ký là Bồ Tát Sumedha, mà người thọ ký cho Ngài là Đức Phật Dipankara (Phật Nhiên Đăng).

Có tám mươi chín vị Phật.

Trong thời gian 16 A Tăng Kỳ, thời của mình, mà mỗi một vị Phật gặp Ngài nói "ông là Bồ Tát", nhưng chưa là Niyata (xác định).

Nên Đức Phật Gotama, Ngài có phước, là mỗi kiếp Ngài ra đời mà hành Bodhisatta của Ngài đều trong thời  có Đức Phật.

Thí dụ như Sư, giờ Sư nguyện thành Phật Chánh Đẳng Giác, nhưng mà Sư ra đời không cùng thời với Đức Phật Gotama. 

Mà thời của Đức Phật Gotama là Phật Ajita tức là Đức Phật Di Lặc - Metteyya trong bộ Anāgatavaṃsa - tức là Vị Lai Hệ Tộc (Vi Lai Sử) thì thọ ký Ngài lúc đó Ngài là vị tỳ khưu tên Ajita là tiền thân của Đức Phật Di Lặc - Metteyya sau này. 

Gotama Ngài ra đời là có mỗi vị Phật, nhưng chưa được thọ ký, hay là chưa được dự ngôn, mà các vị đều xác nhận vị này sẽ thành tựu.

Trong bộ Vị Lai Sử, Ngài nói là mỗi vị Phật ra đều thọ ký cho Gotama 

Sư viết lại là có 24 vị Phật, khi đó Bồ Tát làm cái gì, cúng dường Ngài gì Sư có hết. Cái đó mới làm cho mình xác tính được, tức là niềm tin mình chính xác, chứ mình không có gì hồ nghi hay thắc mắc.

Ngài  là Bồ Tát Setaketu. Khi Ngài được xuống để trở thành vị gọi là Bồ Tát thì Ngài kể lại cho các vị đệ tử của Ngài (trang 16) là tập thứ nhất là Ngài Mingun nói về Bồ Tát Sumedha

Tập thứ nhất với hai quyển sách, quyển thứ nhất là cống hiến đến câu chuyện của Bồ Tát Sumedha và Sự Chú Minh hoặc "Sự Giải Trình" cho câu chuyện đó. Qua tập thứ hai với những khía cạnh khác nhau của Pháp Độ (Ba La Mật). "Sự Toàn Thiện", phải được hoàn thành do bởi những vị Giác Hữu Tình (Bồ Tát) hoặc Chu Phật Vị Lai, và những câu chuyện về đời sống của hai mươi bốn vị Phật, kể từ Đức Phật Dipankara (Nhiên Đăng) cho tới Đức Phật Kassapa (Ca Diếp)

Tập thứ hai bắt đầu được nói đến Phật Bảo, Bảo Vật của Đức Phật, và mở ra với câu chuyện của Đức Phật Gotama kể từ đời sống của vị Thiên Giác Hữu Tình (Bồ Tát) Setaketu đi xuống tới việc khải thuyết bài Kinh Thành Vách và Sự Chú Minh cho câu chuyện đó.

Tập thứ ba vẫn tiếp tục nói đến "Bảo Vật của Đức Phật" và kể thêm những câu chuyện được bắt đầu với câu chuyện của Upatissa và Kolita, là những vị mà sau này được trở thành hai vị Đệ Tử Trưởng của Đức Phật, Sāriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallāna (Mục Kiền Liên), và kết thúc với câu chuyện kình cải của Chư Tăng ở nước Kosambi.

Tức là 9 tập mà Ngài Mingun viết ra Ngài phân tích thành tập I, tập II, tập III là mình sẽ có quá trình tu tập.

Tập thứ tư cũng vẫn là Phật Bảo được bắt đầu với chuyến viếng thăm của Đức Phật tới làng Balakālona và kết thúc với việc thực thi quy y Tam Bảo của Vua Ājātasattu (A Xà Thế).

Tập thứ năm, nửa phần đầu của Tập thứ năm mở ra với việc kết thúc Phật Bảo qua câu chuyện của hai vợ chồng Bà La Môn trong kiếp quá khứ đã là Song Thân của Đức Phật và kết thúc với việc đặt Trụ Đồng của Hoàng Đế Asoka (A Dục). Nửa phần thứ hai của Tập đó đã cống hiến về "Bảo Vật của Giáo Pháp" (Pháp Bảo) trong các chủ đề khác nhau được biến thiên từ chín Ân Đức của Đức Phật cho đến bài Kinh Tam Bảo.

Tập thứ sáu liên quan đến Bảo Vật của Tăng Đoàn (Tăng Bảo) được tạo thành hai quyển sách, cũng như Tập thứ nhất.  Quyển sách thứ nhất được nói đến những câu chuyện về đời sống của những nam môn đệ hàng đầu của Đức Phật, như là Kondañña (Kiều Trần Như),  Sāriputta (Xá Lợi Phất), Moggallāna (Mục Kiền Liên) v.v... trong khi đó, quyển sách thứ hai nói đến những nữ môn đệ, như là Mahā Pajāpati Gotami, Khemā, Uppalavannā, v.v.. và những cư sĩ tại gia quan trọng như là Tapussa và Bhallika, Anathapindika (Cấp Cô Độc), Citta và v.v..

 Thì bộ này sẽ được đọc theo tuần tự, Sư sẽ làm ra theo hệ thống đó.

Ngài Mingun trình bày: "tôi sẽ viết ra bộ Biên Niên Sử gồm chín Tập, mỗi tập nội dung như thế nào". Ngài nói với Hiệp hội quản lý về Tam Tạng. (Trang 20) 

Thí dụ như Mười bài kinh về Trường Bộ Kinh. 

"Kim Chỉ Nam Tam Tạng" và bốn bản dịch về "Mười bài Kinh từ nơi Trường Bộ Kinh". 

 Trong hệ thống Chư Phật Hệ Tộc Chư Phật thì phải nhớ là bà Elizabeth trong Chủ tịch hội Pali Text Society dịch kinh chỉ dựa trên hai bộ, một bộ của Tích Lan ngữ và một bộ Miến Điện của Miến Điện ngữ, mà đa phần là dựa Kinh Bộ của Tích Lan nhiều hơn của Miến Điện. Nhưng bộ Miến Điện cũng là khả thi cũng đáng tin, do vậy họ dựa theo đó để dịch. Sư không có bộ Tích Lan ngữ, Sư có bộ của Miến Điện ngữ là từ Ngài Jantila đưa cho Sư.

Theo hệ thống của Miến Điện, chỗ đào tạo và chỗ phát hành ra, chỗ phát hành ra, thì chỉ có hai nơi là Yangon và Mandalay. Yangon là nơi chấp hành, điều hành, và giải quyết, hay phân phối. Còn nơi đào tạo là Mandalay. Sư có tới nơi mà đào tạo các vị học Tam Tạng ở Mandalay tham quan và cúng dường.  

Bây giờ mình qua phần Lời Mở Đầu của Dịch Giả, trang 24.

Người dịch giả này là U Ko Lay, người này dịch từ tiếng Miến Điện qua tiếng Anh. Còn Ngài Mingun là tác giả viết bộ Biên Niên Sử này là từ Pali, Tích Lan qua Miến ngữ. Tất cả gốc tích Phật Giáo cổ xưa đều tại Tích Lan. Chỉ có duy nhất là Ngài Narada  viết  Abhidhammattha Sangha là Chín Chương Tổng Hợp Nội Dung Vô Tỷ Pháp, Ngài là thượng thủ ở bên Tích Lan, còn các quí Sư bây giờ không có Abhidhamma, chỉ có Nikaya, mất hết, mà chính người Anh, người ngoại quốc họ nhìn nhận rằng họ muốn nghiên cứu về Phật Giáo phải gốc từ Tích Lan.

Nên mình thấy vậy là mình biết rằng là vận mệnh của Phật Pháp nó xuống mà theo cấp độ nào và ở góc độ nào, ở địa phương nào, và ở tại nơi đâu chính mình cũng phải biết. 

Cũng như giữa mình ở ngoại quốc với bên VN thì coi như mình còn, còn ở tại VN coi như không có. Tại vì bên VN bây giờ coi như xâm nhập của người Tàu. Nên bây giờ mình bị kẹt, mình phải ráng chấn chỉnh.

Phật Pháp là bậc thang, khi nào thịnh vượng thì nằm ngang, không có người lo thì nó xuống, rồi khi có người chấn chỉnh phục vụ thì nó nằm ngang. Bây giờ mình là năm 2566 - 2567, là hơn nửa đường của 2500. 

Mà câu nghi vấn cho tới ngày hôm nay không có ai dám giải quyết, không có ai dám trả lời là khi lập giáo đoàn Ni là giáo pháp của Như Lai phải mất phân nửa. Mình nguyện là 5,000 năm khi bà Gotami xin thì Đức Phật Ngài nói với Ananda phải nên biết và nói cho hậu thế là khi có giáo đoàn ni hiện hữu ở trong giáo đoàn tăng thì giáo pháp Như Lai còn tồn tại một nửa thôi. Thì bây giờ mình tính như vậy là còn 2565, coi như là từ 2500 đã mất rồi. Mình nói như vậy nhưng mà mình vẫn cãi là không mất, mình còn Tam Tạng mà, vẫn còn người học thuộc lòng Tam Tạng, còn trì bái Tam Tạng. Thì mình cố gắng nói vậy thôi, chứ thật ra coi như là hết rồi, khi mà phái đoàn ni lập ra sau 5 năm Đức Phật Ngài trở về độ cho thân bằng quyến thuộc Ngài thì các bà xin xuất gia, thì giáo pháp chỉ còn 2500 năm.

Ông U Ko Lay cố gắng làm bộ Bộ Biên Niên Sử này. Tại vì Phật Giáo cổ xưa là họ muốn dựa trên bộ Biên Niên Sử này. Chính do đó khi Sư dịch bộ  Paṭṭhāṇa là pháp hành. Tất cả các bộ Paṭṭhāṇa mà Sư đang viết là toàn bộ là Pháp Hành, mà cốt lõi của Pháp Hành của PaṭṭhāṇaLiên Quan Tương Sinh Paṭiccasamuppāda. Nhưng khi có pháp hành thì biết được duyên sinh duyên hệ kết hợp nhau 24 duyên do 12 móc xích, vô minh duyên hành bởi nhân duyên, hành duyên thức bởi nhân duyên, thức duyên danh sắc do nhân duyên, thì nó nằm ở trong Pāramī  (Ba-la-mật)  của Pháp Hành mình tu giải thoát.

Do đó, qua tới quyển thứ ba Paṭṭhāṇa (quyển màu xanh) thì Sư bắt đầu dừng lại, nó còn hai quyển nữa, thứ bốn, thứ năm là xong hết bộ Paṭṭhāṇa 5 quyển về Pháp Hành về Liên Quan Tương Sinh Paṭiccasamuppāda, đó là cốt lõi. Thì Sư phải tiếp qua bộ Biên Niên Sử. Tại vì các quí Phật tử phải đi đôi giữa Pháp Hành Pāramī  (Ba-la-mật)  đi đôi giữa Pháp Hành Paṭṭhāṇa mới an toàn, mà trong các Nikaya không có nói.

Nên khi học Nikaya là mới có tuệ văn thôi, và trong tuệ văn có tuệ tư của tuệ văn.

Còn khi học Paṭṭhāṇa và học Pāramī  (Ba-la-mật)  thì có tuệ văn, tuệ tư, tuệ tu của Pāramī  (Ba-la-mật)   của Paṭṭhāṇa.

Khi Sư xong phần Biên Niên Sử Chư Phật, Hệ Tộc Chư Phật có 3 quyển, Buddhavamsa (Hệ Tộc Chư Phật - Phật Sử):  Mahavamsa (Đại Hệ Tộc) , Culavamsa, (Tiểu Hệ Tộc) rồi Anāgatavaṃsa (Vị Lai Hệ Tộc). Ba quyển đó kết hợp chung lại ra bộ Hệ Tộc Chư Phật; Đại Hệ Tộc, Tiểu Hệ Tộc, và Vị Lai Hệ Tộc tới thời Đức Phật Di Lặc - Metteyya. Sư cố gắng, Sư tin rằng Sư làm được đủ 850 trang. Thì Sư trở lại Paṭṭhāṇa bốn năm.

Trong cái bốn năm, Paṭṭhāṇa IV, Paṭṭhāṇa V, là phần gọi là Tam Đề với  Nhị Đề, phần thứ V là Nhị Đề với Tam Đề, kết hợp lại là Nhị Đề với Nhị Đề, thì cái đó xoáy trong Pāramī  (Ba-la-mật), cái đó là cái key.

 (trang 20) 

  Hiệp hội đã xuất bản quyển sách của Ông ta về "Kim Chỉ Nam Tam Tạng" và bốn bản dịch của Ông ta về "Mười bài Kinh từ nơi Trường Bộ Kinh". Những bản dịch khác còn lại của Ông ta kể từ Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Kinh và Tạng Luật phần Đại Phẩm sẽ được xuất bản trong khóa học. 

----------------------

Trong đó có bài kinh Đại Niệm Xứ là Pháp Hành. Do đó khi mình đọc mà không hiểu mấu chốt đó mà coi đó là những công việc của họ làm và họ kể ra cho mình nghe thôi. Thật ra thì không phải, họ có tác ý mà mình không hiểu. Cầm quyển sách về đọc thì biết công trình của ông này làm, ông kia làm vậy thôi, chứ mình không hiểu tác ý hay dụng công của họ.

Trang 28:

Quyển sách này là bản dịch Anh ngữ hoàn chỉnh cùng với những chú thích và các lời bình luận của Phần đầu tiên thuộc Tập thứ nhất.  Ở phần này, hiện bày sự nỡ lực chánh yếu về văn học của tác giả cho Tập này.

--------------------------------------

Nên Quyển sách này là bản dịch Anh ngữ hoàn chỉnh cùng với những chú thích và các lời bình luận của Phần đầu tiên thuộc Tập thứ nhất.

Tức là từ trang 1 cho tới trang 29 thì coi như là những công lao, những công đức mà tất cả đều bỏ trí óc trí não làm ra bộ sách này, từ tăng đến tục, từ người xuất gia đến người tại thế, từ Ngài Mingun cho tới ông U Ko Lay, ông U Tin Lwin, họ hợp tác nhau, rồi chính phủ là ông Wunna, đứng ra làm, họ tổ chức chặt chẽ hôm nay mình mới có bộ sách này để dùng.

Trang 30.

Lời giới thiệu của tác giả.

Tác giả là Ngài Mingun

Trang 59

Từ trang 30 đến trang 59 là 29 trang, Ngài Mingun kể phần kế hoạch của Ngài viết bộ này. Nên phần Lời Giới Thiệu của Tác Giả là lời giới thiệu của Ngài Mingun.

Đầu tiên là với các quí cô cũng vậy, khi mình giảng dạy hay mình viết sách, hay mình đọc kinh thì luôn luôn đảnh lễ Chư Phật. Mình NAMO BUDDHĀYA cũng là đảnh lễ 5 vị Phật của quả địa cầu này. Ở bên Nam Vang, Cambot họ nói Na Mo Bud Dha Ya, đó là năm âm, năm chữ, ở bên Nam Vang họ đốt 5 cây nhang, tượng trưng cho năm vị Phật ở trong quả địa cầu này là:

1. Đức Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha)

2. Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni (Koṇāgamana)

3. Đức Phật Ca Diếp (Kassapa)

4. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Gotama / Shakyamuni)

5. Đức Phật Di Lặc (Mettaya)

Bây giờ mình đã trải qua ba vị Phật quá khứ, một hiện tại và một vị lai. Ba vị quá khứ là Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa qua rồi. Bây giờ thời này là thời Gotama, không dùng Shakyamuni, tại vì chữ muni nghĩa là tu sĩ Shakyamuni nghĩa là giòng Thích Ca, hay là giòng tộc Shakya. Nhưng tên của Ngài, tên vị Phật cho thời này, giáo pháp này là Gotama, phải xác định là Gotama, chứ không được nói là Đức Phật Thích Ca. 

 Đức Phật quá khứ Kakusandha, Koṇāgamana,  Kassapa. Phật hiện tại là Gotama, chứ không phải Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mình nói không đúng và mình hiểu không đúng. Mâu Ni tiếng Pali là Muni là tu sĩ, Shakya là Thích Ca là giòng tộc của Ngài, là thuộc về Sát Đế Lỵ. Tên của Ngài là Gotama.

Sau này, quyển Hệ Tộc Chư Phật, chính bà Elizabeth nói Đức Phật Gotama, chứ bà không nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Mấy cô phải sửa lại cho chính xác.

Khi một vị làm tác phẩm kinh sách là phải đảnh lễ Đức Phật. Như người dịch giả (trang 24), ông cũng phải đảnh lễ Phật.

Mấy câu này Sư sửa lại hết, nên bộ Biên Niên Sử này mấy cô sẽ có một bộ hoàn hảo. Người ta muốn mở đầu dịch họ cũng phải đảnh lễ Phật. Rồi Ngài Tác Giả cũng phải đảnh lễ Phật. Cái đó là truyền thống của người con Đức Phật.

Như trước khi mình bắt đầu buổi học mình cũng đảnh lễ Phật 

Ngài Mingun nói về Đức Phật trong bộ này (trang 30) :

Đức Phật, Ngài là bậc đã hội phúc duyên với bốn điều của Chánh Tinh Tấn (1), Ngài là bậc tối thượng giữa hàng Nhân Loại và cao cả hơn hàng Chư Thiên cùng Chư Phạm Thiên, và như thế, Ngài là bậc Chủ Tể của Chúng Sanh ở trong Tam Giới này !  Làm thế nào chúng con hiểu được sự quyết tâm của Ngài để thành đạt Quả vị Phật vinh hiển cao quý, mà nó đã lan tỏa cùng khắp cả vũ trụ, trải dài từ lãnh địa tận cùng của sự cùng cực khổ đau và cho đến lãnh địa tột đỉnh của Chư Phạm Thiên.  Kể từ khi Tâm thức của Ngài vừa khởi lên ý hướng để chứng đắc vòng hoa nguyệt quế tối thượng của Sự Hoàn Toàn Tự Giác Ngộ, vượt trội hơn hẳn cả Sự Giác Ngộ của vị Độc Giác Phật và Sự Giác Ngộ của bậc Thinh Văn Giác ?"

Ngài chỉ là Chánh Tinh Tấn cho đến ngày Ngài đắc đạo quả.  Tuy nhiên không phải Ngài chỉ có một cái Tinh Tấn Ba-la-mật, mình phải học hết mười pháp mà Ngài cũng phải học hết mười pháp, rồi mình cũng biết được hết mười pháp Ngài dùng lúc nào, xử dụng lúc nào, và mỗi công dụng pháp của Ngài dùng gồm có bao nhiêu pháp. Thí dụ như, Ngài nói Ngài coi như là hạnh tinh tấn, thì trong tinh tấn này thì có bốn là Tứ Chánh Cần;

(1) Chánh Tinh Tấn (Sammappadhāna): Tứ Chánh Tinh Tấn, đó là:

a. Nỗ lực để ngăn chặn sự khởi sinh điều ác mà chưa khởi sinh,

b. Nỗ lực để diệt trừ điều ác mà nó đã khởi sinh,

c. Nỗ lực để tạo ra sự khởi sinh điều thiện mà chưa khởi sinh, và

d. Nỗ lực để thúc đẩy phát triển điều thiện mà nó đã khởi sinh. 

Thì khi Ngài Mingun kể lại sự Giác Ngộ của vị Độc Giác với sự Giác Ngộ của bậc Thinh Văn Giác nó sẽ khác với sự Giác Ngộ của bậc Chánh Đẳng Giác, ở trong phần giới thiệu này (trang 31)

Kể từ khi Tâm thức của Ngài vừa khởi lên ý hướng để chứng đắc vòng hoa nguyệt quế tối thượng của Sự Hoàn Toàn Tự Giác Ngộ, vượt trội hơn hẳn cả Sự Giác Ngộ của vị Độc Giác Phật và Sự Giác Ngộ của bậc Thinh Văn Giác ?"

Mình thấy sự khác biệt nhau.

Vị Thanh Văn Giác, mình nói từ dưới đi lên, rồi mình nói từ trên đi xuống lại.  Đối với vị Thinh Văn Giác muốn được Giác Ngộ phải có ba điều: 

1. Thứ nhất, bậc Thinh Văn Giác là phải có bậc Chánh Đẳng Giác khai mở trí tuệ , vị đó mới có khả năng thành Giác Ngộ.

2. Thứ hai, người Thinh Văn Giác đó phải có Giáo Pháp của Chánh Đẳng Giác thì mới Giác Ngộ.

3. Thứ ba, vị Thinh Văn Giác đó phải hành mười pháp Pāramī  (Ba-la-mật), của Thinh Văn Giác.

Có 3 điều, cái đó: 1. Thứ nhất, bậc Thinh Văn Giác là phải có bậc Chánh Đẳng Giác khai mở trí tuệ của mình ra, chứ không tự ên được. Thứ hai là phải có Giáo Pháp của bậc Chánh Đẳng Giác, nếu như thời bậc Đẳng Giác đã ra đi để lại Giáo Pháp. Nên nhớ, thời Gotama để Giáo Pháp có 5,000 năm. Nhưng thời Đức Phật Di Lặc - Metteyya để Giáo Pháp là 84,000 năm, phước lắm,  tại vì Ngài tu 80 A Tăng Kỳ, nên Ngài nguyện để lại hết, và cái nguyện của Ngài tùy theo vị Phật Chánh Đẳng Giác đó, theo công lực của Ngài có tâm từ bao nhiêu, nguyện bao nhiêu, là nó thành tựu.

 Do đó, bây giờ thí dụ như mấy cô không thành trong kiếp này Sư tin rằng Sư mong rằng, Sư muốn các quí cô phải lượm Thất Lai, mấy cô muốn thì mấy cô có, mấy cô không muốn thì mấy cô không có cơ hội. Tại vì mình còn Giáo Pháp, mà còn thời kỳ Thất Lai. Khi nào Giác Ngộ của Thất Lai đến Nhất Lai và Bất Lai không thành là khi Tạng Abhidhamma và Tạng Kinh hết thì không có cơ hội, mà 4000 năm coi như là hết, 3000 năm hết Abhidhamma , 4.000 năm hết Tạng Kinh, còn lại Luật

Tức là 4.001 tới 5.000 năm còn Tạng Luật thôi, là chỉ còn có biết sống trong đạo đức, giống như trở lại thời kỳ ông bà của mình, sống ăn ở hiền lành vậy thôi.

Mấy cô phải cẩn thận mấy cái đó còn không thì vuột. Nên mình tu mình phải có định hướng mà có kế hoạch, chứ còn không thì bị vuột, bị lôi đi.

Qua tới 4.000 năm là khi Tạng Kinh hết thì coi như chấm dứt.

Abhidhamma mà mất tới 3.000 năm Abhidhamma mất từ dưới mất lên, tức là Paṭṭhāṇa (Bộ Vị Trí) mất trước, rồi Yamaka (Bộ Song Đối) , rồi Kathavatthu (Bộ Ngữ Tông), rồi Puggalapannatti (Bộ Nhân Chế Định), rồi Dhatukatha (Bộ Chất Ngữ), rồi Vibhanga (Bộ Phân Tích), cuối cùng là Dhammasangani (Bộ Pháp Tụ).

Nhưng khi Tạng Kinh mất, thì Trường Bộ Kinh mất trước, Trung Bộ Kinh mất xuống tới Tiểu Bộ Kinh.

Điển hình; Trường Bộ Kinh là những bộ kinh dài, nói lên tính chất lịch sử, như bây giờ khi người ta nói về lịch sử, người ta ít nói về địa điểm này địa điểm kia, nên Trường Bộ Kinh sẽ mất trước.

Còn về Abhidhamma thì bộ Paṭṭhāṇa mất trước, tại vì không ai xiển dương bộ Paṭṭhāṇa, là mất.

Nên mình nói Abhidhamma mất từ dưới lên. Bên Tạng Kinh Nikaya thì mất từ trên xuống.

Cho tới 3.900 thì lúc đó chỉ còn Tiểu Bộ Kinh còn lác đác, hay chỉ còn Kinh Pháp Cú, những câu Phật ngôn Buddhavacana.

Nên khi Abhidhamma mất là bộ Paṭṭhāṇa (Bộ Vị Trí). Khi mà Sutta (Tạng Kinh) thì Trường Bộ mất trước.

Còn Tạng Luật mất là Phẩm Một, tức là Đại Phẩm Mahavagga, Tiểu Phẩm Cullavagga, rồi xuống mấy phần sau, cũng là đi theo thứ tự xuống, bộ một mất trước, bộ hai mất sau. Còn Abhidhamma là đi ngược từ dưới lên, người ta không nói tới Duyên mà chỉ nói Pháp thôi. 

Thí dụ như bộ Dhammasangani nói về Pháp Thiện thì chỉ nói 3 Pháp thôi, là Pháp Thiện, Pháp Bất Thiện, Pháp Vô Ký, họ không nói tới Pháp Quả, Pháp Thọ, Pháp Tầm, Pháp Tứ.

Khi vị Thinh Văn Giác là họ phải có 3 bước, phải có bậc Chánh Đẳng Giác họ mới có Giác Ngộ. Phải có Giáo Pháp có bậc Chánh Đẳng Giác họ mới có Giác Ngộ, và họ có mười pháp Pāramī  (Ba-la-mật) họ mới tu mới Giác Ngộ được. Nếu như các quí cô mà đang nguyện Thinh Văn Giác mà muốn đắc đạo quả thì mình coi 3 điều này mình có không. Cái thời của mình tại thời điểm này mình có không thì mình thấy mình bỏ túi được hay không bỏ túi được 3 bậc thôi; Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai.

Tiếp nối bài giảng tuần trước . Người không có duyên, không có chủng tử mà khi xuất gia thì họ đi tới Bất Lai là họ về cõi Ngũ Tịnh Cư, họ không tới Vô Sinh A La Hán được, là họ không có duyên xuất gia tu. Còn nếu như người có xuất gia tu thì họ có cửa đi tới Vô Sinh, nhưng, nếu như họ có cửa Vô Sinh, thời đó có Phật, thời đó còn Giáo Pháp, thời đó mình có Pāramī (Ba-la-mật) đầy đủ hết, nhưng không có chuẩn tử xuất gia thì Vô Dư Y Niết-bàn trong 7 ngày.

Mấy cô phải nhớ là nếu mấy cô không có hạt giống, không có chủng tử xuất gia là mấy cô không có đi tới Vô Dư Y Niết-bàn, trong phần Vô Sinh thì cô tới Bất Lai rồi đi lên cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên. Đó là con đường mà người ta tránh xuất gia, tới Bất Lai rồi đi về Ngũ Tịnh Cư Thiên. Còn không thì họ Vô Sinh rồi phải Vô Dư Y Niết-bàn, không vô Hữu Dư Y giống như Sariputta và Moggalāna hay bà Gotami, bà Uppalavanna, hay bà Yasotara là những người có chủng tử xuất gia thời Đức Phật, rồi họ Hữu Dư Y, rồi đắc thần thông, truyền bá Giáo Pháp giảng dạy ni chúng trong Giáo Đoàn Ni, cái đó là người ta có hết. Cái đó do mình thôi, không bắt buộc, mình đi đường nào mình biết là được rồi, miễn có Giáo Pháp, có hướng tu, có trí nguyện Giác Ngộ là cũng được rồi. Nhưng mình phải biết lộ trình mình đi. Thì mấy cô mà không qua được xuất gia mà qua tới Nhất Lai thì về cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên, ở đó mình tiến tu năm tầng; tín, tấn, niệm, định, tuệ, rồi Vô Sinh Niết-bàn ở đó luôn, không cần trở lại làm người, cũng không cần xuất gia, vô xuất gia nhiều khi trong giáo đoàn phiền não gặp nữa, vô trong chùa tu phiền não lắm, vô trong chùa thức khuya dậy sớm phiền não lắm, thôi về Ngũ Tịnh Cư Thiên tiến tu.

Mình đạt đạo quả thì chỉ có hai cửa thôi; Thất Lai là Tusita (Cõi Trời Đâu Suất), Bất Lai là Ngũ Tịnh Cư Thiên, chứ không có cửa đi vào Sắc Giới, mà mình không có đi qua cửa Sắc Giới Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Biến Quang Thiên, Biến Tịnh Thiên, Quang Âm Thiên, không đi mấy cái đó, mấy cái đó là cho mấy thiền sinh tu thiền Chỉ. Mình xuất gia mà không được thì tới Bất Lai về cõi Tịnh Cư Thiên.

Mình qua tiếp phần Độc Giác. 

Độc Giác là người tự tu mà không có Chánh Đẳng Giác và không có Giáo Pháp của Chánh Đẳng Giác.

Xả Thí Pāramī  Ba-la-mật là khác.

Xả thí thiện là được hưởng quả phước nhân thiên được trở lại làm người hay làm Chư Thiên có đầy đủ phước vật là do xả thí. Được trở lại làm người có đầy đủ phước vật, tài sản của cải xe cộ tiền bạc, Nhân và Thiên.

Xả thí Pāramī  Ba-la-mật là xả thí là tuyên bố phóng khí, là Pariccāga, không phải là Dāna, là xả thí là Xả thí Pāramī Ba-la-mật  không mong cầu đón nhận quả phước hữu lậu, chỉ đón nhận quả phước vô lậu. 

Vậy thì khi mình xả thí mình nguyện làm nhân giải thoát Niết-bàn, "tôi không mong cầu", thì đó là xả thí Pāramī  Ba-la-mật. Thí dụ xả thí một cái ghế, tại vì bậc Thinh Văn Giác là ngoại thân, thì xả thí này xả thí Parami Ba-la-mật của Độc Giác,  xả thí nhiều lần , trong khi xả thí mình nguyện. Còn vị Thinh Văn Giác thì nguyện một lần là xong.

Vị Độc Giác có một cái ghế xả thí thì nguyện làm nhân đến đạo quả Niết-bàn. Rồi có một vật khác vị Độc Giác lại xả thí lần nữa rồi lại nguyện làm nhân đến đạo quả Niết-bàn.

Còn các vị Thinh Văn Giác, họ sống tuần tự làm một lần thôi, không cần phải lo.

Thiền sinh hỏi: Là vị Thinh Văn, bây giờ mình làm một việc xả thí, thì mình có nguyện là xả thí Ba-la-mật. Thí dụ trong cuộc sống, mình lại có duyên xả thí nữa thì mình không có nguyện xả thí Ba-la-mật ?

HT trả lời:  Không, vì mình nguyện rồi, thì cái đó là mình bồi đắp cái Pāramī  Ba-la-mật cái xả thí của mình. Trong Chánh Tạng, trong quyển Hệ Tộc Chư Phật Buddhavamsa (Hệ Tộc Chư Phật - Phật Sử)  của bà  Elizabeth nói thì chỉ nguyện một lần thôi là xong.

Thiền sinh: Như vậy thì khi mình làm thì làm với tác ý làm nhân đến đạo quả Giải Thoát là được.

HT trả lời: Không nguyện nữa, nhưng việc làm đó nó vô luôn với lời nguyện đã nguyện rồi. Không phải là mỗi lần xả thí lại nói: "Tôi xả thí này nguyện Chánh Đẳng Giác." Với Chánh Đẳng Giác một lần nguyện là xong, con đường họ đi là như vậy, trừ khi nào họ bẻ gãy, hay buông bỏ cái nguyện đó

Sư kể cho mấy cô nghe, tới cái đó. Khi Sư đọc tới phần kết quả để thành tựu Pāramī  Ba-la-mật là cái chỗ mà mấy cô về đọc lại quyển Chính Thị Kim Sinh là khi Ác Ma tới dành cái bồ đoàn (thảm cỏ) mà Đức Phật lúc đó là Bồ Tát Ngài nói: "Quả địa cầu này chứng minh ta, xác nhận ta đã thành tựu, chỗ này là của ta". Thì Ác Ma không lay chuyển được.

Tại vì, cứ mỗi lần làm như vậy Ngài nguyện một lần rồi, thì cái xả thí đó bắt đầu dày lên, cái trì giới bắt đầu dày lên, và cái dày đó và cái công chuyện mình làm đó, cái công lực của mình, cái tâm lực của mình nó càng ngày nó khắn khích và nó kiên cố hơn. Nên cô làm một cái xả thí nào mà có  Pāramī  Ba-la-mật cái xả thí đó cô có niềm tin kiên cố và không bị giao động. Nếu như mà cô làm không có xả thí Pāramī  Ba-la-mật, mà chỉ xả thí thiện thôi thì vẫn còn bị giao động. Ngay khi cái phước trổ sinh lên của Nhân và Thiên cô bị giao động liền; mừng, vui, thích.

Còn cái đó với Pāramī  Ba-la-mật, Xả Thí Pāramī  Ba-la-mật họ không bị ảnh hưởng cái đó, không giao động, họ kiên cố già dặn hơn, và cái việc làm của họ càng ngày mãnh liệt hơn, thấy rõ liền.

 Nên nó giống như là giữa hai người giàu, người giàu truyền thống, còn người mới giàu, thì người mới giàu họ bị giao động, tức là họ được hưởng quả phước Nhân Thiên, thì người mà làm việc xả thí này mừng vui thích liền. Còn người làm Pāramī Ba-la-mật họ biết việc làm này đã làm và đã thành tựu rồi, cái niềm tin của họ hay là cái năng lực của họ kiên cố hơn và không bị lay chuyển.

Nên khi đối diện với một nghịch cảnh một Ác Ma chỉ là một pháp nghịch thôi Ngài vẫn kiên cố không giao động. Anh mà xả thí thiện anh sẽ bị giao động, anh không biết chắc mình có, anh không tin là mình đầy đủ để đối phó với nghịch cảnh không, thì lúc bấy giờ khi đối diện với một pháp nghịch thì Pāramī Ba-la-mật cô sẽ bảo chứng cái năng lực của mấy cô không bị giao động.

 Thì khi làm Pāramī Ba-la-mật mà quí cô có một cái xả thí, một cái trì giới, cái niềm tin và cái quả phước, cái nghị lực nó kiên cố vững chắc, không có gì lay chuyển được họ, ngay khi quả trổ sinh hay là có người tới đánh động mình, không lay chuyển.

Ngay khi Ngài Xá Lợi Phất nguyện Chánh Đẳng Giác, mà một kiếp thôi, vua trời Đế Thích xuống thử xin mắt Ngài vẫn bị giao động. Tại vì Ngài chưa phải là Niyata (Thọ Ký Bồ Tát ). Nên mấy cô phải cẩn thận. Pháp nghịch không phải là nghiệp chủ không, mà pháp nghịch là Chư Thiên.

Trong tuần vừa rồi có Phật tử hỏi  Sư về giới thứ năm là không uống rượu. Thì bị bệnh rồi uống rượu thuốc có phạm giới không? Thì cái tên đã gắng liền với cái giới rồi, thì dù cái gì mình cũng không đụng vô. 

Đọc lại tích truyện nàng Sujātā là người vợ thứ tư của chàng thanh niên Magha. Thanh niên Magha sống cuội đời làm việc thiện xã hội sanh được  về cõi trời là Vua Trời Đế Thích. Thì thanh niên Magha có bốn người vợ, ba người vợ đầu luôn luôn đi theo Ngài để làm việc thiện, còn bà thứ tư không chịu làm, mà cứ đờn ca sướng hát vui chơi, rồi khi chết sinh làm con cò ở dưới trần gian.  Ngài Thiên Chủ ở cõi Trời ngó xuống thấy người vợ thứ tư thành con cò. Do đó, khi nói sát sinh là sát sinh, dù hình thức thử hay là thiệt, giả, giả, thiệt, mình cũng dừng lại. Ngài Vua Trời Đế Thích hiện ra làm con cá thử con cò, nói nếu ăn con cá thì tiếp tục đi tục sinh nữa, thì con cò nhả con cá ra. 

Còn giới không uống rượu, giờ mình uống để chữa bệnh là mình phạm giới, là mình lại đi tục sinh nữa, phải buông.

Mấy cô phải cẩn thận, vua trời Đế Thích xuống thử, tại sao Ngài không thử cái khác, mà Ngài thử đúng cái, cái tâm lý mình đang vướng vào trong đó.

Thiền sinh nói: Như mà vậy là mình cũng thấy được là cái tâm nguyện của mình là mình coi trọng cái thân xác của mình hơn phần tinh thần.

HT trả lời: Không phải, mình không có coi trọng, mà là mình không biết, lúc đó mình không có biết, mình không vững, người ta nói cái mình rớt liền

 Nên Sư nói cô nghe, không được. Có khi là người ta đưa cái thế, không phải người ta thử đâu, nhưng mà cái đó coi cái giới, nên cô đọc bài Chính Thị Kim Sinh, Ác Ma đi theo Đức Phật bảy năm mà tìm ra không một tỳ vết nhỏ trong thân, ngữ, ý của Ngài. Nên giống như cục đá mà không tìm ra được cục mỡ nào nó phải bỏ đi. Bảy năm, tức là sáu năm khổ hạnh, một năm đắc đạo quả còn vẫn đi theo xem có chắc không. Thì cái chỗ đó một năm mà đi theo thì coi như là niềm tin và cái nghị lực của người Ba-la-mật đã kiên cố, Ác Ma không lay chuyển được.

 Đó là câu trả lời của người hành Ba-la-mật, không lay chuyển được, phải kiên cố. Nếu như làm thiện là mình bị giao động, vẫn còn bị lay chuyển.

 Đọc quyển thứ hai

Biên Niên Sử Chư Phật 1 CM2

VI. CHƯƠNG NÓI VỀ CÁC PHÁP BA LA MẬT

(NHỮNG PHÁP TOÀN THIỆN)

(b) Pháp Toàn Thiện về Đức Hạnh (Trì Giới Ba La Mật)

Tác giả đưa ra một sự miêu tả chi tiết về loài động vật Cāmari mà chúng ta đã có được dịch là "Yak - loài bò Tây Tạng".  Ngài trích dẫn nhiều cứ liệu sai khác để xua tan đi quan niệm của nhiều người cho rằng Cāmari là một loài động vật có cánh.  Không một chút nào, tác giả viện dẫn cứ liệu của Ngài Đại Trưởng Lão Abhayarama ở tại Mandalay, và Ngài Đại Trưởng Lão Taung Pauk ở tại Mawlamyine nói rằng nó là một loài bò của Tây Tạng, một súc vật thồ thuộc Tây Tạng, hữu ích luôn cả việc cho sữa và thịt của nó nữa.  Quạt được làm bằng đuôi của nó là một trong những biểu tượng của hoàng gia.

Lòng mong ước để tránh xa điều nguy hại, loài bò Tây Tạng sẽ hy sinh mạng sống của mình để không phải thực hiện bất luận mọi cố gắng nào để mà tháo gỡ nó ra ngay cả dù chỉ là một sợi lông đuôi của nó khi có sự cố bị vướng kẹt vào trong những cành nhánh của một bụi cây.  Sumedha đã tự khuyên nhủ bản thân noi theo tấm gương được thiết lập do bởi một loài bò Tây Tạng và gìn giữ sự tinh khiết về Đức Hạnh dù phải hy sinh mạng sống của mình

Do đó, nên nghị lực và niềm tin và nghị lực của mình trở nên năng lực và không lay động, xả thí là xả thí, không bị giao động không bị lung lay, thì lúc đó Pāramī Ba-la-mật của mình mới dày lên, và chính cái đó nó bảo hộ và  bảo vệ và dìu dắt mình đi tới con đường giải thoát mọi cám dỗ, mọi nghịch cảnh, mọi cản ngăn vượt qua được hết. Nó khác ở chỗ đó.

Sư chưa nói tới vấn đề xả thí để diệt trừ bỏn xẻn, mà trong khi xả thí mình vẫn còn bị lung lay đó là mình chưa vượt qua được. Do đó, mình nghiệm lại,  Pāramī Ba-la-mật của mình nó càng dày càng kiên cố là không lung lay, không lay chuyển.

Tich truyện Bồ Tát Vessantara (Vessantara Jātaka) tiền kiếp cuối cùng của Đức Phật Gotama, kiếp đó Ngài nguyện xả thí Pāramī Ba-la-mật  Chánh Đẳng Giác, sinh hai đứa con mà phải chia ly, vì để hoàn thành xả thí Pāramī Ba-la-mật Ngài đã xả thí hai người con mình cho một vị Bà La Môn.

Hai người con sợ hãi bỏ chạy. Bồ Tát đi tìm và khuyên nhủ Ngài nói : "Các con giúp cha hoàn thành Giác Ngộ, sau khi thành tựu cha sẻ trả lại cho các con". Hai người con nghe lời cha, và đi theo vị Bà La Môn đó.

Sư chưa nói là cho xong rồi hối tiếc, mất Tư Hậu, mà chỉ là pháp Thiện thôi. Còn Pāramī Ba-la-mật  khác nữa, cho xong rồi không hối tiếc (Tư Hậu)

Như tích truyện ông Ba La Môn giàu có, đã cúng dường thực phẩm cho vị Phật Độc Giác một cách chu đáo, sau đó khi vị Độc Giác nhận thức ăn xong thì rời đi, thì ông Bà La Môn tiếc, 

Hậu quả là kiếp sau sinh làm Trưởng giả giữ ngân khố giàu có, sở hữu hàng triệu đồng tiền vàng. Nhưng vì tâm luyến tiếc, keo kiệt ở tiền kiếp, nên ông phải sống khổ sở. Mà cái đó chỉ là làm thiện thường thôi.

 Còn xả thí Pāramī Ba-la-mật  khác nữa, khác chỗ nào? Con đường giải thoát của mình là quyết định kiên cố, Pāramī Ba-la-mật  này chỉ là phương tiện, mình không gián đoạn, gọi là kiên cố, chứ không phải xả thí. Con đường giải thoát tôi kiên cố, thì xả thí này tôi không lay chuyển. Còn cái xả thí thiện mình còn lay chuyển giữa người, cảnh vật, quả phước và nhân quả, mình còn lay chuyển. Còn xả thí Pāramī Ba-la-mật  là con đường giải thoát tôi không lay chuyển. không cắt đứt, không cản ngăn được, thì đó là xả thí Pāramī Ba-la-mật .

Vậy thì, trở lại. Khi cô xả thí Pāramī Ba-la-mật  thì cô nguyện giải thoát, "tôi không có ngừng lại", thì chữ xả thí đó là Xả Thí Pāramī Ba-la-mật .

Chữ xả thí, trì giới của Pāramī Ba-la-mật  là con đường giải thoát, và ta đang làm xả thí này, không lay chuyển tôi được.

Thì chính cái đó, quả địa cầu mới xác nhận được Bồ Tát đã làm đúng cái nguyện của Ngài, là Ngài xả thí là vì Pāramī Ba-la-mật , Ngài xả thí vì giải thoát, Ngài xả thí là vì Đạo Quả của Ngài, chứ không phải xả thí trong cái thiện thông thường, thì quả địa cầu mới rung động, mới xác nhận.

Do đó, mấy cô xả thí thiện là mấy cô nghĩ tới Nhân, Thiên, còn nghĩ tới quả hiệp thế, hay là quả hữu lậu. Nhưng xả thí Pāramī Ba-la-mật là giải thoát, 

- Tôi làm xả thí này là tôi giải thoát, tôi không có ngừng lại, và tôi có cơ hội làm là để tôi được giải thoát.

Thì cái đó là xả thí Pāramī Ba-la-mật, ai nói cũng không lung lay.

Nàng Sujātā là người vợ thứ tư của chàng thanh niên Magha,  (tiền kiếp của Thiên Chủ Sakka. Ngài Thiên Chủ Sakka đối với nàng Sujātā Ngài không có lạ vì bà Sujātā là vợ của Thiên Chủ Sakka trong tiền kiếp, bây giờ Thiên Chủ muốn độ bà Sujātā bấy giờ đã tái sinh thành con cò ở trần gian, và Ngài đã xuống cắt nghĩa cho bà hiểu bây giờ tu để giải thoát. Thiên Chủ hóa một con cá để con cò mổ ăn, nhưng Ngài đã xuống cắt nghĩa cho bà hiểu bây giờ tu để giải thoát, và con cò nghe lời mà thả con cá ra và nhịn đói để được chết, được giải thoát.

Trưởng Lão Cakkhupāla đã nói: ta đã ngủ bao năm rồi, ta đã nằm nghỉ bao nhiêu kiếp rồi, bây giờ cho thuốc nhỏ mắt ta phải nằm, bây giờ ta không nằm để được giải thoát. Và Ngài Cakkhupāla đã đắc A La Hán.

Trong bài Kinh Hệ Tộc Chư Phật này, có kiếp Ngài là con sư tử đi theo Đức Phật, nhưng một tuần lễ đó không phải là Ngài đi theo hầu Đức Phật, mà một tuần lễ đó ở bên Đức Phật để mà không đi săn mồi và Ngài chết, tại vì Ngài ở bên một vị Phật là người đã giải thoát rồi, vì Ngài muốn giải thoát, do đó Ngài không lung lay. Đó là nghị lực của Ngài đã kiên cố rồi, không lay động, vì ở bên bậc Chánh Đẳng Giác thì Ngài đâu còn gì nữa mà lay động, đó là cơ hội tốt, phục duyên, mà có phước nữa, mình câu sinh luôn, là con sư tử, kiếp thú mà, bỏ một tuần lễ không đi kiếm mồi. Lúc đó Đức Phật Ngài đang độc cư thiền tịnh thì con sư tử nằm đó để mà tịnh tâm, không đi sát sinh, không đi săn mồi, và Ngài cũng thành tựu Pāramī Ba-la-mật, Sư tử là bản tánh thú, mà gặp được bậc Chánh Đẳng Giác là Ngài đã kiên cố rồi, có cơ hội và cũng không thay đổi cái lập nguyện của mình.

 Không lay chuyển thì xả thí đó là Xả Thí Pāramī Ba-la-mật, mà không lay chuyển con đường giải thoát là Pāramī Ba-la-mật . Không có cơ hội, không có lay chuyển, nghị lực tu đã tới và tu giải thoát.

Trong tích truyện Bồ Tát Vessantara bố thí hai người con. Khi đó Bồ Tát Vessantara  ở trong cốc, ông ăn xin Bà La Môn  tới xin hai người con của Bồ Tát. Mà Ngài dám xác định là Ngài thành tựu thành Phật Ngài trả ơn hay là Ngài mắc nợ. Công Chúa Maddi là vợ của Bồ Tát Vessantara về hỏi con đâu, Ngài nói cho rồi, bà chạy rượt theo. Chư Thiên phải bảo vệ cho Pāramī Ba-la-mật của Bồ Tát thành tựu nên hóa ra cọp beo để chặng đường bà Maddi, thì Maddi phải quay trở lại đọc 36 câu kệ than trách Ngài, Ngài ngồi yên. Rồi Vua Trời Đế Thích xuống xin Maddi dẫn đi. Ngài không lay chuyển, Ngài không thương vợ thương con Ngài sao, thương chứ, nhưng lòng bi mẫn Ngài tới để thành Chánh Đẳng Giác mạnh hơn.

Thì chính Vua Trời Đế Thích mới xác nhận Ngài là thành tựu mới là hiện ra trả lại Maddi cho Bồ Tát.

Thiền sinh hỏi: Bạch Sư lúc đó Bồ Tát Vessantara đã được thọ ký chưa?

HT trả lời: Chưa, Ngài chưa được thọ ký.

Thì chữ Tứ Chánh Cần của Ngài áp dụng trong Pāramī Ba-la-mật đúng không ? 

- Ngăn trừ bất thiện, Ngài tinh tấn. Thì chữ nghĩa là Tứ Chánh Cần của Sumedha được hiện rõ trong chỗ mà mình biết. 

Thì khi vị Độc Giác họ làm không có Chánh Đẳng Giác, không có Giáo Pháp, họ kiên cố với Pāramī Ba-la-mật của Ngài phải hai lần để Ngài đắp bồi cho đủ nghị lực.

 Ai nhắc nhở mình, ai bảo vệ cho mình, ai cho mình được đầy đủ, vì là Độc Giác. 

Còn Thinh Văn Giác được Đức Phật Ngài xác nhận được đầy đủ. Thành tựu mình không lo, mình bớt đi được một phần rồi, có bậc Chánh Đẳng Giác sẵn rồi.

Do đó, Độc Giác khổ hơn, không có bậc Chánh Đẳng Giác, không có Thầy, không có Giáo Pháp chỉ là không có chỗ nương. Đức Phật Ngài nói các vị Thinh Văn Giác lấy Giáo Pháp làm Thầy, tự thắp đuối mình đi, tự ngưng tư tưởng chính mình. Còn Độc Giác không có, phải đắp bồi, phải kiên cố vững chắc, tự mình phải bảo về cho chính mình, và xác định vị trí mình, và con đường mình đi phải nhứt định thành tựu, không lay chuyển.

Thiền sinh hỏi: Bậc Độc Giác Phật thì không có giáo pháp, không có bậc Chánh Đẳng Giác chỉ dẫn, nhưng các vị này trong những kiếp quá khứ cũng đã có một thời là hành Pāramī Ba-la-mật.

HT trả lời: Họ hành Pāramī Ba-la-mật, có khi họ là Thinh Văn tức là có học Giáo Pháp của Chánh Đẳng Giác. Nhưng tới khi Ngài tách chuyển qua Độc Giác là Ngài đi một mình ên.

Trong Kinh Nhật Tụng, câu:

 Idaṃ vata me puññaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu anṃgate.

Do sự phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây, hãy là món duyên lành để dứt khỏi những điều ô nhiễm  ngủ ngầm trong tâm trong ngày vị lai. Câu đó là nguyện Độc Giác.

Giải thoát là có chủng tử rồi, làm sao cũng thành, đó bài nguyện của Ngài Tịnh Sự.

Do đó, là vị Độc Giác đã từng là Thinh Văn Giác, nhưng cái thời của các Ngài họ nguyện là họ không có Phật và cũng không có Giáo Pháp, là sao?

Bây giờ mình trở lại A Xà Thế sau này là Độc Giác, Đề Bà Đạt Đa thời ông là Độc Giác, mà thời ông là Đức Phật Gotama, ông là Thinh Văn Giác, ông đắc ngũ thiền. Như vậy có những vị Độc Giác đã từng là Thinh Văn, nhưng mà họ nguyện tới giai đoạn đó họ muốn đi một mình.

Trong bài Kinh "Tê Giác Một Sừng ra đi" đó là bài Kinh Độc Giác. Vậy thì Tê Giác Một Sừng ra đi đã từng sống trong bày đàn, và tất cả đi một mình, sống một mình và đi với trạng thái nghị lực của mình trong sự kiên cường của mình. Những người tu hành hạnh Dhutaṅga, là những người tu đầu đà khổ hạnh trong rừng già, họ từng sống trong Tăng đoàn, sau họ thấy đủ nghị lực, đủ kiên cố rồi họ không có gì sợ hãi, không có gì ảnh hưởng tới họ là họ tách ra. Những người đó là Độc Giác. Mà những người đó họ không sợ Nghiệp Chủ./.

-----------------------------------------

Notes từ Internet:

Xem Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống (Kinh số 26 Trường Bộ Kinh) có ghi rằng; vào thời kỳ của Đức Phật Di Lặc - Metteyya  tuổi thọ của loài người là 84.000 ngàn năm: 

Đoạn 25). Khi tuổi thọ của loài Người lên đến tám vạn tuổi, có Thế Tôn tên là Metteyya sẽ ra đời, là vị A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. .....

Trong Biên Niên Sử của Chư Phật (Buddhavamsa), quyển Anāgatavaṃsa (Vị Lai Hệ Tộc). Theo trong quyển này ghi là Đức Phật Di Lặc - Metteyya  thuộc hệ Tinh Tấn Cát Tường (Viriyādhika) - Là vị Phật thành đạo nhờ hạnh tinh tấn. Thời gian tích lũy công đức (Ba-la-mật) của Ngài kéo dài tổng cộng 80 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp, chia làm 3 giai đoạn:

1 Ý nguyện (Phát nguyện trong tâm): 32 A Tăng Kỳ (Nguyện thầm trong tâm mong thành Phật)

- Khẩu nguyện (Phát nguyện ra lời): 28 A Tăng Kỳ (Nói lời ước nguyện thành Phật trước chư Phật (quá khứ).

- Thân hành (Được thọ ký công khai): 20 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp (kể từ khi được Đức Phật quá khứ Muhutta chính thức thọ ký cho đến khi thành đạo.

---------------------------------

Số lượng Đức Phật thọ ký theo từng căn tánh Bồ Tát

Trong suốt thời gian 16 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp (giai đoạn sau khi nhận lời thọ ký đầu tiên cho đến ngày thành đạo), một vị Bồ Tát Tinh Tấn Ưu Việt (Vīriyādhika Bodhisatta) sẽ được nhiều vị Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian thọ ký, chứ không phải chỉ một vị.

Thời gian tu hành và số lượng Đức Phật thọ ký phụ thuộc vào hạnh nguyện ưu việt của vị Bồ Tát đó:

Bồ Tát Trí Tuệ Ưu Việt (Paññādhika): Tu trong 4 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp (tính từ lúc được thọ ký). Trong suốt thời gian này, Bồ Tát được 24 vị Đức Phật tuần tự xuất hiện thọ ký (Tiền thân Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuộc nhóm này).

Bồ Tát Đức Tin Ưu Việt (Saddhādhika): Tu trong 8 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp sau khi thọ ký. Trong thời gian này, số lượng Đức Phật xuất hiện và thọ ký cho Ngài sẽ nhiều gấp đôi nhóm Trí Tuệ, ước tính khoảng 48 vị Đức Phật.

Bồ Tát Tinh Tấn Ưu Việt (Vīriyādhika): Tu trong 16 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp sau khi thọ ký. Vì thời gian kéo dài gấp bốn lần nhóm Trí Tuệ, số lượng Đức Phật xuất hiện để thọ ký cho vị Bồ Tát này là lớn nhất, ước tính khoảng 96 vị Đức Phật tuần tự ra đời. (Đức Phật Di Lặc - Metteyya trong tương lai được tính thuộc nhóm Tinh Tấn hoặc Đức Tin tùy theo bản chú giải kinh điển).

Bản chất của việc "Thọ Ký Tuần Tự

"Trong một A Tăng Kỳ đại kiếp, có những giai đoạn trái đất trải qua thời kỳ "Không Kiếp" (không có vị Phật nào ra đời), nhưng cũng có những kiếp trái đất (như kiếp hiện tại của chúng ta) có nhiều vị Phật cùng xuất hiện.

Khi một vị Bồ Tát đã đắc chứng trở thành Bồ Tát Định Sẵn (Niyata Bodhisatta):

Vị Phật đầu tiên (ví dụ như Đức Phật Nhiên Đăng đối với tiền thân Phật Thích Ca) sẽ xem xét căn tánh và đưa ra lời thọ ký xác định đầu tiên.

Các vị Phật tiếp theo xuất hiện trong suốt 4, 8, hoặc 16 A Tăng Kỳ đó, mỗi khi vị Bồ Tát đến đảnh lễ và cúng dường Đức Phật, các Ngài đều dùng thiên nhãn thông để tái xác nhận (thọ ký tiếp nối) lời tiên tri trước đó: "Vào thời vị lai, cách đây... A Tăng Kỳ nữa, vị này chắc chắn sẽ thành Phật hiệu là..."

Như vậy, con số 16 A Tăng Kỳ là tổng thời gian hành đạo dưới sự chứng kiến và thọ ký của hàng chục vị Đức Phật khác nhau xuất hiện nối tiếp qua các thời đại, chứ không phải do một vị Phật duy nhất thọ ký.

Trong truyền thống Phật giáo Nam truyền (Theravada), được ghi chép chi tiết trong bộ Kinh Buddhavamsa (Kinh Phật Chủng Tính), có 24 vị Đức Phật Toàn Giác đã tuần tự xuất hiện và thọ ký cho tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Bồ-tát Gotama). Quá trình này kéo dài suốt 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất.

Danh hiệu của 24 vị Đức Phật và thân thế của tiền thân Đức Phật Thích Ca khi nhận thọ ký:

1. Đức Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng)

. Tiền thân: Đạo sĩ Sumedha (Thiện Huệ).

. Chi tiết: Đạo sĩ Sumedha đã dùng thân mình lót đường bùn lầy để Đức Phật và tăng đoàn đi qua. Ngài được Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký lần đầu tiên, chính thức bước vào lộ trình 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp để thành Phật.

2. Đức Phật Koṇḍañña (Kiều Trần Như)

. Tiền thân: Chuyển luân thánh vương Vijitāvī.

. Chi tiết: Ngài đã làm lễ cúng dường lớn đại chúng tăng và được Đức Phật thọ ký.

3. Đức Phật Maṅgala (Mang Già La)

. Tiền thân: Bà-la-môn Suruci.

. Chi tiết: Ngài cúng dường thực phẩm và dâng tặng y áo cho Đức Phật cùng tăng chúng.

4. Đức Phật Sumana (Tu Man Na)

. Tiền thân: Long vương Atula tên là Atulo.

. Chi tiết: Long vương đã tấu nhạc trời và cúng dường các loại y báu lên Đức Phật.

5. Đức Phật Revata (Ly Bà Đa)

. Tiền thân: Bà-la-môn Atideva.

. Chi tiết: Ngài tán dương Đức Phật bằng các bài kệ tụng và dâng cúng một tấm y quý giá.

6. Đức Phật Sobhita (Sa Tỳ Đa)

. Tiền thân: Bà-la-môn Ajita.

. Chi tiết: Ngài cúng dường vật thực đến Đức Phật và tăng đoàn.

7. Đức Phật Anomadassī (Cao Kiến)

. Tiền thân: Thống tướng Dạ-xoa (Yakkha).

. Chi tiết: Ngài đã kiến tạo một giảng đường lớn cúng dường Đức Phật.

8. Đức Phật Paduma (Liên Hoa)

. Tiền thân: Một con sư tử chúa.

. Chi tiết: Sư tử phát tâm lành khi thấy Đức Phật nhập định, đi nhiễu quanh Ngài và gầm vang tôn kính.

9. Đức Phật Nārada (Na La Đà)

. Tiền thân: Đạo sĩ đại phạm hạnh.

. Chi tiết: Ngài cúng dường các loại trầm hương quý báu lên Đức Phật và tăng chúng.

10. Đức Phật Padumuttara (Liên Hoa Thượng)

. Tiền thân: Người thanh niên tên Jatila.

. Chi tiết: Ngài cúng dường y phục đến tăng đoàn của Đức Phật.

11. Đức Phật Sumedha (Thiện Tuệ)

. Tiền thân: Người thanh niên tên Uttara.

. Chi tiết: Ngài đem hết tài sản tích góp được để làm đại lễ cúng dường Đức Phật.

12. Đức Phật Sujāta (Thiện Sanh)

. Tiền thân: Chuyển luân thánh vương.

. Chi tiết: Ngài từ bỏ vương vị, dâng giang sơn cúng dường và xuất gia tu hành theo Phật.

13. Đức Phật Piyadassī (Hỷ Kiến)

. Tiền thân: Người thanh niên Bà-la-môn Kassapa.

. Chi tiết: Ngài cúng dường một tu viện lớn đến Đức Phật.

14. Đức Phật Atthadassī (Nghĩa Kiến)

. Tiền thân: Đạo sĩ Susīma.

. Chi tiết: Ngài đem hoa trời cúng dường Đức Phật và được thọ ký.

15. Đức Phật Dhammadassī (Pháp Kiến)

. Tiền thân: Thiên đế Thích (Sakka).

. Chi tiết: Dùng thiên nhạc và các loại hoa báu cúng dường Đức Thế Tôn.

16. Đức Phật Siddhattha (Tất Đạt Đa)

. Tiền thân: Đạo sĩ Maṅgala.

. Chi tiết: Ngài dâng cúng các loại quả cây quý hiếm đến Đức Phật.

17. Đức Phật Tissa (Đế Sa)

. Tiền thân: Vua Sujāta.

. Chi tiết: Ngài từ bỏ ngai vàng, xuất gia làm đạo sĩ và cúng dường hoa báu lên Đức Phật.

18. Phussa (Phú Sa)

. Tiền thân: Vua Vijitāvī.

. Chi tiết: Ngài hộ độ và cúng dường các nhu yếu phẩm đến Đức Phật và tăng chúng.

19. Đức Phật Vipassī (Tỳ Bà Thi)

. Tiền thân: Long vương Atula.

. Chi tiết: Long vương dâng cúng một chiếc ghế báu khảm ngọc thạch lên Đức Phật.

20. Đức Phật Sikhī (Thi Khí)

. Tiền thân: Vua Arindama.

. Chi tiết: Ngài cúng dường vật thực cao cấp và voi báu phục vụ tăng đoàn.

21. Đức Phật Vessabhū (Tỳ Xá Phù)

. Tiền thân: Vua Sudassana.

. Chi tiết: Ngài từ bỏ cung điện, xuất gia trong giáo pháp của Đức Phật.

22. Đức Phật Kakusandha (Câu Lưu Tôn)

. Tiền thân: Vua Khema.

. Chi tiết: Ngài cúng dường y áo và thuốc men trị bệnh đến Đức Phật.

23. Đức Phật Koṇāgamana (Câu Na Hàm)

. Tiền thân: Vua Pabbata.

. Chi tiết: Ngài tổ chức đại lễ cúng dường vật thực đến toàn thể tăng đoàn.

24. Đức Phật Kassapa (Ca Diếp)

. Tiền thân: Người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla (Tuyên bách).

. Chi tiết: Là vị Phật cuối cùng thọ ký trước khi Bồ-tát Gotama tái sanh vào cõi trời Đâu Suất, sau đó hạ sanh thành Thái tử Tất-đạt-đa và đắc quả Phật Thích Ca ở kiếp hiện tại.

------------------------------------

"Bà Elizabeth" chính là tiến sĩ Isaline Blew Horner (thường viết tắt là I.B. Horner, 1896–1981). Bà là một nhà học giả Phật giáo người Anh kiệt xuất, từng giữ chức Chủ tịch hội Pali Text Society (PTS).

Bà không dịch toàn bộ Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya), vì đây là bộ kinh lớn nhất trong Tạng Kinh với 15 đến 18 tập sách. Tuy nhiên, bà đã trực tiếp dịch và hiệu đính nhiều phần cốt lõi của bộ kinh này sang tiếng Anh cho hội PTS.

Các tập Tiểu Bộ Kinh do bà I.B. Horner dịch . Bà Horner đã để lại dấu ấn lớn qua các bản dịch thuộc hệ thống tuyển tập cổ của PTS:

-  Chuyện Thiên Cung & Chuyện Ngạ Quỷ (Vimānavatthu & Petavatthu): Được bà dịch trong bộ Minor Anthologies, Tập IV. Nội dung kể về quả báo thiện ác đưa con người lên cõi trời hoặc sa vào cõi ngạ quỷ.

-  Buddhavamsa (Hệ Tộc Chư Phật - Phật Sử)  & Sở Hạnh Tạng (Buddhavaṃsa & Cariyāpiṭaka): Bản dịch tiếng Anh của bà có tên là The Chronicle of Buddhas & The Basket of Conduct. Sách kể về tiền thân của Đức Phật qua 24 đời cổ Phật và hành trình tu tập 10 ba-la-mật.

-  Trưởng Lão Tăng Kệ & Trưởng Lão Ni Kệ (Theragāthā & Therīgāthā): Bà đóng vai trò hiệu đính và dịch thuật một số bài thơ cổ của các vị tỳ-kheo và tỳ-kheo ni đắc quả A-la-hán


Saturday, August 29, 2026

084 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 9 tháng 12, 2023

 084 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 9 tháng 12, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 084 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Ngũ Ma (pañca-māra)

Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:

1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.

2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.

3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.

4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.

5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.

Đi tới bức tường đụng vô là cái gì? Mình phải xác định trước cái bức tường đó không có một người nào vượt qua được, đó là Tử Thần Ma (Maccumāra), Tử Thần Ma là xác định rồi.

Bốn loại ma kia còn linh động.

Bây giờ không biết mình đứng ở đâu trong 4 loại ma kia, nhưng biết đằng trước mình đi tới là Tử Thần Ma, thì mình còn bao nhiêu tuổi thọ, còn bao nhiêu sức lực, còn bao nhiêu khả năng của mình từ đây cho tới khi gặp Tử Thần Ma là mình sẽ buông tay ra đi, thì mình làm hết tất cả những gì cần phải làm. Còn bây giờ mình buông luôn, coi như là hết cách trị rồi.

Thì trong 4 loại Ác Ma còn lại, cái nào mạnh, cái nào yếu, mình phải biết. Bốn loại Ác Ma còn lại:

Phiền Não Ma (Kilesamāra)

Pháp Hành Ma (Abhisaṅkhāramāra). 

Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra). 

Thiên Tử Ma (Devaputtamāra)

Mình phải xác định 3 loại Ác Ma; Pháp Hành Ma Abhisaṅkhāramāra), Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra), Thiên Tử Ma (Devaputtamāra) nằm trong Tam Tướng: Vô Thường, Khổ, Vô Ngã.

Còn, Phiền Não Ma (Abhisaṅkhāramāra) không nằm trong Tam Tướng.

Khi xác định được đối phương thì mình biết cách giải quyết. 

Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra) là māra, sắc, thọ, tưởng, hành, thức này nó māra, không phải là nó biến hóa, nhưng Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã tấn công vô Ngũ Uẩn này coi như là mình không cách nào chống nổi, nó là māra.

Nên khi cô Bảy nói là cô sợ Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra). 

Không phải sợ, Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra) chỉ nằm trong Tam Tướng mình không phải sợ. Nhưng chỉ sợ Phiền não ma (Kilesamāra). Nó không nằm trong Tam Tướng, khi nó tấn công mình nó có thể đánh gục ngã mình hơn cả Tam Tướng. 

Khi sân nổi lên nó không nằm trong Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã. Mà cái sân nổi lên, nhiều, ít, nặng, nhẹ, mạnh, yếu, không nhất định, cái đó mình mới sợ. Rồi nó còn phối hợp theo những cái liên quan đi theo 7 giai đoạn của Paṭṭhāṇa

Mỗi một vấn đề có 7 giai đoạn của Phát Thú Paṭṭhāṇa:

1) Paticcavàra – Giai đoạn Liên Quan

2) Sahajàtavàra – Giai đoạn Câu Sanh, 

3) Paccayavàra – Giai đoạn Duyên Sinh, 

4) Nissayavàra – Giai đoạn Y Chỉ, 

5) Sansatthavàra – Giai đoạn Tương Tạp, hay là hỗn hòa, 

6) Sampayuttavàra – Giai đoạn Tương Ưng, 

7) Panhàvàra – Giai đoạn Vấn Đề.  

Nó liên hệ nhau trong mối giây oan trái của sân hận mình không thể nào gỡ nổi, nên mới gọi là Phiền não ma (Kilesamāra).  

Do đó mình phải biết. 

Thế thì Pháp Hành Ma (Abhisaṅkhāramāra) nằm trong khung Tam Tướng, thì từ đây cho đến ngày mình chết mình làm được hay không làm được, mình không cần phải lo, tại vì Tam Tướng nó chi phối mình, mình chỉ lo Phiền não ma (Kilesamāra) nó lên cái nào mình phải đối trị nó.

Còn Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). bây giờ mình có lo cái gì cũng phải tuần tự theo chu kỳ của Tam Tướng.

Mình phải tìm ra, mình phải lo từ đây cho tới bức tường cuối của mình, khi Tử thần ma (Maccumāra) gõ cửa thì mình đi. Trong khi đi thì có 2 hạng đi: đi tiếp tục sinh, hay đi còn phải luân hồi sinh tử trong lục đạo, mình phải tìm ra 2 cái đó.

Đọc lại trong kinh Đức Phật hồi đó Sư thấy là ít thấy thời của Đức Phật có đệ tử nào đi đến Bất Lai.  Nhất Lai có, Thất Lai có rồi Vô Sinh, chứ Bất Lai không có. Bây giờ mình ở trong vị trí nào, mình phải tìm ra.

Ý Sư muốn nói quí cô hiểu không.

Đức Phật có 4 giai đoạn: Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai, Vô Sinh (Arahant). Thì ở trong thời Đức Phật, mình đọc rồi mình ngồi nghiệm cái thời đệ tử Đức Phật các vị Thinh Văn Giác, thì mình đi con đường mình đi, thì mình nói.

Thất Lai, điển hình là ông Cấp Cô Độc.

Nhất Lai, điển hình là con gái ông Cấp Cô Độc.

Khi tới Bất Lai thì ngừng không đi tiếp được, tại vì phải gỡ lậu hoặc của mình, như Ngài Anuruddha thì lậu hoặc qua tới phần kiết sử rồi. Nên người có Lậu Tận Thông họ mới ngỡ lậu hoặc này ra cho mình, thì mình mới thấy được, mình mới vượt qua cái này. Thì Anuruddha bước qua cái lậu hoặc và đắc được Vô Sinh. 

Thì cái cửa Bất Lai nó chỉ dừng lại cho người thế gian, con người thế tục. Tại vì, nếu Bất Lai mà muốn tới Vô Sinh là phải xuất gia, còn không thì chết trong 7 ngày.

Con đường Vô Sinh có 2 hạng: 

- Hữu Dư Y, Vô Sinh, người xuất gia. 

- Vô Dư Y: Nếu như người Vô Sinh mà không xuất gia thì phải Vô Dư Y ngay tại đó, đắc đạo đoạn mạng, tại vì họ không có chủng tử xuất gia, lúc đó họ đắc được Vô Sinh rồi, thì trong 7 ngày mà không có chủng tử xuất gia thì họ phải Vô Dư Y, tại vì họ tinh khiết rồi, họ không thể sống trong phàm phu tục tử  mà để bụi trần bám vô được.

Như vậy thì cái cửa Vô Sinh này là cửa cuối cùng (death end) của Tử Thần Ma cho người không xuất gia, mấy cô phải chọn đường đi qua Ngũ Tịnh Cư (Suddhāvāsa) nếu như mình không có chủng tử xuất gia.

Đó là những bài mình học rồi giờ mình nghiệm lại.

Do đó, khi Sañjaya nói với Ngài Kolita không cần xuất gia, mình làm cư sĩ là con đường đi của Kolita một là Vô Dư Y đắc Vô Sinh, hai là Bất Lai về Tịnh Cư Thiên tiếp tục tu ở nơi đó.  Khi có một vị Sư, một vị xuất gia mà họ nói như vậy là Sư biết vị đó không có giúp mình, tại sao dám nói là không cần phải xuất gia, con đường tử thần này mình không qua được thì mình phải chuẩn bị khi Tử Thần Ma đến là mình ra đi, có dịp đi là mình đi được rồi.

Mà đây cũng vậy, mình muốn Thất Lai thì mình còn lên xuống, chỉ có độc nhất là tránh 4 đường ác đạo  (địa ngục, ngã quỉ, atula, xúc sinh), mình không rớt xuống, mình chỉ đi 2 cửa là Nhân, Thiên, Nhất Lai mình chỉ Nhân Thiên thôi. 

Nhưng Bất Lai và tới Vô Sinh mà không xuất gia thì một là Vô Dư Y, hai là về cõi Tịnh Cư Thiên, nếu không đi xuất gia. 

Không có con đường xuất gia thì chọn 2 đường, một là về cõi Tịnh Cư Thiên, ở đó tiến tu đến Niết-bàn, hai là mình vượt qua Bất Lai mà không chịu xuất gia hoặc không có chủng tử xuất gia thì mình chọn Vô Sinh Vô Dư Y Niết Bàn trong 7 ngày, không sửa được, không chuyển được. 

Các quí Phật tử phải suy nghĩ kỹ. Cái đó là con đường cuối cùng, cái cửa xuất gia là con đường cuối cùng. Mình phải suy nghĩ, mình chọn con đường nào. 

Tất đoạn mạng" (chấm dứt mạng sống),  bò húc cái đi luôn như ông Bahiya vô dư y Niết-bàn.

Hay 30 vị Tỳ Khưu ở trong rừng mỗi ngày bị cọp ăn một vị Tỳ Khưu, chư tỳ khưu cứu không được, một bên là vực thẳm, một bên là con cọp, nếu vị Tỳ Khưu nhảy xuống vực thẳm mà con cọp nhảy theo thì cả hai cũng chết nên vị Tỳ Khưu ngồi quán tưởng vừa xong là đắc vô dư y Niết-bàn, tất đoạn mạng" (chấm dứt mạng sống)

Còn nếu như không xuất gia mà mình không có muốn vô sinh Niết-bàn thì mình phải chọn tái sinh về cõi Tịnh Cư Thiên để ở nơi đó mình tu tiếp 5 tầng Ngũ Tịnh Cư Thiên; 

1. Vô Phiền, 

2. Vô Nhiệt, 

3. Thiện Kiến, 

4. Thiện Hiện, 

5. Sắc Cứu Cánh.

Thế là khi mình xác định được con đường đi của mình thì mình mới lập chú nguyện  Adhiṭṭhāna. Mình đi 3 bước ; Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai, về Ngũ Tịnh Cư Thiên, không sinh hoạt như con người sống ở cõi trần gian này phiền não, cho dù bậc Thánh cũng vậy.

Thời của Đức Phật Độc Giác Paccekabuddha không có 4 bậc; Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai,  mà là Alahan Vô Sinh thôi, các Ngài tự tu tự chứng giải thoát, hành giả đi tới A La Hán luôn.  Các vị Độc Giác Paccekabuddha là những người xuất gia, chứ không có người cư sĩ, không có người tại gia. 

Mấy cô phải coi lại. Bốn bậc này là thời của các vị Thinh Văn Giác mà thôi, mà Thinh Văn Giác chỉ có trong Thinh Văn Giác, và hành giả phải lập nguyện là tới Bất Lai và sinh về cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên nếu như không có chấp nhận hay là không có chủng tử, có hay không có hạt giống xuất gia thì hành giả sinh về Ngũ Tịnh Cư Thiên. Còn nếu hành giả vượt qua Bất Lai mà muốn Vô Sinh, hành giả không xuất gia thì hành giả chấp nhận Hữu Dư Y, Vô Dư Y trong vòng 7 ngày.

Thì mình phải biết hướng đi của mình, chứ không thể nào nói một cách mơ hồ được, cửa ngõ nó như vậy.

Bốn bực này; Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai, Alahan Vô Sinh và 3 bậc trên Thinh Văn, Độc Giác và Chánh Đẳng Giác, thì mấy cô ở trong bậc nào? Cửa tử sẽ đến với mình không thoát được, không ai qua khỏi được cửa tử thần, thì những gì còn lại từ đây cho tới ngày mình gặp thì mình làm những điều gì nên làm cho mình.

Cũng vậy, nếu như hành giả biết con đường mình phải giải thoát phải qua con đường xuất gia hay minh phải đi về Ngũ Tịnh Cư Thiên, còn không là Vô Dư Y Niết-bàn ngay khi đắc quả A La Hán. Thì hành giả phải chuẩn bị lập nguyện của mình trên con đường tu tập, chứ không thả lỏng được.

Hành giả có lập nguyện, có ý chí, từ đây cho tới ngày đối diện với tử thần hành giả còn lo cái phiền não, cái phiền não có sinh lên hành giả dập tắt liền, hành giả không nuôi dưỡng phiền não, không để cho phiền não xâm chiếm vào cuộc sống của hành giả.  Hành giả không lo Ngũ Uẩn Ma, không lo Pháp Hành Ma, không lo Thiên Tử Ma. Tại vì hành giả biết cái death end của hành giả là Tử Thần. Thì con đường tu đắc đạo quả của hành giả biết, một là đi Thất Lai, hai là đi Nhất Lai, 3 là đi Bất Lai sanh về cõi Tịnh Cư Thiên, từ đó Vô Sinh Niết-bàn, ở đó không có trở lại con người và cũng không cần phải đi xuất gia.

Còn nếu đi từ Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai tới Vô Sinh thì hành giả phải quyết định một trong hai:

 1. Hành giả muốn được Hữu Dư Y Niết-bàn hưởng được thời gian còn lại trong cuộc sống của mình có tuổi thọ thì hành giả phải là người xuất gia.

2. Hành giả không có chủng tử xuất gia và cũng không có duyên với việc xuất gia thì hành giả vô dư y niết-bàn trong vòng 7 ngày khi đắc Vô Sinh, có khi là ngay đó.

Hành giả phải biết hướng của mình, còn mình không biết nhìn, không tìm được nó, không nghĩ ra nó, và mình không có viết ra, thì con đường tu của mình là không có định hướng. Tại vì đó là death end.

Mấy cô đọc lại đi, thời Đức Phật không có một vị Vô Sinh nào mà ở trạng thái gia đình, phải xuất gia. Năm trăm bà ở trong hoàng cung ở Kapilavatthu  Ca Tỳ La Vệ sau khi những người nam đi hết thì 500 bà tập hợp lại cùng đi xuất gia.  Đức Phật không để cho mấy bà đi Thất Lai, Nhất Lai, 500 bà đều A La Hán.  Do đó, bây giờ không còn phái đoàn tỳ kheo ni nữa, vi đã đắc quả A La Hán hết rồi, tại vì người ta xuất gia, đi vào chùa tu hết, vào trong giáo đoàn ni, người trưởng giáo đoàn ni là bà Gotami, thì mấy cô đọc mấy cô phải tìm hiểu cái đó.

Còn nếu như mấy cô thấy căn cơ của mình trong kiếp này không có nghiệp duyên tới A La Hán, thì mấy cô phải tu, Thất Lai, Nhất Lai, qua khỏi 4 đường ác đạo rồi. Thất Lai, Nhất Lai không có rơi xuống của cái thời của Pacceka Độc Giác, các Ngài đi xuống con đường của Thinh Văn của Chánh Đẳng Giác.

Có một cơ hội nữa khi đắc Thất Lai, Nhất Lai trong kiếp này, cơ hội này có mà quí cô có thể làm được, là có 5.000 năm Phật Lịch. Thì khi Xá Lợi Niết-bàn tụ lại ở  Buddhagaya thì lúc đó có một vị Phật thuyết 7 ngày mà chỉ có Chư Thiên tới nghe thì mấy cô Thất Lai, Nhất Lai xuống hốt cú chót và quyết định luôn. Thì chắc chắn là thời đó không có Bất Lai, không có Vô Sinh mà Chư Thiên đó ở chỗ Ngũ Tịnh Cư Thiên, ở đó có Thất Lai, Bất Lai thì họ về Ngũ Tịnh Cư Thiên. Mình nguyện từ đây tới đó còn 2,400 năm. Đó là 2 cái bỏ túi.

Mình bàn tiếp vấn đề Balamật (pāramī)., mình bỏ túi 2 cái, mình nguyện Ba La Mật với cái đạo quả, có thể là mình lượm được Thất Lai trong kiếp này.

Thì trong khi hành giả lập được nguyện đó hành giả vẫn còn tại thế, còn sinh hoạt trong gia đình, không có gì buột phải xuất gia, thì điều đầu tiên mà mình đắc Thất Lai Tu Đà Hườn là mình sửa đổi tri kiến của mình. Cái diṭṭhi tri kiến của mình đi qua cửa kiến giải, chứ mình không thay đổi gì về danh sắc của mình không thay đổi, chỉ thay đổi tri kiến thôi.

Thì đầu tiên nhất là hành giả sửa tri kiến của mình, cái kiến chấp của mình là mình bỏ tà kiến, thường kiến, đoạn kiến, vô nhân kiến, vô hành kiến, vô sở hữu kiến, mấy cái đó trong khi ăn, nói, đi đứng nằm ngồi, trong ba là thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp là mình đừng có rớt trong tà kiến này là mấy hành giả qua khỏi con đường Thất Lai, chứ không có bắt buộc mình thay đổi hình tướng, hình dạng, danh sắc.

Giống như bây giờ mình nói, mấy cô lớn tuổi không thay đổi mà đắc quả Thánh rồi mấy cô trẻ lại được, nhưng cái tri kiến của cô là bất di bất dịch không lay chuyển được là có niềm tin bất thối với Tam Bảo.

 Nếu như mình lấy được cái Thất Lai là mình phải sửa tri kiến của mình. Sửa tri kiến của mình là trong thân ngự ý, tại vì nó là nơi mình tạo tác nghiệp, mà tri kiến lấy cái đó xen kẽ vào. Thí dụ mấy cô không có nói, dù vô ý, vô tình hay hữu ý hữu tình, cố ý hay không cố ý, mình nói hên xui. Thì khi mình nói còn hên xui thì là ngữ và ý. Mà cái hên xui mà mình nói ra hay là may quá, mình nói ra, đó là cái thói quen, nó là kiết sử. Cái chỗ thói quen, cái kiết sử này là mình ở trong tham ái, chứ không phải tham dục. Tham ái là do sự thương, sự thích của mình.  Tham dục là do đối với cảnh. Mình phải sửa cái tri kiến này.

Thí dụ: "May quá, sui quá", đó là tham ái, là mình muốn có cái này, mình muốn được hưởng cái này. Chứ không phải là đối với cảnh, đối với sắc đẹp, sắc thinh khí vị xúc. Nó thuộc về tham ái với cảnh pháp, do kiết sử dẫn tới, Thì mấy cô phải tu tập trong thời gian này, từ đây cho tới ngày cuối của mình là Thần Chết gõ cửa.

Mình không gần cái người nói: "hên, sui, may mắn", và mình cũng không nói như vậy trong sinh hoạt của mình, trong thân, ngữ, ý của mình, thì kiến chấp đó không thành.

Mình nhìn mỗi cái chuyện gì đó nó thuận hay là không thuận với cái pháp đang hiện bày, mình chỉ nhìn thấy nó là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã. Đó là mình đang có cái sửa cái tri kiến của mình, không còn nói: "may quá, sui quá" nói cái đó là do kiến chấp của mình trong đó.

Thí dụ, một pháp nghịch đến với mình, nó không có thuận theo như mình nghĩ, mình không nói khổ đau, vô thường, vô ngã, thì mấy cô mới có cơ hội mà ra được  cetanā (chủ ý, tác ý), cái cetanā nằm trong cái 7 tâm sở. Nên mấy cô phải biết không có bỏ qua được.

Mình nói thức tỉnh liền, mình không để cho nó control mình. cetanā là của mình, tâm thức là của mình, cetanā là tâm sở thì hành giả phải biết liền và hành giả phải làm cái gì nên làm trước khi tới ngày cuối của mình. Khi tới death end này mình buông tay chấm dứt thì mình mới biết rằng là những gì mình đã làm trong thời gian mình tu tập có ích lợi, cái tỉnh giác hữu lợi, hữu dục, mình phải tìm được cái đó, cái tỉnh giác này cũng có cái nghĩa đó, chứ không phải mình niệm suôn, mình tỉnh giác mà suôn được, mình phải có. Tại vì mình đọc trong kinh, từ bài kinh này tới bài kinh kia thì mình thấy các quí Ngài có kế hoạch. 

Như ông Cấp Cô Độc, ông đi tới Đức Phật, ông không có một tư tưởng xuất gia, là con đường giải thoát của ông thì bị chặn lại, ông chỉ nguyện làm một đại thí chủ, giống như bà Visākhā. Mấy cô nhìn lại trong  tích chuyện cũ, trong đó có tích chuyện bà Visākhā, một kiếp trong quá khứ bà có một người bạn cúng dường, bà  hỏi Đức Phật về người bạn, bà muốn được như bà thí chủ đó, như bà bạn của bà, thì Đức Phật Ngài đồng ý, bà cúng dường trong 7 ngày, bà chỉ xin là thời nào có vị Phật ra đời thì xin là đại thí chủ.

Thì mấy cô phải hiểu, Ngài Tịnh Sự Ngài dạy Sư, Ngài nói: "người cư sĩ họ tài thí mình, mình không được thọ suôn, mình phải pháp thí lại, nếu không thì mình mắc nợ. Ngài dạy Sư nếu mà người cư sĩ mà vô dọn đất của mình mà mình không có gieo trồng cái gì trong đây để họ hưởng, thì mình trở thành người thọ công của người ta làm cho mình. Thì người cư sĩ có tài thí thì người xuất gia phải có pháp thí:

Tại gia thí tài, xuất gia thí pháp, song thí đồng hỉ, phước báu vô lượng

Visākhā, ông Cấp Cô Độc Anāthapindka, nguyện kiếp nào sinh lên chỉ xin làm đại thí chủ.  Do đó Đức Phật Ngài, vị Phật nào cũng vậy, tới thời đó thì phải trả công làm phước độ trong bốn đường ác đạo. 

Người đại thí chủ trong một kiếp sống của một vị Phật mà họ làm đại thí chủ thì giống như chư Thiên. Chư Thiên khác với vị đại Phạm Thiên. Mấy cô nhớ chưa, người mẹ, người cha của một vị Phật, là bốn bậc Ứng Cúng đáng được cúng dường, tại vì sinh ra mình, hai nữa là thầy giáo đầu tiên dạy cho mình, thứ ba là chư Thiên. Chư Thiên là gì? là bảo hộ, bảo vệ, hộ độ, bảo dưỡng, giữ gìn. Còn Phạm Thiên là Tứ Vô Lượng.

Thì mấy cô thấy ông Cấp Cô Độc Anāthapindka, bà Visākhā, nguyện là đại thí chủ thì họ là người bảo hộ, bảo vệ cho Tam Bảo, cho Phật Pháp, là chư Thiên đi tới Thất Lai.

Do đó, bây giờ kiếp này dọn sạch cái sân rồi mấy cô bỏ pāramī Balamat của mấy cô vào. Thì mấy cô nói tôi chỉ hộ độ Tam Bảo thôi, thì mấy cô sẽ được tránh khỏi bốn đường ác đạo.

Chư Thiên đó, Đức Phật Ngài lên độ Mẹ và 800 vị chư Thiên là Thất Lai, các vị chư Thiên đó bây giờ  như Ngài Thiên chủ Đế Thích Sakka bây giờ cũng đang hộ trì Tam Bảo. Các quí Phật tử đây tới chùa lo tu học thì nguyện hộ trì Tam Bảo.

Còn nếu như mấy cô nguyện kiếp này phải giải thoát, không muốn sanh tử nữa, không muốn trở lại bất cứ hình thức nào, dù chư Thiên hay người, thì mấy cô phải đi tới con đường Adhiṭṭhāna Chú Nguyện.

Pāramī (Ba-la-mật) là lộ trình hay là yếu tố để làm phương tiện cho mình đi tới con đường mình lập nguyện thành đạt được, chứ còn không mấy cô không có kế hoạch, không có sự chuẩn bị thì bao nhiêu yếu tố bên ngoài tác động vào, chưa nói tới nghiệp báo. Mấy cô nhớ há, khi mà mấy cô tu dù tại gia hay là xuất gia đi tu thường bị khảo đảo làm đường tu trục trặc dữ. Quí cô ở nhà thôi, bữa nay cô nguyện: xin cho tôi 24 giờ đồng hồ được an lành, mà không được, cây muốn lặng, gió không chịu ngừng. Cố ý trồng hoa, hoa không nở, vô tình cắm liểu, liễu lại xanh.

Do đó, mình phải nghiệm ra nó thì cái đó tại gia cũng bị thử thách khảo đảo, xuất gia cũng bị thử thách khảo đảo. Thì quí cô lấy cái trí của mình quyết định con đường mình đi. Rồi từ đây mình nói tới ngày cuối đường của mình là tử thần tới mở cửa hành giả đi trong cái gì hành giả biết, thì mới có. Mấy cô biết mỗi ngày làm được bao nhiêu phước báu hiệp thế, phước báu siêu thế, phước báu chế định, phước báu siêu lý, phước báu Pāramī, phước báu phước thiện. Mỗi ngày mấy cô mới tìm ra được, chứ còn không mấy cô không để mất được, mấy cô không có định lượng được.

Mình cũng giống như bao nhiêu Phật tử khác, cũng giống như bao nhiêu Sư khác, thầy khác ở trong chùa, với một trạng thái phước thôi, chưa chắc nó là phước.

Đức Phật Ngài nói nếu không làm thiện, bất thiện nó trở lại. 

Thí dụ như một ngày mình không tu thì nghiệp bất thiện cũ của mình nó trở lại. Một ngày mấy cô không nấu cơm mới thì mấy cô ăn cơm cũ. Tại sao mình còn cũ, tại vì mình ăn không hết nên mình còn dư, còn nếu mình hết, cái cũ hết là mình không có dư, thì mình phải tạo cái mới.

Trong một ngày cô có thiện phước mới hay là thiện phước cũ cô đang dùng, mình phải có, mình sài cái cũ hoài, mình an phận thì mình cứ sống ăn hiền ở lành, ăn chay niệm Phật. Mình cứ sống như vậy không sao, không ai chê trách, và mình không có gì cắn rứt lương tâm mình, nhưng, mình sống với trạng thái cái cũ hoài, không có cái mới.

Các cô phải biết chứ không thể nói không đúng lương tâm. Nhưng mấy cô phải biết để mấy cô có kế hoạch.

Hành giả chỉ xin làm hộ độ Tam Bảo, Tam Bảo không bỏ mình, đầu tiên là cắt đứt bốn đường ác đạo, đó là an toàn rồi, thứ hai là tạo cho hành giả có điều kiện đắc Thất Lai, không rớt xuống bốn đường ác đạo là hành giả đắc Thất Lai, rồi từ đó đi lên xuống, dài hay ngắn, mau hay lẹ, thời nào, quyết định được hết.

Khi mình tu, như bữa trước Sư nói về Pāramī (Ba-la-mật) trong đời sống hàng ngày của mình, mình sẽ thấy, làm cái gì cũng làm việc thiện,  cũng làm Pāramī (Ba-la-mật), thì mình mới thấy. 

Trong mỗi cái điều kiện tới, đi chợ mua thực phầm để ngày mai lên chùa cúng dường, hay là sinh hoạt với lớp, thì đi chợ mình cũng phải có tác ý toàn thiện. Thì khi đi chợ thì mấy cô có cái gì trong tâm? Có tam tư: tư tiền, tư hiện, tư hậu, tinh tấn hay là xả thí, hay là trí tuệ, hay là chú nguyện, mình không bỏ một cơ hội nào. Đi chợ xong thì mang thực phẩm về, bắt đầu bày ra và nấu chín, thì cũng phải có tam tư toàn thiện, rồi ngày mai mang lên chùa cũng tam tư toàn thiện. Làm những việc này là hộ trì Tam Bảo, làm nhân để đạo quả Niết-bàn.

Khi mấy cô nguyện làm nhân làm duyên đạo quả Niết-bàn là mấy cô đi đến Vô Sinh, thì mấy cô phải đối diện 2 mặt.

Còn Thất Lai, hành giả làm được Thất Lai, là hành giả chỉ hộ độ Tam Bảo, tự mình gieo hạt giống. 

Sư đứng về pháp thí, các quí Phật Tử đứng về tài thí, mình tới đây để kết nối nhau tài thí pháp thí thì Sư biết là các quí Phật tử là những người hộ độ Tam Bảo thì Sư sẽ đưa tới cái mức của hộ độ Tam Bảo. Còn nếu như mấy cô là những người nguyện giải thoát Niết-bàn, không muốn sinh tử, không muốn chậm trễ nữa, không có thì giờ, không muốn đối diện, và  không có đủ sức phải tiếp xúc với nó nữa, mệt quá rồi, thì mấy cô nhân đạo quả Niết-bàn, thì mấy cô phải có Vô Sinh.

Bà Ba đi nghe pháp Ngài Hộ Tông nói, đi 4 chỗ động tâm bên Ấn Độ, trong kinh Trường Bộ, bài kinh DN 16 - Maha-parinibbana Sutta  Đại Bát Niết Bàn: Người nào có duyên, có phước đến bốn chỗ động tâm mà bỏ xác thân là 100% sinh Thiên giới chứ không ở trong bốn đường ác đạo. Thì bà Ba nguyện: "Nguyện con được sinh về Thiên giới." thì vừa tới Bồ Đề Đạo Tràng bà bị mệt, bà xin Chư Tăng tụng kinh bà ra ngoài ngồi đợi, thì ra tới ngoài, rồi bà đi luôn.

Khi bà nguyện thì Chư Thiên khi đó đang nghe pháp, Chư Thiên hoan hỉ ghi nhận, và chủng tử bà gieo rồi thì trổ sinh cùng lúc luôn. Tại vì sao? Tại vì bà đủ tam tư (tư tiền, tư hiện, tư hậu) và bà không thiếu trí khi bà nghe pháp không phải như mình nghe để mình hưởng hay mình thích mà mình lấy trí tuệ mình mở con đường mình đi, chứ không để duột.

 Như ông Upatissa nghe Ngài Assaji nói thì Upatissa mở trí tuệ bắt pháp liền chứ không để duột mất, mình biết mình sẽ để duột mất thì mình phải có chú nguyện Adhiṭṭhāna. Mà Adhiṭṭhāna là một trong mười pháp Pāramī (Ba-la-mật).

Chư Thiên và các bậc trí sẽ tìm ra được đường các cô đi. Các cô ngồi nghiệm lại đi, mình đi chợ với tam tư (tư tiền, tư hiện, tư hậu) và tác ý mình làm cái gì, và khi lên chùa với tam tư và tác ý mình làm cái gì, và cúng dường với vấn đề xả thí vật thực này hay Tam Bảo với tác ý gì.

Như Sư nguyện bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thì trong mỗi buổi giảng, hay buổi Sư hướng dẫn cho Phật tử tu học, cũng như trong phần dịch kinh Sư cũng phải có cái Chánh Đẳng Chánh Giác Sư đă nguyện, và Sư không bao giờ nghĩ con đường của Thất Lai, Bất Lai, con đường của Sư là phải đi tiến tới Chánh Đẳng Chánh Giác. Mà Chánh Đẳng Giác của Sư không phải là đức tin, không phải là tinh tấn, phải là trí tuệ. Do đó, Sư phải dùng trí tuệ. Khi Sư mở một cái gợi ý cho quí Phật tử, mà quí Phật tử không thấu hiểu được, không nắm bắt được, thì trí tuệ Pāramī (Ba-la-mật) của Sư phải xoay qua cái khác để làm sao Phật tử hiểu được. Đó là Sư đã làm được toàn thiện Pāramī (Ba-la-mật) của Sư, hết cả mạng sống rồi, để mà làm sao mấy cô phải đạt được nắm bắt pháp này, mà pháp đó nó phải tương ứng với hạnh nguyện của các quí cô chứ không phải của Sư. Mấy cô chỉ làm với nguyện hộ độ Tam Bảo, chứ không với mạng sống của quí cô.

Không được, mấy còn nhiều cái hệ lụy lắm, còn nhiều cái ràng buột, mấy chưa có thuận duyên. Mấy cô chỉ lên tới Thất Lai, Nhất Lai.

Thiên Tử Ma không có đủ lực để cản. Ngũ Uẩn Ma không có đủ để mà cản người. Chỉ có Phiền Não Ma là mình không vượt qua được thôi, mình chịu thua, chứ còn ngoài ra mấy cái đó không đủ để cản.

Ngũ Uẩn Ma là khi mà cô bịnh, cô yếu, cô không khỏe, cô mệt, cô chết, cô thất vọng hay cô không hoan hỉ, cái Ngũ Ma; sắc, thọ, tưởng, hành, thức này không có cho để mà nó đủ khống chế mình, chỉ có phiền não là mình không vượt qua được thôi, nếu mình không có trí, thì mấy cô phải có hướng đi.

Như Tỳ Khưu Sona không sợ Ngũ Uẩn Ma, không sợ Thiên Tử Ma, không sợ Pháp Hành Ma, chỉ sợ Phiền Não Ma thôi. Ông đi không được, ông ngồi không được, ông đi hành thiền, mà thiền không được, ông bò, máu chảy ở đầu gối, tay chân máu chảy.  Đức Phật Ngài nói cái này là tinh tấn quá mức, ông là Tinh Tấn Pāramī (Ba-la-mật), nhưng ông không điều ngự ngũ Quyền: tín, tấn, niệm, đinh, tuệ, ông không làm đủ, ông chỉ làm Tấn Lực thôi nên những cái kia giảm xuống. lấy cái định lên để giảm cái Tinh Tấn, thì Ngũ Lực quân bình lại.

Thì mấy cô thấy những cái đó là ông đang chiến đấu với Phiền Não Ma, ông không để ý tới Ngũ Uẩn Ma.

Cũng như bà Sona, bà già rồi, bà cũng không để cho Ngũ Uẩn Ma chi phối, bà chỉ lo Phiền Não Ma, ta chưa vượt qua, tử thần tới bắt đi, hết kiếp sống. Không hành thiền ở trong thiền đường, bà ra ngoài rừng, vịn cây mà đi, bà tinh tấn đi như vậy mà đi tới kết quả Alahan. Vì bà vượt qua được Phiền Não Ma chứ không bị  Ngũ Uẩn Ma ảnh hưởng, hay là Thiên Tử Ma hay Tử Thần Ma không cản được bà. Vì bà biết đối tượng của bà là Phiền Não Ma.

Bây giờ mình liệt kê ra rồi, nếu như là mấy cô không liệt kê được 3 pháp này đưa vào trong tam tướng để mà cô không phải bận tâm lo, chỉ còn 1 cái phiền não để mà tập trung giải quyết nó, thì cô phải có 4 lo cùng lúc, hết lo phiền não, hết lo Ngũ Uẩn, lo tử thần, lo Thiên Tử, lo Thiên Ma. Thì lúc mấy cô có 4 cái đó, thì mấy cô phải nói: đường tu tôi có nhiều thử thách,  đường tu tôi có nhiều khảo đảo, cái này là Thiên Ma đang thử thách tôi. Tại vì mấy cô không đóng 3 cái này lại, mấy cô không đưa 3 cái này vô tam tướng này,  mấy cô chỉ có đối diện phiền não, những phiền não lên mấy cô đóng nó thì mới có tri kiến chân chánh. Mà tri kiến chân chánh là cửa ngõ đến Thất Lai, còn không thì mấy cô bị quay cuồng trong bốn ma, mấy cô không sát định ở trong cái nào 

Cô đang tu hay đang làm việc thiện nào đó mà bị chướng ngại thì cô có xác định đây là Phiền Não Ma không, hay là cô đang bấn loại trong một trong bốn cái ma này. Cô sẽ rớt trong một trong 4 cái đó thì cô sẽ sinh lên si phóng dật, si hoài nghi, rồi các cô chấp thủ vào đó thành giới cấm thủ, và trong cái đó mấy cô không thấy được cái đó thì cô có tà kiến; Vô Hành, Vô Hữu, Vô Nhân, mấy cô trong đó. Mà nếu như rớt vào Micchādiṭṭih là Chuẩn Xác Tà Kiến là vô phương chữa, ngay cả bậc Chánh Đẳng Giác cũng không gỡ được cho mình.

Bây giờ mình lọc trước, đóng 3 cái này qua một bên, mình chỉ đối diện với phiền não thôi. Ngũ Uẩn Ma chi là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, đâu có gì đâu mà phải động tới nó. Thiên Tử Ma chỉ là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã. Chỉ có Phiền Não Ma là tôi mới lo. Thì tri kiến của cô chỉ chú tâm vào một điểm thôi, và mấy cô không có hoài nghi nữa, và không có giới cấm thủ nữa, và mấy cô chỉ tập trung vô một cái kiến giải để giải quyết tập khí này. Cái tri kiến của cô kiên cố với Tam Bảo. Tri kiến của cô với Trí Tuệ Pāramī (Ba-la-mật), thì mấy cô sẽ có hướng đi của con đường mà mình lập nguyện.

Người xuất gia cũng vậy. Nếu như người xuất gia mà không có một cái tri kiến thì con đường xuất gia của họ cũng như là tu thiện thôi, mình ăn hiền ở lành, và không giải quyết được cái cetanā (tác ý).

Dù bấy lâu nay mấy cô nguyện làm nhân đạo quả Niết-bàn, hay là làm từ thiện để hộ độ Tam Bảo, mình chỉ có cái nhãn hiệu đó thôi.

Phải cẩn thận, nó khác nhau mà mấy cô không để ý thì rớt, nhất là mấy cô đi thi mà A, B, C khoanh, câu giống nhau mà cô khoanh là rớt liền. 

Nó mới lọc cái hoài nghi, cái giới cấm thủ, mới lọc được cái tri kiến, thì con đường đó là tới Thất Lai. Cái đó là kiến thức. Chứ lơ tơ mơ thì không có kết quả. Cái gì cũng có hết. Không được, phải xác định và mình hạ thủ công phu quyết tâm.

Thí dụ, có 4 hạng người: 

1. Người nghe nửa câu đắc đạo quả. 

2. Người nghe hết câu đắc đạo quả.

3. Người được giảng dạy đắc đạo quả.

4. Người nghe để gieo duyên cho kiếp sau.

Thì các cô xem mình ở loại nào? Mình nghe 2 câu đầu là đắc đạo quả.  Thì mình nghe Ngài Assaji nói: 

Mỗi pháp sinh lên bởi cái nhân, 

chính cái nhân hiện bày pháp.

 Mỗi pháp sinh lên bởi cái duyên, 

chính cái duyên hiện bày pháp.

Hai câu sau: "Tôi được nghe từ bậc đại sĩ đã nói câu đó" là 2 câu sau. Thì khi nghe Ngài Assaji nói 2 câu đầu thì Ngài Upatissa đắc đạo quả. Còn nếu như mà mình không qua được 2 câu đó, mình xuống tới 2 câu sau là chính cái trí tuệ Đức Phật này làm xác định cho mình có một đức tin thì mình mới đắc đạo quả, đó là mình là hạng người thứ hai.

Câu thứ 3 Ngài Assaji nói: "Tôi hành theo đó, tôi có kết quả" thì mình là người được giải thích.

Còn mình nghe thì để kiếp sau.

Thì Ngài Upatissa đắc đạo quả, vì Ngài là bậc thượng trí.

Hai câu sau: "Tôi được nghe từ bậc đạo sĩ" . Hai câu sau để kết thúc cho đức tin.

Thì bây giờ mấy cô thuộc hạng nào, một trong bốn hạng người này ? 

Tôi không có hơn thua, tranh dành, bon chen, tôi kết thúc liền. Còn mình là anh hùng, là đại bồ tát, đi đi, tôi đứng đây đợi, chừng nào hết ai đi thì tôi đi, thì mình đi theo cái nguyện đó.

 Có người nguyện, nguyện khi nào mà chúng sinh dưới địa ngục hết thì tôi giải thoát, cái đó giống như nguyện không còn ai đi xe bus thi tôi mới đi, thì mình cứ đứng đó.

Giống như hồi xưa chưa xây cầu Bắc Mỹ Thuận, lúc đó còn đi phà, mình nguyện ai đi hết, tôi chờ, hết người đi tôi mới đi, thì mình đứng nơi bến phà đợi hoài.

Khi Ngài Paṇḍita nói có 4 hạng người, thì hạng người thứ tư là nhiều kiếp sau, chứ kiếp này không có cơ hội.

 Bây giờ mình nói về pháp có 3 hạng người: 

1. Người thiện vô nhân

2. Người nhị nhân

3. Người tam nhân

Người thiện vô nhân coi như gieo duyên, người nhị nhân coi như là gieo duyên, không đắc đạo quả trong kiếp này, tại vì không có trí, chỉ có vô tham vô sân thôi, họ sẵn lòng tu phước, chứ tu tuệ họ tu không được. Họ tu phước, chuyện gì về phước họ cũng làm không nệ hà gì hết. Thì kiếp nào họ sinh lên họ có đầy đủ về phước vật, còn phước trí thì họ không có duyên vì họ không tu tuệ.

Nên mình tu phước, thì kiếp nào mình sinh lên đều có phước vật, như ông Bà-la-môn Aparājita, vua A Xà Thế thấy tay ông  Bà-la-môn Aparājita  10 ngón tay đeo vàng, ông xèo 10 ngón tay ra, vua A-Xà-Thế lấy vàng nhưng không lấy được. Thì Bà-la-môn Aparājita nói "tôi cho ông, ông lấy đi", ông nói vừa dứt thì vàng trên 10 tay rớt hết xuống thảm để cho vua A-Xà-Thế.

 Rồi câu chuyện đó đến Đức Phật, Ngài nói trong kiếp quá khứ ông Bà-La-Môn đã nguyện rằng "vật thí nào của ta không đồng ý cho mà lấy nó thì không lấy được" .

Ông Aparàjita thỉnh Đức Phật đến thuyết pháp 7 ngày, ông loan truyền khắp thành là ông rải đầy bảy báu trong hương thất đức Thế Tôn. Người nào đến nghe pháp có thể lấy một ít. Người nghèo được hốt đầy hai nắm tay. Người khá giả được hốt một nắm. Vì ông tính: "Những kẻ có đức tin chỉ đến để nghe pháp. Người chưa tin sẽ do lòng tham của cải dẫn dụ mà đến, được nghe pháp rồi cũng sẽ thoát khổ". Từ ý định muốn lợi lạc chúng sanh, ông cho rao những lời trên.

Người người đi nghe pháp đều lấy châu báu theo đúng qui định của vị thí chủ. Ông cho đổ thêm châu ngọc đầy như cũ một lần, hai lần, rồi ba lần. Dưới chân Phật, ông để một viên ngọc thật lớn, rất quí giá, với ý nghĩ: "Kẻ nào biết chiêm ngưỡng ánh hào quang chói sáng từ kim thân Phật sẽ chẳng ưa thích gì ánh sáng viên ngọc quý này". Và quả thật những ai trông thấy đức Phật rồi chẳng màng gì đến viên ngọc nữa.

Một hôm, có người Bà-la-môn tà kiến nghĩ rằng: "Người ta nói có viên ngọc quý đặt ở chân Phật. Ta có thể lấy nó". Hắn đến hương thất trà trộn vào đám đông đảnh lễ đức Phật. Người Bà-la-môn sải tay về phía chân đức Phật, làm bộ như đảnh lễ Ngài, nhón lấy viên ngọc cho vào áo và đi ra.

Ông Aparàjita bạch Đức Phật, có cách nào mà vật nào con không cho thì người ta không lấy được không?

Đức Phật đã dạy ông Aparàjita nguyện rằng: 

- Từ nay trở đi, xin cho vua hoặc kẻ trộm dù đông đảo đến mấy cũng không lấy được gia sản con dù một sợi chỉ. Xin cho tài sản con không bao giờ bị lửa đốt, hoặc bị nước cuốn trôi.

Và Đức Phật hoan hỉ thọ ký cho lời nguyện của ông Aparàjita. Và không ai lấy được phước vật của ông Aparàjita

Thì mấy cô cũng vậy. Nhìn lại mỗi cái gì mình làm đều phải có Anumodanà  là tùy hỉ công đức.

Hiệp thế và siêu thế, luân hồi hay là giải thoát. Trở lại mình sẽ có cái gì mà luân hồi mình sẽ có cái gì mình sẵn sàng đón nhận. Hai nữa là mình muốn giải thoát, thì mình phải sẵn sàng để đón nhận.

Thì trên con đường đi nào cũng vậy. Không có con đường nào bằng phẳng để cho mình đi êm ru, tại gia hay xuất gia đều vậy. Nên Sư mới đặc tên cô Tịnh Nhẫn. Cô phải tịnh nhẫn tu.

Tôi đi chợ, tôi hộ độ Tam Bảo, tôi đi chợ tôi cúng dường Tam Bảo, đây là một sự phiền não, một sự ràng buột, một sự cột trói, một sự trôi lăn sinh tử. Tôi muốn giải thoát. Ta mượn cái cửa cúng dường này, ta mượn cái của để  ta thọ cái này để làm nhân giải thoát Niết-bàn.  Mấy cô phải có cái đó, chứ không chung chung khơi khơi được, còn mấy cô không, thì chư thiên thọ ký là mấy cô sẽ trở thành bạn hiền với chư thiên. Phải xác định niyata. chứ không phải aniyata. Cuộc đời của mình không có thể nào như cái chiếc ghe chiếc tàu, mà thả nó trôi lền bền trên giòng nước, nó không đậu thì phải lấy cái neo cột vào cái trụ để giữ chiếc tàu đó. Còn nếu trôi đi thì phải đi cho tới hướng mà mình muốn, chứ không phải là trôi theo gió đưa đi đâu thì đi.

Phải thức tinh, mà đây Sư đem ra giảng hết cho mấy cô. Mấy cô không nhìn ra bây giờ Sư nhắc và mấy cô phải nhận ra, phải nghiệm ra, chứ không thể mấy cô không nghiệm ra được.

Sư vẽ 2 cái móc; cái móc cuối của con đường mình đi là Tử Thần Ma. Từ khi người cha người mẹ sinh đứa bé ra, nó đi tới, nó đi đâu kệ nó, làm ông cống, ông nghè, hay vô gia cư, vô nhà cửa gì đó thì nó cũng đối diện với Tử Thần Ma. Mình cũng vậy thôi, không có một người nào khác hơn, không có người nào ra khỏi.

 Người đắc Vô Sinh thì ra khỏi. Nó có cái giá của nó. Một là 7 ngày vô dư y Niết-bàn. Hai hữu dư y Niết-bàn là phải xuất gia. Cái đó là cái death end.

Khi người ta nguyện vô dư y Niết-bàn với cái người mà hạnh nguyện Độc Giác Phật là tự tu tự giải thoát, không nghĩ tới chúng sinh.

Còn người hữu dư y Niết-bàn, họ vô sinh rồi, họ hữu dư y Niết-bàn, không còn sống với cái nghiệp còn dư xót để mà họ còn sống, họ còn nghĩ tới chúng sinh, ít nhất là thân bằng quyến thuộc của họ, họ còn độ được. Điển hình, ngài Xá-Lợi-Phất, Ngài vô dư y Niết-bàn, Ngài độ được người mẹ, chứ Ngài không sống ích kỷ. Bậc Alahan không ích kỷ. 

Pháp ích kỷ, bỏn xẻn, tật đố, issā macchariya thuộc bọn sân phần. Mình bất toại nguyện, cái gốc của sân là paṭigha bất toại nguyện, mình không mở rộng cửa, không mở lòng, sống trong trạng thái bất toại nguyện, không hoan hỉ, lúc đó là issā macchariya. Mình phải coi lại.

Issā macchariya tật đố, ích kỷ, bỏn xẻn đó là chỉ tới Bất Lai thôi, nó không tồn tại với Vô Sinh. Tới Bất Lai coi như là issā macchariya diệt hết, không còn dư sót, thì hành giả mới về được Ngũ Tịnh Cư Thiên, nếu hành giả không có sinh tử trở lại con người, hành giả phải về cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên. Còn nếu như hành giả tới Vô Sinh, để hưởng được pháp Vô Sinh này, và  còn muốn độ thân bằng quyến thuộc của mình, người thân của mình với trải lòng rộng lượng của mình thì hành giả phải là người xuất gia, chứ hành giả không phải là người hẹp hòi tại thế được, hành giả không sống được trên thế gian này 7 ngày.

Thì bây giờ con đường đi của cô  thì Sư biết cô đi về  một là Bất Lai. Hai nữa là cô vô dư y Niết-bàn 7 ngày. Ba là Độc Giác, tự tu tự chứng giải thoát chứ không có độ ai. 

Còn mấy cô không đi vậy, nếu mình không hợp đi con đường đó, thì mình đi sao? Mình phải có xác định con đường mình đi.

Thí dụ, bây giờ mình không biết, hay là mình không hiểu, hay là mình hoan hỉ với một người bạn của mình. uống rượu hay hút thuốc, nhưng tới khi sống chung nhau mình mới thấy được điều uống rượu hay hút thuốc không hợp với mình thì mình nguyện đời này đời sau không gặp những hiện tượng này nữa, thì cô mới có con đường đi, chứ không sống kệ  với người uống rượu hay hút thuốc kệ họ, mấy cô phải có lập trường hay là nguyện, không phải là mình ngồi thấy suông.

Mấy cô phải cẩn thận khi mà đi theo cetanā này mà mấy cô không nhìn được cái cetanā (tác ý). của mình, cái cetanā (tác ý). này có chung và có riêng, có mỗi cá nhân, có một cái tập thể hay chỉ là một cái nói tổng quát có nội dung hết thì các quí cô chưa có vượt qua, chưa đi dạo trong khu vực này, Sư qua Sư đọc thì Sư gõ cửa mấy cô.

 Tâm Đạo Magga-Citta

Tâm Đạo làm 2 chức năng:

1. sát trừ phiền não, chứng đắc Niết-bàn. 

2. Phala-Citta chỉ có hưởng cảnh Niết-bàn.

Thì khi mình đi tới con đường Chuyển Tộc Gotrabhū, bỏ phàm thành Thánh. Mình đang đi tới Thuận Tùng Anuloma, Cận Hành Upacāra, rồi tới Chuyển Tộc Gotrabhū, thì mấy cô thuận về pháp nào mà cô đi tới con đường Magga-Citta.  Hành giả đang sát trừ phiền não hay đang hưởng cảnh Niết-bàn thấy trước mắt rồi, mấy cô phải có cái đó.

Thì khi cô nhìn thấy cảnh Niết-bàn có trước mắt, cô không nhìn các sát trừ phiền não ang hiện ra thì Sư nói rằng mấy cô đang bỏ dần cái kiết sử, không để ý đến kiết sử và chỉ nghĩ tới hưởng sự an vui tịnh tịch của tâm thức.

 Thì một ngày mình sống nếu như là mình có thiện có bất thiện, có làm việc tốt, có làm việc xấu, mình chỉ nghĩ xấu thôi, nghĩ một cái hoài nghi, chiều tối mình trạn lại mình có phiền não liền, mình không có con đường Magga-Citta, cái đó là cetanā, mình đã gieo trồng nó lọc lại.

Con người mà cứ nghĩ tới diệt trừ phiền não, sát trừ phiền não, đoạn diệt phiền não, tinh tấn diệt trừ phiền não, thì họ đang sống trong phiền não để họ đoạn trừ.

Một ngày cô có phiền não đến hay có những ngày không có phiền não mà cô không có dịp làm việc thiện, mình có biết không? Hay là mỗi ngày mình ngồi mình coi phiền não tới để mình diệt, phiền não đang còn mình diệt, phiền não đã diệt rồi. Trong bài kinh Phát Thú, thường cận y duyên. Bậc Thánh quán lại thấy việc thiện ta đã làm, quán lại việc bất thiện ta đã đoạn.

Bây giờ mình nói trở lại. Như vậy cô đang tu tập sát trừ phiền não, hay là đang tu tập để mà chứng đắc Niết-bàn.

Dẫn chứng: Chứng đắc Niết-bàn nó có vô thường, khổ đau, vô ngã. Các pháp đang sinh lên thấy cái tướng vô thường, khổ đau, vô ngã, mình không có trạo hối, phóng dật, thì lúc đó mình không có sát trừ phiền não, mình đang hưởng Niết-bàn.

 Hít hơi thở vô, mình ngồi thiền, mình đang đi thiền hành, hít thở vô, mình thấy hơi thở mất, và nó phải có hơi thở mất, hơi thở có, hơi thở mất.

Ông Descartes, một nhà triết học người Pháp và cũng là nhà toán học nói: "Quand Je pense, donc je suis" "khi nào tôi suy nghĩ là tôi có (hiện hữu)". Khi mà tôi suy nghĩ là tôi có, khi mà ông không pense (suy nghĩ) thì ông không có (hiện hữu). 

Bây giờ mình nói ngược lại : "Quand Je ne pense pas, je ne suis pas = khi tôi không suy nghĩ, tôi không có hiện hữu"

Như vậy thì khi ông đang suy nghĩ với pháp mà vừa mất, thì ông có. Hay là ông không suy nghĩ, thấy pháp đó mất đó, ông không có. Thì ông đang ở trạng thái không có.

Còn mấy cô thì trạo hối lại, lúc nãy thấy mà giờ mất rồi. Thì cô đang đi tìm là cái phiền não để cô diệt, hay là cô đang tìm cái phiền não mà cô đang thấy, cô phải bắt vô chỗ không luôn, Mấy cô phải nghiệm được cái pháp này.

Cái người đi tìm cái phiền não là cái phiền não mình đang còn thì mình còn đang ở trong phiền não, đang trong canh chừng phiền não. Bắt buộc.

Bây giờ Sư hỏi, lúc này cô tu hành tinh tấn không? 

Mấy cô trả lời: khó tu quá Sư. Thì mấy cô đang trong trạng thái đang tu.

Mấy cô lúc này tu hành có tinh tấn không?

Mấy cô trả lời: Khó tu lắm Sư. Thì mấy cô đang trong trạng thái đang tu.

Sư hỏi lúc này mấy cô tu hành tinh tấn không?  Không tính được, không ra, không thấy được.

Thì mình thấy cái đó.

Tuần sau Sư hỏi: mấy cô lúc này tu hành tinh tấn không? Không thấy được.

Phải cẩn thận.

Nên người Thất Lai chỉ là tri kiến thôi, chứ không cần phải sửa đổi gì hết. Cái tri kiến sai thì mình sửa lại tri kiến đúng.

Tôi đang diệt phiền não hay tôi thấy rỗng không hết tất cả, không có gì cả. Cái đó có 2 vấn đề. Tôi đang diệt trừ phiền não, tôi không thấy tôi đang diệt trừ phiền não, tôi không thấy một bể khổ đau trong đó, tôi không thấy cái gì tôi đang diệt. Tất cả chung quanh chỉ là khổ đau thôi.

Tôi đang diệt trừ phiền não, tôi không thấy tôi đang diệt trừ phiền não, tôi thấy không có chi làm chủ được.

Tôi đang ở trong một rừng phiền não, tôi đang tu tập diệt trừ phiền não. Cứ việc diệt trừ.

Tri kiến thay đổi liền khi cô thấy phiền não cô đánh đông thì nó có tây, cô đánh bắc thì nó có nam, mặt nào nó cũng có, thì đó là rừng phiền não, cô thấy đó chỉ là một sự khổ đau, hay là cô thấy đó là trạng thái không ai làm chủ nó được, không có một đấng lãnh đạo, một cái gì tối thượng nào để mà biến đổi nó, thì người ta thấy thực tướng của nó thôi, và họ không có thay đổi.

Tri kiến mình thay đổi và mình không có cố chấp, hay là mình không giữ lại những cái gì mình nghĩ là của mình, vì mình thay đổi rồi.

Có người không chịu thay đổi, có bao nhiêu họ giữ hết.

Cái tri kiến của mình, tại sao mình không chịu sửa đổi. Thí dụ như hồi đó mình sống bên VN, mình quen với cách sống của mình ở VN nó thành thói quen. Mà qua bên Mỹ mình không thể sống theo thói quen đó được nữa, thì mình phải thay đổi tri kiến của mình.

Hồi trước mình chưa biết Phật Pháp thì mình sống theo bản ngã con người của mình. Nhưng mình đã thấm được Phật Pháp thì mình thay đổi tri kiến của mình. 

Cái đó gọi là mình đã sửa đổi. 

Sửa đổi thì gọi là tu.

Còn không thì không có thay đổi. Tri kiến mình không thay đổi. Mình phải thấy.

Vậy thì tri kiến đó là kiến thức, sự hiểu biết của mình, mình phải coi lại, mình có hay không có, có ít hay có nhiều, có đúng hay có sai, mình phải coi, mình phải kiểm tra.

Như vậy thì, khi mình tới với Phật Pháp, hay người nào đến với mình trao đổi nhau thì mình mới biết được là tri kiến của mình không có bằng người này. Hoặc tri kiến người này không đúng, mình mới tìm ra được.

Như Đức Phật Ngài toàn tri toàn giác Sabbaññutā, thì tri kiến con người đến bất cứ nơi nào; Phạm Thiên, Chư Thiên, hay nhân loại, Ngài đều biết hết. Tri kiến ở góc độ này góc độ kia, Ngài biết hết, tại vì Ngài có tri kiến, thì mấy cô cũng vậy, mấy cô phải ngồi suy ngẫm lại.

Như tuần vừa rồi Sư nói Pháp Xoi Gương, mình coi lại gương của mình, mình vẫn y như cũ  thì mình phải biết mình đã xoi gương. Thì bữa nay mình phải hiểu tri kiến của mình có chưa hay là chưa có. Có rồi thì có ở mức độ nào. Mà mấy cô có tri kiến mình của trí tuệ balamat hay trí tuệ thiện thường thôi, mình phải biết.

Khi cô đi ra ngoài tiếp xúc, như trường hợp cô Tịnh Từ tiếp xúc nhiều, cô nói "lúc này thấy xã hội chán lắm, buồn lắm" thì cô phải có một cái cấp độ, có một sự hiểu biết, thì tại sao cô lại buồn, lại chán cho xả hội, chán cho cuộc đời, hay là mình nhìn thấy mình không có thích hợp với môi trường, hai cái đó mình phải tìm ra, chứ không thể nào minh nói suôn.

Thì cũng vậy thôi. Khi mình đi vô cửa này thì mấy cô thấy; mấy cô chỉ thích hợp Thất Lai thôi, mấy cô không có cửa đi tới 3 cửa kia đâu.

Như ông Cấp Cô Độc, cả một đời ông cúng dường nhưng không lên được, nhưng đứa con gái không có nguyện giống như người cha,  đắc được Thất Lai, tức là Nhị Quả. Bà Vishakha cũng vậy, cả một cuộc đời cúng dường, là đại thí chủ, nhưng tại vì bà có hộ độ Tam Bảo, nên phước của bà tới Thất Lai thôi, là không rơi vào  4 đường ác đạo thôi. Họ làm việc hộ độ là họ làm việc toàn thiện, họ chỉ muốn là họ không làm cho ai khổ, thì phước của họ trở lại là họ không ở trong bốn đường khổ, tại họ hộ độ cho người ta không khổ, thì họ quả phước trở lại cho họ là họ không rớt vào bốn cõi khổ.

Mình tu hành là để giải thoát, còn trên con đường mình muốn độ ai mình độ, đủ duyên hay không đủ duyên. Mình lo tu hành để giải thoát, ngọn lửa cháy tôi, tôi dập tắt. Mũi tên bắn tôi, tôi nhổ ra liền. Thấy cuộc đời này là khổ là tôi giải thoát liền.

Đức Phật nói có 6 hạng người xuất gia, thì 5 hạng xuất gia đầu là Ngài chê trách:

1. Xuất gia vì bị phiền não chi phối (Upakilikā)

2. Xuất gia vì giận hờn, buồn phiền

3. Xuất gia vì đùa cợt, a dua.

4. Xuất gia vì nghèo đói, túng thiếu.

5. Xuất gia vì nợ nần.

6. Xuất gia vì thấy rõ lý tưởng giải thoát (hạng người chân chính)

 Thì 5 hạng người xuất gia đầu Đức Phật Ngài chê trách. Người hạng thứ 6  tu là vì sợ luân hồi, sợ khổ, sợ sanh tử mà họ tu để giải thoát, hạng người này Đức Phật khen, là bậc tu hành giả. Còn mấy cái kia là tu để gieo duyên thôi.

Thì mấy cô nghĩ mình đây là hộ độ hay là mình tu hành?

Ông Cấp Cô Độc không tu, ông chỉ hộ độ Tam Bảo thôi. Khi người con gái nói "chị đi em ở lại", ông nổi sân liền, cái đó là bất toại ý, ông không tu, ông cúng dường Đức Phật và Chư Tăng, ông lập nguyện một ngày để bát 2 000 nhà Sư. Tới khi hết tài sản vị nữ thiên tử trong nhà khuyên ông không cúng dường nữa, và bị ông đuổi đi, ông chỉ lo hộ độ, tham sân ông vẫn còn, ông không sửa, mà Đức Phật Ngài cũng không sửa, tại vì con đường ông đi Ngài biết rồi, ông đi tới mức đó là hết rồi.

Vishakha thấy người cha chồng không để bát cho ông Sư, bà nói ông Sư đi đi, cha chồng tôi ăn cơm nguội, bà đang sân, bà la lớn vì bà bất toại nguyện, bà không có tu bà chỉ hộ độ Tam Bảo thôi. Nhưng cái phước hộ độ đó để cho người ta được an vui thì bà không rớt xuống 4 đường ác đạo.

Những người nào mà nói "tôi không cần phải tu giải thoát, tôi ăn hiền ở lành là được rồi". Đó là họ hộ độ. Trong đời sống họ đâu có sống nghèo, khó khăn, để mà bỏ tham, bỏ sân, bỏ si, bỏ tà kiến, hoài nghi gì đâu. Cứ sống ăn ở hiền lành.

Thiền sinh hỏi: Nếu mà như vậy thì ariya phải trong thời Đức Phật mới có tất đoạn mạng, Ông tỳ khưu, một trong 30 vị tỳ khưu, ông bị con cọp ăn không ở trong thời Đức Phật, ông đắc tất đoạn mạng. Thì khi cô Tịnh Từ nói cô muốn Vô Dư Y Niết-bàn, tại vì có nhiều ràng buột cô không thể nào giải thoát được, thì cô muốn Vô Dư Y liền, đắc tất đoạn mạng xong rồi không muốn dây dưa, còn phải ở trong đời này nữa. Thì cô sẽ có một con đường đi Vô Dư Y Niết-bàn, mà không biết loại nào trong tam tướng nó sẽ đến với cô. Ông Bahiya với ông Tỳ Khưu với tam tướng khổ đau, ông Bahiya bị bò hút, ông Tỳ Khưu bị cọp ăn, là đón nhận khổ đau, chứ không phải vô ngã hay vô thường. Ông đi từ Khổ Đế, đang bị tấn công, ông quán Tập Đế để đi tới Niết-bàn là Diệt Đế trong cái tích tắc đó, không có thời gian.

Khi mấy cô nói theo kiểu Hữu Dư Y hay Vô Dư Y là mấy cô có chủng tử, và Chư Thiên hộ trì chánh pháp họ sẽ ghi nhận, và họ sẽ bắt đầu lọc cho cô. Tại vì các Chư Thiên họ có cái nguyện, họ hộ trì những ai với những tâm nguyện chân chánh, họ sẽ hộ trì cho người đó, họ đưa tới rất là lạ lùng, từ khi mấy cô nói như vậy. Bắt đầu mấy cô ngồi nguyện đi, những cái pháp nó tới được lọc./.


---------------------------------------

Note :

Bahiya chứng A-la-hán và nhập Vô dư y Niết-bàn ngay sau khi nghe Đức Phật giảng pháp ngắn gọn. Do bị bò rừng húc tử vong ngay sau đó, tiến trình của ngài được gọi là "tất đoạn mạng" (chấm dứt mạng sống), thân tứ đại tan rã và hoàn toàn giải thoát.

-------------------------------------------

Đức Phật nói có 6 hạng người xuất gia::

1. Xuất gia vì bị phiền não chi phối (Upakilikā): Người cạo đầy, đắp y tu tập nhưng tâm trí vẫn còn bị nhiễm ô, vướng mắc vào các dục vọng và thú vui thế tục.

2. Xuất gia vì giận hờn, buồn phiền: Đi tu không phải vì lý tưởng giải thoát mà do trốn tránh những cú sốc, mâu thuẫn hay sự bất mãn trong cuộc sống.

3. Xuất gia vì đùa cợt, a dua: Vào chùa chỉ để the phong trào hoặc xem tu hành như một trò chơi, thiếu đi tư các và chánh niệm.

4. Xuất gia vì nghèo đói, túng thiếu: Xem cửa chùa là nơi nương tựa để giải quyết vấn đề cơm áo gạo tiên, sinh kế hàng ngày.

5. Xuất gia vì nợ nần: Tìm đến chồn thiền môn để trốn tránh những món nợ vật chất hoặc trách nhiệm lớn ngoài đời

6. Xuất gia vì thấy rõ lý tưởng giải thoát (hạng người chân chính): Đây là hạng người duy nhất xuất gia đúng nghĩa, được Đức Phật khuyến khích. Họ nhận thức rõ bản thân không còn phù hợp với đời sống thế tục và quyết tâm từ bỏ để tu tập, chấm dứt luân hồi.

-----------------------------------------

Gương Pháp, tiếng Hán gọi là Pháp kính (法 鏡), tiếng Pali là Dhammādāsa, nghĩa là tấm gương Pháp, tấm gương soi rọi sự thật. Chỉ cần nhìn vào tấm gương này nếu thấy mình có trong đó, thấy mình được phản chiếu trong đó thì biết một cách chắc chắn rằng ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh sẽ không có mặt mình. Ngược lại, nếu nhìn vào tấm gương này mà không thấy có mình, mình không được phản chiếu trong đó thì biết một cách chắc chắn rằng mình sẽ đọa lạc một trong ba đường ác. 

Gương Pháp đó là, Thánh đệ tử đạt được niềm tin bất hoại: 

1- Hoan hỷ tin Phật là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu. 

2- Hoan hỷ tin Pháp là giáo pháp chân chánh vi diệu, do Phật tuyên thuyết, vượt thoát thời gian, chỉ bày đường đến Niết-bàn, được người trí thực hành theo.

3- Hoan hỷ tin Tăng là đoàn thể những người khéo sống hòa đồng, hành động chất trực, không hề dối trá, đạo quả thành tựu, trên dưới hòa thuận, đầy đủ pháp thân, hướng Tu-đà-hoàn, đắc quả Tu-đà-hoàn, hướng Tư-đà-hàm, đắc quả Tư-đà-hàm, hướng A-na-hàm, đắc quả A-na-hàm, hướng A-la-hán, đắc quả A-la-hán, đó là bốn đôi tám bậc, chính là chúng Hiền Thánh của Như Lai, rất đáng để cung kính, là ruộng phước thế gian. 

4- Hoan hỷ tin Giới của hiền Thánh là thanh tịnh không nhiễm, không có khiếm khuyết, bậc minh triết hành theo, đắc định Tam-muội.

Gương pháp là Tứ bất hoại tín, là Bốn niềm tin không bao giờ thay đổi, không bao giờ hư hoại, hay không bị thối chuyển đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới. 

Bốn niềm tin này như một tấm gương, và người Phật tử sau khi quy y Tam bảo, phát nguyện giữ gìn Năm giới, được bổn sư trao cho tấm phái quy y, hay giấy chứng nhận quy y, chính là trao cho chúng ta một tấm gương, hằng ngày chúng ta tự soi mình vào đó, để xem với bốn pháp mình đã quy y mình có giữ gìn trọn vẹn không? Nếu được trọn vẹn, được thanh tịnh, được không lay chuyển tức là mình đã đạt được niềm tin bất hoại, ngay đó mình tự biết ba đường ác không còn có mặt mình, tức là được dự vào dòng Thánh, chứng quả Dự lưu.

https://giacngo.vn/guong-phap-post66672.html

----------------------------------

Adhiṭṭhāna là một trong Mười pháp Pāramī (Ba-la-mật):

Adhiṭṭhāna: là lập nguyện, là quyết định chắc chắn: Là sự kiên định, không thay đổi, trong việc tu tập và theo đuổi mục tiêu giác ngộ .

Vai trò trong tu tập

Hỗ trợ các pháp Ba-la-mật khác: Quyết định giúp duy trì và phát triển các đức tính như Trì giới, Trí tuệ, Tinh tấn, Nhẫn nại, Chân thật… .

Tăng sức mạnh tâm linh: Giúp tâm không bị rung động bởi ngoại cảnh, giữ vững định hướng và hành động đúng pháp.

Thể hiện tinh thần Bồ Tát: Như Bồ Tát Cồ Đàm đã quyết định từ bỏ ngai vàng và cuộc sống vương giả để tìm giác ngộ hoàn toàn .

Mười pháp Pāramī (Ba-la-mật):

Bố thí (Dàna)

Trì giới (Sìla)

Xuất gia (Nekkhamma)

Trí tuệ (Pannà)

Tinh tấn (Viriya)

Nhẫn nại (Khanti)

Chân thật (Sacca)

Quyết định (Adhiṭṭhāna)

Tâm từ (Mettà)

Tâm xả (Upekkhà) .

Tóm lại, Adhiṭṭhāna là đức tính kiên định, vững vàng trong tâm, là chìa khóa giúp người tu vượt qua mọi khó khăn và tiến gần hơn đến giác ngộ.

------------------------------

Ngũ Tịnh Cư Thiên là: Một trong những cõi trời theo trong Phật Giáo. Tên 5 cõi trời thuộc Đệ Tứ Thiền.  Đó là

 1. Vô Phiền

2. Vô Nhiệt,

3. Thiện Kiến

4. Thiện Hiện

5. Sắc Cứu Cánh.

Các bậc Thánh đã chứng quả vị Bất Lai được sinh ở cõi trời này

------------------------------------

Thất Lai: Bậc Sơ quả hay Tu-Đà-Hườn (Nhập Lưu). Chỉ sanh vào cõi người hoặc cõi trời, và luân hồi nhiều nhất là 7 kiếp.

Nhất Lai: Bậc Nhị Quả hay Tư-Đà-Hàm (Nhất Lai) chỉ còn trở lại thế gian này một kiếp.

Bất Lai là gì? A-Na-Hàm sẽ tái sanh lên cõi trên và không trở lại cõi người nữa. còn được gọi là Bất Lai .

Vô Sinh là gì? là Arahant, là bậc Vô Sinh, là không sanh không diệt. Cho nên đắc Niết-bàn có nghĩa là đắc Vô Sinh

-------------------------------------

Mỗi một vấn đề có 7 giai đoạn của Phát Thú Paṭṭhāṇa:

1) Paticcavàra – Giai đoạn Liên Quan

2) Sahajàtavàra – Giai đoạn Câu Sanh, 

3) Paccayavàra – Giai đoạn Duyên Sinh, 

4) Nissayavàra – Giai đoạn Y Chỉ, 

5) Sansatthavàra – Giai đoạn Tương Tạp, hay là hỗn hòa, 

6) Sampayuttavàra – Giai đoạn Tương Ưng, 

7) Panhàvàra – Giai đoạn Vấn Đề.  

----------------------------

Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:

1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.

2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.

3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.

4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.

5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.