085 Paṭṭhāna
HT Sán Nhiên giảng ngày 16 tháng 12, 2023
Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 085 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ.
Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.
Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.
Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh
Minh Hạnh
THE GREAT CHRONICLE OF BUDDHAS
BIÊN NIÊN SỬ CỦA CHƯ PHẬT
VOLUME ONE - PART 1
TẬP MỘT - PHẦN 1
Mở trang 'Tác Giả'. Từ trang 5 cho đến trang 13. Tóm tắc:
Tác giả, là Đại Trưởng Lão Bhaddanta Vicittasārābhivaṃsa, Ngài được biết đến với tên gọi một cách phổ thông là Đại Trưởng Lão Tam Tạng Thục Thủ Mingun, sinh Ngày 11 tháng Mười Một, Năm 1911 trong ngôi làng Thaibyuwa. Vào lúc tuổi lên tám, Ngài được gửi đến Đại Trưởng Lão U Sobhita của Tu Viện Mingyaung, Myingyan, để bắt đầu học các nguyên lý cơ bản của Phật Giáo. Khi được mười tuổi, Ngài thọ Sa Di Giới bởi cùng một vị Đại Trưởng Lão. Mười năm sau, nhằm tăng tiến cho việc học, Ngài đã đến Tu Viện Dhammanāda, một nơi tách biệt của các bậc Thánh nhân, tại Mingun. Vào năm 1930, Ngài đã được thọ Đại Giới, những nhà bảo trợ cho Ngài là Bà Dhammacārī, một vị Tu Nữ tài danh và uyên bác của thành phố Mingun, là tác giả của Bộ Phụ Chú Giải Chân Ngôn (Saccavādī Tikā), và Ngài U Thwin, là một nhà từ thiện giàu có của thành phố Yangon. Kể từ đó, Bà Dhammacārī trở thành người Mẹ tinh thần và Ngài U Thwin là người Cha bảo hộ cho đời sống tu tập của Ngài. Vào năm 1937, khi vị Đại Trưởng Lão Đệ Nhất của Tu Viện Dhammanāda, là vị Thầy Tế Độ cho việc xuất gia của Ngài qua đời, Ngài đã phải đảm trách ngôi Tu Viện. (Trang 6)
-------------------
Nên quí Phật tử phải hiểu là, Ngài Mingun này Ngài trải qua những khóa học của trường lớp trong chùa của Giáo Hội Ngài đều đỗ thủ khoa. Ngài là người đầu tiên học 16,000 trang, một kỳ thi vô cùng khó khăn, chỉ có vài thí sinh đảm đương nổi và Ngài đỗ thủ khoa Pháp Sư Pháp Học Thịnh Vượng Ngài đạt được hết. (Trang 7)
---------------------
Ở bên Ấn Độ người ta kính phục cái trí tuệ của Ngài.
Kết tập Tam Tạng trên thế giới có 6 lần kết tập ; Từ kết tập Tam Tạng lần thứ nhất sau 3 tháng Đức Phật viên tịch tại thạch động với 500 vị Alahan cho tới kết tập Tam Tạng lần thứ 6 tại Miến Điện vào năm 1954. kết tập trong vòng 2 năm, đọc mỗi ngày, rồi ăn uống ngủ nghỉ, với hơn trăm ngàn nhà Sư tham gia ở trong Thạch Động, và quy luật là phải thuộc lòng Tam Tạng mới được. Do đó ngày hôm nay trên thế giới chưa ai dám làm, chỉ có Miến Điện làm được.
Ở Miến Điện họ có kỹ thuật như là tốc ký, họ ghi notes, họ đọc vào đó là họ biết và họ trả lời được hết. Thì Ngài Mingun lập ra cái đó. Nên cho tới ngày nay Thái Lan họ có tiền, nhưng không có người thuộc lòng Tam Tạng. Thế giới không chấp nhận cho Thái Lan đứng làm kết tập Tam Tạng lần thứ 7, còn bên Miến Điện này có, bây giờ có 12 vị, và vị thứ 11 mới chết vì bị bệnh ung thư.
Thì chưa làm được là cần có 2 điều; thứ nhất là người hỏi, và người đáp. Vị Đáp Vấn Viên là "Người trả lời những câu hỏi trong cả ba phần của Giáo Điển". Bàn Vấn Viên là "Người nêu lên câu hỏi". Chỉ có thời của Ngài Mahāsi Ngài là Bàn Vấn Viên vì Ngài là người nêu lên câu hỏi, còn Đáp Vấn Viên là người trả lời là Ngài Mingun, 2 vị này là thủ khoa. Mà người ta đồn rỉ tai chứ không xác nhận là Ngài Mahāsi là Alahan thì mới làm được. Trong khi trả lời những câu hỏi, tác giả (Ngài Mingun) đã đóng vai trò kết hợp của Trưởng Lão Upāli và Trưởng Lão Ananda, là những vị đã trả lời những câu hỏi lần lượt trong từng mỗi phần về Giới Luật và Giáo Pháp một cách tương ứng, tại Hội Nghị lần thứ nhất được chủ trì do bởi Đại Trưởng Lão Kassapa. (trang 9)
Rồi trong Hội Đồng Giám Khảo hay Hội Đồng Kết Tập Tam Tạng phải có một vị Trưởng Lão, kỳ kết tập Tam Tạng thứ 6 có vị Trưởng Lão 96 tuổi, người ta khiêng Ngài ra bằng cái kiệu, đặt nằm trên đỉnh núi có thạch động, khi đọc sai thì Ngài bấm chuông liền và phải đọc lại. Thái Lan chưa đủ.
Khi đọc xong, kết tập Tam Tạng 2 năm xong rồi là xác nhận bộ Tam Tạng được hiệu đính lại, sửa sai, điều chỉnh lại hết thì Giáo Hội theo lời yêu cầu của Thủ Tướng U Nu, là vị Chánh Phủ của nước Miến Điện U Nu, ông mới thỉnh cầu Ngài Mingun vô trong ban quản lý của Giáo Hội, giữ chức Tổng Thư Ký, chứ chưa được là Tăng Thống.
Bộ Chủng Tộc Chư Phật, bây giờ đổi lại là Hệ Tộc Chư Phật, được đưa vô trong phần Tiểu Bộ Kinh, trong bộ của bà Elizabeth mà mình Gia Tộc nói là thuộc Tỳ Đáo Giả - Người đến sau. Tiểu Bộ Hệ Thống Chư Phật nằm trong Tiểu Bộ Kinh là đến sau chót của bộ Tiểu Bộ Kinh là sau đợt kết tập Tam Tạng. Tiểu Bộ Hệ Thống Chư Phật này mới được nằm trong Tiểu Bộ Kinh, thuộc về Kinh Tạng Pali, là quyển sau chót của Tiểu Bộ Kinh.
Ngài Mingun làm được 9 quyển, sau tách ra thành 10 quyển nhỏ, cuộc đời của Ngài Mingun học hết Tam Tạng viết ra được nguyên bộ Biên Niên Sử.
Ngài được mời vô làm Tổng Thư Ký của Ủy Ban Chánh Phủ Lãnh Đạo Đại Tăng Đoàn, đảm đương Tam Tạng. Lúc thỉnh Ngài xong rồi thì đưa Ngài về Mandalay. Hành chánh là ở Yangon, nhưng nơi đào tạo, người học về Tam Tạng thì phải về Mandalay để trau luyện học về Tam Tạng. Và những người đó được học từ tuổi nhỏ cho tới khi lớn, chứ không phải là vào học ngang.
Hồi Sư qua Sư hỏi cho tôi học Tam Tạng được không, thì ông trả lời là ông hóa nhỏ lại thì tôi mới chỉ được.
Cuộc đời của Ngài Mingun có một công đức nữa là Ngài xây bệnh viện Jīvitadāna Sāsana Specialist Hospital là của Ngài Mingun, bệnh viện ở tại Yangon, Ngài lập 2 cái; một cái ở Yangon mà mình tới cúng dường, một cái ở Mandalay.
Ngài Mingun không phải tên của Ngài là Mingun, nhưng Mingun là làng nơi Ngài sinh ra. Như Sư ở Saigon thì gọi Sư là Saya Saigon, chứ không kêu tên Pasādo. Tên của Ngài Mingun là Vicittasārā, tên của Ngài Mahāsi là Sobhana, Mahāsi chỉ là pháp hiệu.
Ngài lập ra bệnh viện Jīvitadāna một bệnh viện chuyên môn cho Chư Tỳ Khưu tại Mandalay, về sau mở ở Yangon Một bệnh viện chuyên môn có một trăm giường bệnh với tất cả những phương tiện và những trang thiết bị cho một trung tâm y tế hiện đại và đã được chính thức khai mạc dưới sự bảo trở của Ngài vào Ngày 18 Tháng Tám Năm 1990.
Cuộc đời của Ngài Mingun, từ khi Ngài ra đời đến 7 tuổi, 8 tuổi vô chùa cho tới ngày mất Ngài chỉ cống hiến cho Phật Pháp, sống trong sạch. Nhưng cuối đời của Ngài trở về làng Mingun, mỗi buổi chiều Ngài đi lấy nước, Ngài đội bình nước trên đầu đem về phòng của Ngài, Ngài sống một mình không có người hầu, vào buổi chiều khoảng bốn, năm giờ, Ngài ra ngồi với mấy ông Sadi và Ngài giảng kinh cho mấy ông Sadi nghe. Ngài bỏ hết những chức vụ của Giáo Hội và Ngài rút về làng Mingun của Ngài, Ngài sống cho mình cuối đời, thứ hai là Ngài ra sinh hoạt với mấy ông Sư nhỏ, khi mấy ông Sư nhỏ nói cái gì là Ngài nghe hết.
Trang 16.
Ngài giữ chức vụ Chủ Tịch của Tổ Chức Giáo Hội Tam Tạng Kinh Điển, Ngài phiên dịch sáu Tập trong tám quyển sác sang Anh Ngữ của bộ kinh Biên Niên Sử của Chư Phật. Thì ông tiến Sĩ bệnh viện chủ tịch nhờ Ngài đảm nhiệm đứng ra làm hội Tam Tạng. Ngài viết bộ Biên Niên Sử.
Thứ hai là, quí Phật tử nhớ:
Vị Thiên Giác Hữu Tình (Bồ Tát) Setaketu tử cung Trời đi xuống vào trong thai bào của Mẹ là Hoàng Hậu Maya. Ngài giải thích từ kiếp chót khi Ngài được thọ ký là Bồ Tát Sumedha, mà người thọ ký cho Ngài là Đức Phật Dipankara (Phật Nhiên Đăng).
Có tám mươi chín vị Phật.
Trong thời gian 16 A Tăng Kỳ, thời của mình, mà mỗi một vị Phật gặp Ngài nói "ông là Bồ Tát", nhưng chưa là Niyata (xác định).
Nên Đức Phật Gotama, Ngài có phước, là mỗi kiếp Ngài ra đời mà hành Bodhisatta của Ngài đều trong thời có Đức Phật.
Thí dụ như Sư, giờ Sư nguyện thành Phật Chánh Đẳng Giác, nhưng mà Sư ra đời không cùng thời với Đức Phật Gotama.
Mà thời của Đức Phật Gotama là Phật Ajita tức là Đức Phật Di Lặc - Metteyya trong bộ Anāgatavaṃsa - tức là Vị Lai Hệ Tộc (Vi Lai Sử) thì thọ ký Ngài lúc đó Ngài là vị tỳ khưu tên Ajita là tiền thân của Đức Phật Di Lặc - Metteyya sau này.
Gotama Ngài ra đời là có mỗi vị Phật, nhưng chưa được thọ ký, hay là chưa được dự ngôn, mà các vị đều xác nhận vị này sẽ thành tựu.
Trong bộ Vị Lai Sử, Ngài nói là mỗi vị Phật ra đều thọ ký cho Gotama
Sư viết lại là có 24 vị Phật, khi đó Bồ Tát làm cái gì, cúng dường Ngài gì Sư có hết. Cái đó mới làm cho mình xác tính được, tức là niềm tin mình chính xác, chứ mình không có gì hồ nghi hay thắc mắc.
Ngài là Bồ Tát Setaketu. Khi Ngài được xuống để trở thành vị gọi là Bồ Tát thì Ngài kể lại cho các vị đệ tử của Ngài (trang 16) là tập thứ nhất là Ngài Mingun nói về Bồ Tát Sumedha.
Tập thứ nhất với hai quyển sách, quyển thứ nhất là cống hiến đến câu chuyện của Bồ Tát Sumedha và Sự Chú Minh hoặc "Sự Giải Trình" cho câu chuyện đó. Qua tập thứ hai với những khía cạnh khác nhau của Pháp Độ (Ba La Mật). "Sự Toàn Thiện", phải được hoàn thành do bởi những vị Giác Hữu Tình (Bồ Tát) hoặc Chu Phật Vị Lai, và những câu chuyện về đời sống của hai mươi bốn vị Phật, kể từ Đức Phật Dipankara (Nhiên Đăng) cho tới Đức Phật Kassapa (Ca Diếp)
Tập thứ hai bắt đầu được nói đến Phật Bảo, Bảo Vật của Đức Phật, và mở ra với câu chuyện của Đức Phật Gotama kể từ đời sống của vị Thiên Giác Hữu Tình (Bồ Tát) Setaketu đi xuống tới việc khải thuyết bài Kinh Thành Vách và Sự Chú Minh cho câu chuyện đó.
Tập thứ ba vẫn tiếp tục nói đến "Bảo Vật của Đức Phật" và kể thêm những câu chuyện được bắt đầu với câu chuyện của Upatissa và Kolita, là những vị mà sau này được trở thành hai vị Đệ Tử Trưởng của Đức Phật, Sāriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallāna (Mục Kiền Liên), và kết thúc với câu chuyện kình cải của Chư Tăng ở nước Kosambi.
Tức là 9 tập mà Ngài Mingun viết ra Ngài phân tích thành tập I, tập II, tập III là mình sẽ có quá trình tu tập.
Tập thứ tư cũng vẫn là Phật Bảo được bắt đầu với chuyến viếng thăm của Đức Phật tới làng Balakālona và kết thúc với việc thực thi quy y Tam Bảo của Vua Ājātasattu (A Xà Thế).
Tập thứ năm, nửa phần đầu của Tập thứ năm mở ra với việc kết thúc Phật Bảo qua câu chuyện của hai vợ chồng Bà La Môn trong kiếp quá khứ đã là Song Thân của Đức Phật và kết thúc với việc đặt Trụ Đồng của Hoàng Đế Asoka (A Dục). Nửa phần thứ hai của Tập đó đã cống hiến về "Bảo Vật của Giáo Pháp" (Pháp Bảo) trong các chủ đề khác nhau được biến thiên từ chín Ân Đức của Đức Phật cho đến bài Kinh Tam Bảo.
Tập thứ sáu liên quan đến Bảo Vật của Tăng Đoàn (Tăng Bảo) được tạo thành hai quyển sách, cũng như Tập thứ nhất. Quyển sách thứ nhất được nói đến những câu chuyện về đời sống của những nam môn đệ hàng đầu của Đức Phật, như là Kondañña (Kiều Trần Như), Sāriputta (Xá Lợi Phất), Moggallāna (Mục Kiền Liên) v.v... trong khi đó, quyển sách thứ hai nói đến những nữ môn đệ, như là Mahā Pajāpati Gotami, Khemā, Uppalavannā, v.v.. và những cư sĩ tại gia quan trọng như là Tapussa và Bhallika, Anathapindika (Cấp Cô Độc), Citta và v.v..
Thì bộ này sẽ được đọc theo tuần tự, Sư sẽ làm ra theo hệ thống đó.
Ngài Mingun trình bày: "tôi sẽ viết ra bộ Biên Niên Sử gồm chín Tập, mỗi tập nội dung như thế nào". Ngài nói với Hiệp hội quản lý về Tam Tạng. (Trang 20)
Thí dụ như Mười bài kinh về Trường Bộ Kinh.
"Kim Chỉ Nam Tam Tạng" và bốn bản dịch về "Mười bài Kinh từ nơi Trường Bộ Kinh".
Trong hệ thống Chư Phật Hệ Tộc Chư Phật thì phải nhớ là bà Elizabeth trong Chủ tịch hội Pali Text Society dịch kinh chỉ dựa trên hai bộ, một bộ của Tích Lan ngữ và một bộ Miến Điện của Miến Điện ngữ, mà đa phần là dựa Kinh Bộ của Tích Lan nhiều hơn của Miến Điện. Nhưng bộ Miến Điện cũng là khả thi cũng đáng tin, do vậy họ dựa theo đó để dịch. Sư không có bộ Tích Lan ngữ, Sư có bộ của Miến Điện ngữ là từ Ngài Jantila đưa cho Sư.
Theo hệ thống của Miến Điện, chỗ đào tạo và chỗ phát hành ra, chỗ phát hành ra, thì chỉ có hai nơi là Yangon và Mandalay. Yangon là nơi chấp hành, điều hành, và giải quyết, hay phân phối. Còn nơi đào tạo là Mandalay. Sư có tới nơi mà đào tạo các vị học Tam Tạng ở Mandalay tham quan và cúng dường.
Bây giờ mình qua phần Lời Mở Đầu của Dịch Giả, trang 24.
Người dịch giả này là U Ko Lay, người này dịch từ tiếng Miến Điện qua tiếng Anh. Còn Ngài Mingun là tác giả viết bộ Biên Niên Sử này là từ Pali, Tích Lan qua Miến ngữ. Tất cả gốc tích Phật Giáo cổ xưa đều tại Tích Lan. Chỉ có duy nhất là Ngài Narada viết Abhidhammattha Sangha là Chín Chương Tổng Hợp Nội Dung Vô Tỷ Pháp, Ngài là thượng thủ ở bên Tích Lan, còn các quí Sư bây giờ không có Abhidhamma, chỉ có Nikaya, mất hết, mà chính người Anh, người ngoại quốc họ nhìn nhận rằng họ muốn nghiên cứu về Phật Giáo phải gốc từ Tích Lan.
Nên mình thấy vậy là mình biết rằng là vận mệnh của Phật Pháp nó xuống mà theo cấp độ nào và ở góc độ nào, ở địa phương nào, và ở tại nơi đâu chính mình cũng phải biết.
Cũng như giữa mình ở ngoại quốc với bên VN thì coi như mình còn, còn ở tại VN coi như không có. Tại vì bên VN bây giờ coi như xâm nhập của người Tàu. Nên bây giờ mình bị kẹt, mình phải ráng chấn chỉnh.
Phật Pháp là bậc thang, khi nào thịnh vượng thì nằm ngang, không có người lo thì nó xuống, rồi khi có người chấn chỉnh phục vụ thì nó nằm ngang. Bây giờ mình là năm 2566 - 2567, là hơn nửa đường của 2500.
Mà câu nghi vấn cho tới ngày hôm nay không có ai dám giải quyết, không có ai dám trả lời là khi lập giáo đoàn Ni là giáo pháp của Như Lai phải mất phân nửa. Mình nguyện là 5,000 năm khi bà Gotami xin thì Đức Phật Ngài nói với Ananda phải nên biết và nói cho hậu thế là khi có giáo đoàn ni hiện hữu ở trong giáo đoàn tăng thì giáo pháp Như Lai còn tồn tại một nửa thôi. Thì bây giờ mình tính như vậy là còn 2565, coi như là từ 2500 đã mất rồi. Mình nói như vậy nhưng mà mình vẫn cãi là không mất, mình còn Tam Tạng mà, vẫn còn người học thuộc lòng Tam Tạng, còn trì bái Tam Tạng. Thì mình cố gắng nói vậy thôi, chứ thật ra coi như là hết rồi, khi mà phái đoàn ni lập ra sau 5 năm Đức Phật Ngài trở về độ cho thân bằng quyến thuộc Ngài thì các bà xin xuất gia, thì giáo pháp chỉ còn 2500 năm.
Ông U Ko Lay cố gắng làm bộ Bộ Biên Niên Sử này. Tại vì Phật Giáo cổ xưa là họ muốn dựa trên bộ Biên Niên Sử này. Chính do đó khi Sư dịch bộ Paṭṭhāṇa là pháp hành. Tất cả các bộ Paṭṭhāṇa mà Sư đang viết là toàn bộ là Pháp Hành, mà cốt lõi của Pháp Hành của Paṭṭhāṇa là Liên Quan Tương Sinh Paṭiccasamuppāda. Nhưng khi có pháp hành thì biết được duyên sinh duyên hệ kết hợp nhau 24 duyên do 12 móc xích, vô minh duyên hành bởi nhân duyên, hành duyên thức bởi nhân duyên, thức duyên danh sắc do nhân duyên, thì nó nằm ở trong Pāramī (Ba-la-mật) của Pháp Hành mình tu giải thoát.
Do đó, qua tới quyển thứ ba Paṭṭhāṇa (quyển màu xanh) thì Sư bắt đầu dừng lại, nó còn hai quyển nữa, thứ bốn, thứ năm là xong hết bộ Paṭṭhāṇa 5 quyển về Pháp Hành về Liên Quan Tương Sinh Paṭiccasamuppāda, đó là cốt lõi. Thì Sư phải tiếp qua bộ Biên Niên Sử. Tại vì các quí Phật tử phải đi đôi giữa Pháp Hành Pāramī (Ba-la-mật) đi đôi giữa Pháp Hành Paṭṭhāṇa mới an toàn, mà trong các Nikaya không có nói.
Nên khi học Nikaya là mới có tuệ văn thôi, và trong tuệ văn có tuệ tư của tuệ văn.
Còn khi học Paṭṭhāṇa và học Pāramī (Ba-la-mật) thì có tuệ văn, tuệ tư, tuệ tu của Pāramī (Ba-la-mật) của Paṭṭhāṇa.
Khi Sư xong phần Biên Niên Sử Chư Phật, Hệ Tộc Chư Phật có 3 quyển, Buddhavamsa (Hệ Tộc Chư Phật - Phật Sử): Mahavamsa (Đại Hệ Tộc) , Culavamsa, (Tiểu Hệ Tộc) rồi Anāgatavaṃsa (Vị Lai Hệ Tộc). Ba quyển đó kết hợp chung lại ra bộ Hệ Tộc Chư Phật; Đại Hệ Tộc, Tiểu Hệ Tộc, và Vị Lai Hệ Tộc tới thời Đức Phật Di Lặc - Metteyya. Sư cố gắng, Sư tin rằng Sư làm được đủ 850 trang. Thì Sư trở lại Paṭṭhāṇa bốn năm.
Trong cái bốn năm, Paṭṭhāṇa IV, Paṭṭhāṇa V, là phần gọi là Tam Đề với Nhị Đề, phần thứ V là Nhị Đề với Tam Đề, kết hợp lại là Nhị Đề với Nhị Đề, thì cái đó xoáy trong Pāramī (Ba-la-mật), cái đó là cái key.
(trang 20)
Hiệp hội đã xuất bản quyển sách của Ông ta về "Kim Chỉ Nam Tam Tạng" và bốn bản dịch của Ông ta về "Mười bài Kinh từ nơi Trường Bộ Kinh". Những bản dịch khác còn lại của Ông ta kể từ Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Kinh và Tạng Luật phần Đại Phẩm sẽ được xuất bản trong khóa học.
----------------------
Trong đó có bài kinh Đại Niệm Xứ là Pháp Hành. Do đó khi mình đọc mà không hiểu mấu chốt đó mà coi đó là những công việc của họ làm và họ kể ra cho mình nghe thôi. Thật ra thì không phải, họ có tác ý mà mình không hiểu. Cầm quyển sách về đọc thì biết công trình của ông này làm, ông kia làm vậy thôi, chứ mình không hiểu tác ý hay dụng công của họ.
Trang 28:
Quyển sách này là bản dịch Anh ngữ hoàn chỉnh cùng với những chú thích và các lời bình luận của Phần đầu tiên thuộc Tập thứ nhất. Ở phần này, hiện bày sự nỡ lực chánh yếu về văn học của tác giả cho Tập này.
--------------------------------------
Nên Quyển sách này là bản dịch Anh ngữ hoàn chỉnh cùng với những chú thích và các lời bình luận của Phần đầu tiên thuộc Tập thứ nhất.
Tức là từ trang 1 cho tới trang 29 thì coi như là những công lao, những công đức mà tất cả đều bỏ trí óc trí não làm ra bộ sách này, từ tăng đến tục, từ người xuất gia đến người tại thế, từ Ngài Mingun cho tới ông U Ko Lay, ông U Tin Lwin, họ hợp tác nhau, rồi chính phủ là ông Wunna, đứng ra làm, họ tổ chức chặt chẽ hôm nay mình mới có bộ sách này để dùng.
Trang 30.
Lời giới thiệu của tác giả.
Tác giả là Ngài Mingun
Trang 59
Từ trang 30 đến trang 59 là 29 trang, Ngài Mingun kể phần kế hoạch của Ngài viết bộ này. Nên phần Lời Giới Thiệu của Tác Giả là lời giới thiệu của Ngài Mingun.
Đầu tiên là với các quí cô cũng vậy, khi mình giảng dạy hay mình viết sách, hay mình đọc kinh thì luôn luôn đảnh lễ Chư Phật. Mình NAMO BUDDHĀYA cũng là đảnh lễ 5 vị Phật của quả địa cầu này. Ở bên Nam Vang, Cambot họ nói Na Mo Bud Dha Ya, đó là năm âm, năm chữ, ở bên Nam Vang họ đốt 5 cây nhang, tượng trưng cho năm vị Phật ở trong quả địa cầu này là:
1. Đức Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha)
2. Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni (Koṇāgamana)
3. Đức Phật Ca Diếp (Kassapa)
4. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Gotama / Shakyamuni)
5. Đức Phật Di Lặc (Mettaya)
Bây giờ mình đã trải qua ba vị Phật quá khứ, một hiện tại và một vị lai. Ba vị quá khứ là Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa qua rồi. Bây giờ thời này là thời Gotama, không dùng Shakyamuni, tại vì chữ muni nghĩa là tu sĩ Shakyamuni nghĩa là giòng Thích Ca, hay là giòng tộc Shakya. Nhưng tên của Ngài, tên vị Phật cho thời này, giáo pháp này là Gotama, phải xác định là Gotama, chứ không được nói là Đức Phật Thích Ca.
Đức Phật quá khứ Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa. Phật hiện tại là Gotama, chứ không phải Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mình nói không đúng và mình hiểu không đúng. Mâu Ni tiếng Pali là Muni là tu sĩ, Shakya là Thích Ca là giòng tộc của Ngài, là thuộc về Sát Đế Lỵ. Tên của Ngài là Gotama.
Sau này, quyển Hệ Tộc Chư Phật, chính bà Elizabeth nói Đức Phật Gotama, chứ bà không nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Mấy cô phải sửa lại cho chính xác.
Khi một vị làm tác phẩm kinh sách là phải đảnh lễ Đức Phật. Như người dịch giả (trang 24), ông cũng phải đảnh lễ Phật.
Mấy câu này Sư sửa lại hết, nên bộ Biên Niên Sử này mấy cô sẽ có một bộ hoàn hảo. Người ta muốn mở đầu dịch họ cũng phải đảnh lễ Phật. Rồi Ngài Tác Giả cũng phải đảnh lễ Phật. Cái đó là truyền thống của người con Đức Phật.
Như trước khi mình bắt đầu buổi học mình cũng đảnh lễ Phật
Ngài Mingun nói về Đức Phật trong bộ này (trang 30) :
Đức Phật, Ngài là bậc đã hội phúc duyên với bốn điều của Chánh Tinh Tấn (1), Ngài là bậc tối thượng giữa hàng Nhân Loại và cao cả hơn hàng Chư Thiên cùng Chư Phạm Thiên, và như thế, Ngài là bậc Chủ Tể của Chúng Sanh ở trong Tam Giới này ! Làm thế nào chúng con hiểu được sự quyết tâm của Ngài để thành đạt Quả vị Phật vinh hiển cao quý, mà nó đã lan tỏa cùng khắp cả vũ trụ, trải dài từ lãnh địa tận cùng của sự cùng cực khổ đau và cho đến lãnh địa tột đỉnh của Chư Phạm Thiên. Kể từ khi Tâm thức của Ngài vừa khởi lên ý hướng để chứng đắc vòng hoa nguyệt quế tối thượng của Sự Hoàn Toàn Tự Giác Ngộ, vượt trội hơn hẳn cả Sự Giác Ngộ của vị Độc Giác Phật và Sự Giác Ngộ của bậc Thinh Văn Giác ?"
Ngài chỉ là Chánh Tinh Tấn cho đến ngày Ngài đắc đạo quả. Tuy nhiên không phải Ngài chỉ có một cái Tinh Tấn Ba-la-mật, mình phải học hết mười pháp mà Ngài cũng phải học hết mười pháp, rồi mình cũng biết được hết mười pháp Ngài dùng lúc nào, xử dụng lúc nào, và mỗi công dụng pháp của Ngài dùng gồm có bao nhiêu pháp. Thí dụ như, Ngài nói Ngài coi như là hạnh tinh tấn, thì trong tinh tấn này thì có bốn là Tứ Chánh Cần;
(1) Chánh Tinh Tấn (Sammappadhāna): Tứ Chánh Tinh Tấn, đó là:
a. Nỗ lực để ngăn chặn sự khởi sinh điều ác mà chưa khởi sinh,
b. Nỗ lực để diệt trừ điều ác mà nó đã khởi sinh,
c. Nỗ lực để tạo ra sự khởi sinh điều thiện mà chưa khởi sinh, và
d. Nỗ lực để thúc đẩy phát triển điều thiện mà nó đã khởi sinh.
Thì khi Ngài Mingun kể lại sự Giác Ngộ của vị Độc Giác với sự Giác Ngộ của bậc Thinh Văn Giác nó sẽ khác với sự Giác Ngộ của bậc Chánh Đẳng Giác, ở trong phần giới thiệu này (trang 31)
Kể từ khi Tâm thức của Ngài vừa khởi lên ý hướng để chứng đắc vòng hoa nguyệt quế tối thượng của Sự Hoàn Toàn Tự Giác Ngộ, vượt trội hơn hẳn cả Sự Giác Ngộ của vị Độc Giác Phật và Sự Giác Ngộ của bậc Thinh Văn Giác ?"
Mình thấy sự khác biệt nhau.
Vị Thanh Văn Giác, mình nói từ dưới đi lên, rồi mình nói từ trên đi xuống lại. Đối với vị Thinh Văn Giác muốn được Giác Ngộ phải có ba điều:
1. Thứ nhất, bậc Thinh Văn Giác là phải có bậc Chánh Đẳng Giác khai mở trí tuệ , vị đó mới có khả năng thành Giác Ngộ.
2. Thứ hai, người Thinh Văn Giác đó phải có Giáo Pháp của Chánh Đẳng Giác thì mới Giác Ngộ.
3. Thứ ba, vị Thinh Văn Giác đó phải hành mười pháp Pāramī (Ba-la-mật), của Thinh Văn Giác.
Có 3 điều, cái đó: 1. Thứ nhất, bậc Thinh Văn Giác là phải có bậc Chánh Đẳng Giác khai mở trí tuệ của mình ra, chứ không tự ên được. Thứ hai là phải có Giáo Pháp của bậc Chánh Đẳng Giác, nếu như thời bậc Đẳng Giác đã ra đi để lại Giáo Pháp. Nên nhớ, thời Gotama để Giáo Pháp có 5,000 năm. Nhưng thời Đức Phật Di Lặc - Metteyya để Giáo Pháp là 84,000 năm, phước lắm, tại vì Ngài tu 80 A Tăng Kỳ, nên Ngài nguyện để lại hết, và cái nguyện của Ngài tùy theo vị Phật Chánh Đẳng Giác đó, theo công lực của Ngài có tâm từ bao nhiêu, nguyện bao nhiêu, là nó thành tựu.
Do đó, bây giờ thí dụ như mấy cô không thành trong kiếp này Sư tin rằng Sư mong rằng, Sư muốn các quí cô phải lượm Thất Lai, mấy cô muốn thì mấy cô có, mấy cô không muốn thì mấy cô không có cơ hội. Tại vì mình còn Giáo Pháp, mà còn thời kỳ Thất Lai. Khi nào Giác Ngộ của Thất Lai đến Nhất Lai và Bất Lai không thành là khi Tạng Abhidhamma và Tạng Kinh hết thì không có cơ hội, mà 4000 năm coi như là hết, 3000 năm hết Abhidhamma , 4.000 năm hết Tạng Kinh, còn lại Luật
Tức là 4.001 tới 5.000 năm còn Tạng Luật thôi, là chỉ còn có biết sống trong đạo đức, giống như trở lại thời kỳ ông bà của mình, sống ăn ở hiền lành vậy thôi.
Mấy cô phải cẩn thận mấy cái đó còn không thì vuột. Nên mình tu mình phải có định hướng mà có kế hoạch, chứ còn không thì bị vuột, bị lôi đi.
Qua tới 4.000 năm là khi Tạng Kinh hết thì coi như chấm dứt.
Abhidhamma mà mất tới 3.000 năm Abhidhamma mất từ dưới mất lên, tức là Paṭṭhāṇa (Bộ Vị Trí) mất trước, rồi Yamaka (Bộ Song Đối) , rồi Kathavatthu (Bộ Ngữ Tông), rồi Puggalapannatti (Bộ Nhân Chế Định), rồi Dhatukatha (Bộ Chất Ngữ), rồi Vibhanga (Bộ Phân Tích), cuối cùng là Dhammasangani (Bộ Pháp Tụ).
Nhưng khi Tạng Kinh mất, thì Trường Bộ Kinh mất trước, Trung Bộ Kinh mất xuống tới Tiểu Bộ Kinh.
Điển hình; Trường Bộ Kinh là những bộ kinh dài, nói lên tính chất lịch sử, như bây giờ khi người ta nói về lịch sử, người ta ít nói về địa điểm này địa điểm kia, nên Trường Bộ Kinh sẽ mất trước.
Còn về Abhidhamma thì bộ Paṭṭhāṇa mất trước, tại vì không ai xiển dương bộ Paṭṭhāṇa, là mất.
Nên mình nói Abhidhamma mất từ dưới lên. Bên Tạng Kinh Nikaya thì mất từ trên xuống.
Cho tới 3.900 thì lúc đó chỉ còn Tiểu Bộ Kinh còn lác đác, hay chỉ còn Kinh Pháp Cú, những câu Phật ngôn Buddhavacana.
Nên khi Abhidhamma mất là bộ Paṭṭhāṇa (Bộ Vị Trí). Khi mà Sutta (Tạng Kinh) thì Trường Bộ mất trước.
Còn Tạng Luật mất là Phẩm Một, tức là Đại Phẩm Mahavagga, Tiểu Phẩm Cullavagga, rồi xuống mấy phần sau, cũng là đi theo thứ tự xuống, bộ một mất trước, bộ hai mất sau. Còn Abhidhamma là đi ngược từ dưới lên, người ta không nói tới Duyên mà chỉ nói Pháp thôi.
Thí dụ như bộ Dhammasangani nói về Pháp Thiện thì chỉ nói 3 Pháp thôi, là Pháp Thiện, Pháp Bất Thiện, Pháp Vô Ký, họ không nói tới Pháp Quả, Pháp Thọ, Pháp Tầm, Pháp Tứ.
Khi vị Thinh Văn Giác là họ phải có 3 bước, phải có bậc Chánh Đẳng Giác họ mới có Giác Ngộ. Phải có Giáo Pháp có bậc Chánh Đẳng Giác họ mới có Giác Ngộ, và họ có mười pháp Pāramī (Ba-la-mật) họ mới tu mới Giác Ngộ được. Nếu như các quí cô mà đang nguyện Thinh Văn Giác mà muốn đắc đạo quả thì mình coi 3 điều này mình có không. Cái thời của mình tại thời điểm này mình có không thì mình thấy mình bỏ túi được hay không bỏ túi được 3 bậc thôi; Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai.
Tiếp nối bài giảng tuần trước . Người không có duyên, không có chủng tử mà khi xuất gia thì họ đi tới Bất Lai là họ về cõi Ngũ Tịnh Cư, họ không tới Vô Sinh A La Hán được, là họ không có duyên xuất gia tu. Còn nếu như người có xuất gia tu thì họ có cửa đi tới Vô Sinh, nhưng, nếu như họ có cửa Vô Sinh, thời đó có Phật, thời đó còn Giáo Pháp, thời đó mình có Pāramī (Ba-la-mật) đầy đủ hết, nhưng không có chuẩn tử xuất gia thì Vô Dư Y Niết-bàn trong 7 ngày.
Mấy cô phải nhớ là nếu mấy cô không có hạt giống, không có chủng tử xuất gia là mấy cô không có đi tới Vô Dư Y Niết-bàn, trong phần Vô Sinh thì cô tới Bất Lai rồi đi lên cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên. Đó là con đường mà người ta tránh xuất gia, tới Bất Lai rồi đi về Ngũ Tịnh Cư Thiên. Còn không thì họ Vô Sinh rồi phải Vô Dư Y Niết-bàn, không vô Hữu Dư Y giống như Sariputta và Moggalāna hay bà Gotami, bà Uppalavanna, hay bà Yasotara là những người có chủng tử xuất gia thời Đức Phật, rồi họ Hữu Dư Y, rồi đắc thần thông, truyền bá Giáo Pháp giảng dạy ni chúng trong Giáo Đoàn Ni, cái đó là người ta có hết. Cái đó do mình thôi, không bắt buộc, mình đi đường nào mình biết là được rồi, miễn có Giáo Pháp, có hướng tu, có trí nguyện Giác Ngộ là cũng được rồi. Nhưng mình phải biết lộ trình mình đi. Thì mấy cô mà không qua được xuất gia mà qua tới Nhất Lai thì về cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên, ở đó mình tiến tu năm tầng; tín, tấn, niệm, định, tuệ, rồi Vô Sinh Niết-bàn ở đó luôn, không cần trở lại làm người, cũng không cần xuất gia, vô xuất gia nhiều khi trong giáo đoàn phiền não gặp nữa, vô trong chùa tu phiền não lắm, vô trong chùa thức khuya dậy sớm phiền não lắm, thôi về Ngũ Tịnh Cư Thiên tiến tu.
Mình đạt đạo quả thì chỉ có hai cửa thôi; Thất Lai là Tusita (Cõi Trời Đâu Suất), Bất Lai là Ngũ Tịnh Cư Thiên, chứ không có cửa đi vào Sắc Giới, mà mình không có đi qua cửa Sắc Giới Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Biến Quang Thiên, Biến Tịnh Thiên, Quang Âm Thiên, không đi mấy cái đó, mấy cái đó là cho mấy thiền sinh tu thiền Chỉ. Mình xuất gia mà không được thì tới Bất Lai về cõi Tịnh Cư Thiên.
Mình qua tiếp phần Độc Giác.
Độc Giác là người tự tu mà không có Chánh Đẳng Giác và không có Giáo Pháp của Chánh Đẳng Giác.
Xả Thí Pāramī Ba-la-mật là khác.
Xả thí thiện là được hưởng quả phước nhân thiên được trở lại làm người hay làm Chư Thiên có đầy đủ phước vật là do xả thí. Được trở lại làm người có đầy đủ phước vật, tài sản của cải xe cộ tiền bạc, Nhân và Thiên.
Xả thí Pāramī Ba-la-mật là xả thí là tuyên bố phóng khí, là Pariccāga, không phải là Dāna, là xả thí là Xả thí Pāramī Ba-la-mật không mong cầu đón nhận quả phước hữu lậu, chỉ đón nhận quả phước vô lậu.
Vậy thì khi mình xả thí mình nguyện làm nhân giải thoát Niết-bàn, "tôi không mong cầu", thì đó là xả thí Pāramī Ba-la-mật. Thí dụ xả thí một cái ghế, tại vì bậc Thinh Văn Giác là ngoại thân, thì xả thí này xả thí Parami Ba-la-mật của Độc Giác, xả thí nhiều lần , trong khi xả thí mình nguyện. Còn vị Thinh Văn Giác thì nguyện một lần là xong.
Vị Độc Giác có một cái ghế xả thí thì nguyện làm nhân đến đạo quả Niết-bàn. Rồi có một vật khác vị Độc Giác lại xả thí lần nữa rồi lại nguyện làm nhân đến đạo quả Niết-bàn.
Còn các vị Thinh Văn Giác, họ sống tuần tự làm một lần thôi, không cần phải lo.
Thiền sinh hỏi: Là vị Thinh Văn, bây giờ mình làm một việc xả thí, thì mình có nguyện là xả thí Ba-la-mật. Thí dụ trong cuộc sống, mình lại có duyên xả thí nữa thì mình không có nguyện xả thí Ba-la-mật ?
HT trả lời: Không, vì mình nguyện rồi, thì cái đó là mình bồi đắp cái Pāramī Ba-la-mật cái xả thí của mình. Trong Chánh Tạng, trong quyển Hệ Tộc Chư Phật Buddhavamsa (Hệ Tộc Chư Phật - Phật Sử) của bà Elizabeth nói thì chỉ nguyện một lần thôi là xong.
Thiền sinh: Như vậy thì khi mình làm thì làm với tác ý làm nhân đến đạo quả Giải Thoát là được.
HT trả lời: Không nguyện nữa, nhưng việc làm đó nó vô luôn với lời nguyện đã nguyện rồi. Không phải là mỗi lần xả thí lại nói: "Tôi xả thí này nguyện Chánh Đẳng Giác." Với Chánh Đẳng Giác một lần nguyện là xong, con đường họ đi là như vậy, trừ khi nào họ bẻ gãy, hay buông bỏ cái nguyện đó
Sư kể cho mấy cô nghe, tới cái đó. Khi Sư đọc tới phần kết quả để thành tựu Pāramī Ba-la-mật là cái chỗ mà mấy cô về đọc lại quyển Chính Thị Kim Sinh là khi Ác Ma tới dành cái bồ đoàn (thảm cỏ) mà Đức Phật lúc đó là Bồ Tát Ngài nói: "Quả địa cầu này chứng minh ta, xác nhận ta đã thành tựu, chỗ này là của ta". Thì Ác Ma không lay chuyển được.
Tại vì, cứ mỗi lần làm như vậy Ngài nguyện một lần rồi, thì cái xả thí đó bắt đầu dày lên, cái trì giới bắt đầu dày lên, và cái dày đó và cái công chuyện mình làm đó, cái công lực của mình, cái tâm lực của mình nó càng ngày nó khắn khích và nó kiên cố hơn. Nên cô làm một cái xả thí nào mà có Pāramī Ba-la-mật cái xả thí đó cô có niềm tin kiên cố và không bị giao động. Nếu như mà cô làm không có xả thí Pāramī Ba-la-mật, mà chỉ xả thí thiện thôi thì vẫn còn bị giao động. Ngay khi cái phước trổ sinh lên của Nhân và Thiên cô bị giao động liền; mừng, vui, thích.
Còn cái đó với Pāramī Ba-la-mật, Xả Thí Pāramī Ba-la-mật họ không bị ảnh hưởng cái đó, không giao động, họ kiên cố già dặn hơn, và cái việc làm của họ càng ngày mãnh liệt hơn, thấy rõ liền.
Nên nó giống như là giữa hai người giàu, người giàu truyền thống, còn người mới giàu, thì người mới giàu họ bị giao động, tức là họ được hưởng quả phước Nhân Thiên, thì người mà làm việc xả thí này mừng vui thích liền. Còn người làm Pāramī Ba-la-mật họ biết việc làm này đã làm và đã thành tựu rồi, cái niềm tin của họ hay là cái năng lực của họ kiên cố hơn và không bị lay chuyển.
Nên khi đối diện với một nghịch cảnh một Ác Ma chỉ là một pháp nghịch thôi Ngài vẫn kiên cố không giao động. Anh mà xả thí thiện anh sẽ bị giao động, anh không biết chắc mình có, anh không tin là mình đầy đủ để đối phó với nghịch cảnh không, thì lúc bấy giờ khi đối diện với một pháp nghịch thì Pāramī Ba-la-mật cô sẽ bảo chứng cái năng lực của mấy cô không bị giao động.
Thì khi làm Pāramī Ba-la-mật mà quí cô có một cái xả thí, một cái trì giới, cái niềm tin và cái quả phước, cái nghị lực nó kiên cố vững chắc, không có gì lay chuyển được họ, ngay khi quả trổ sinh hay là có người tới đánh động mình, không lay chuyển.
Ngay khi Ngài Xá Lợi Phất nguyện Chánh Đẳng Giác, mà một kiếp thôi, vua trời Đế Thích xuống thử xin mắt Ngài vẫn bị giao động. Tại vì Ngài chưa phải là Niyata (Thọ Ký Bồ Tát ). Nên mấy cô phải cẩn thận. Pháp nghịch không phải là nghiệp chủ không, mà pháp nghịch là Chư Thiên.
Trong tuần vừa rồi có Phật tử hỏi Sư về giới thứ năm là không uống rượu. Thì bị bệnh rồi uống rượu thuốc có phạm giới không? Thì cái tên đã gắng liền với cái giới rồi, thì dù cái gì mình cũng không đụng vô.
Đọc lại tích truyện nàng Sujātā là người vợ thứ tư của chàng thanh niên Magha. Thanh niên Magha sống cuội đời làm việc thiện xã hội sanh được về cõi trời là Vua Trời Đế Thích. Thì thanh niên Magha có bốn người vợ, ba người vợ đầu luôn luôn đi theo Ngài để làm việc thiện, còn bà thứ tư không chịu làm, mà cứ đờn ca sướng hát vui chơi, rồi khi chết sinh làm con cò ở dưới trần gian. Ngài Thiên Chủ ở cõi Trời ngó xuống thấy người vợ thứ tư thành con cò. Do đó, khi nói sát sinh là sát sinh, dù hình thức thử hay là thiệt, giả, giả, thiệt, mình cũng dừng lại. Ngài Vua Trời Đế Thích hiện ra làm con cá thử con cò, nói nếu ăn con cá thì tiếp tục đi tục sinh nữa, thì con cò nhả con cá ra.
Còn giới không uống rượu, giờ mình uống để chữa bệnh là mình phạm giới, là mình lại đi tục sinh nữa, phải buông.
Mấy cô phải cẩn thận, vua trời Đế Thích xuống thử, tại sao Ngài không thử cái khác, mà Ngài thử đúng cái, cái tâm lý mình đang vướng vào trong đó.
Thiền sinh nói: Như mà vậy là mình cũng thấy được là cái tâm nguyện của mình là mình coi trọng cái thân xác của mình hơn phần tinh thần.
HT trả lời: Không phải, mình không có coi trọng, mà là mình không biết, lúc đó mình không có biết, mình không vững, người ta nói cái mình rớt liền
Nên Sư nói cô nghe, không được. Có khi là người ta đưa cái thế, không phải người ta thử đâu, nhưng mà cái đó coi cái giới, nên cô đọc bài Chính Thị Kim Sinh, Ác Ma đi theo Đức Phật bảy năm mà tìm ra không một tỳ vết nhỏ trong thân, ngữ, ý của Ngài. Nên giống như cục đá mà không tìm ra được cục mỡ nào nó phải bỏ đi. Bảy năm, tức là sáu năm khổ hạnh, một năm đắc đạo quả còn vẫn đi theo xem có chắc không. Thì cái chỗ đó một năm mà đi theo thì coi như là niềm tin và cái nghị lực của người Ba-la-mật đã kiên cố, Ác Ma không lay chuyển được.
Đó là câu trả lời của người hành Ba-la-mật, không lay chuyển được, phải kiên cố. Nếu như làm thiện là mình bị giao động, vẫn còn bị lay chuyển.
Đọc quyển thứ hai
Biên Niên Sử Chư Phật 1 CM2
VI. CHƯƠNG NÓI VỀ CÁC PHÁP BA LA MẬT
(NHỮNG PHÁP TOÀN THIỆN)
(b) Pháp Toàn Thiện về Đức Hạnh (Trì Giới Ba La Mật)
Tác giả đưa ra một sự miêu tả chi tiết về loài động vật Cāmari mà chúng ta đã có được dịch là "Yak - loài bò Tây Tạng". Ngài trích dẫn nhiều cứ liệu sai khác để xua tan đi quan niệm của nhiều người cho rằng Cāmari là một loài động vật có cánh. Không một chút nào, tác giả viện dẫn cứ liệu của Ngài Đại Trưởng Lão Abhayarama ở tại Mandalay, và Ngài Đại Trưởng Lão Taung Pauk ở tại Mawlamyine nói rằng nó là một loài bò của Tây Tạng, một súc vật thồ thuộc Tây Tạng, hữu ích luôn cả việc cho sữa và thịt của nó nữa. Quạt được làm bằng đuôi của nó là một trong những biểu tượng của hoàng gia.
Lòng mong ước để tránh xa điều nguy hại, loài bò Tây Tạng sẽ hy sinh mạng sống của mình để không phải thực hiện bất luận mọi cố gắng nào để mà tháo gỡ nó ra ngay cả dù chỉ là một sợi lông đuôi của nó khi có sự cố bị vướng kẹt vào trong những cành nhánh của một bụi cây. Sumedha đã tự khuyên nhủ bản thân noi theo tấm gương được thiết lập do bởi một loài bò Tây Tạng và gìn giữ sự tinh khiết về Đức Hạnh dù phải hy sinh mạng sống của mình
Do đó, nên nghị lực và niềm tin và nghị lực của mình trở nên năng lực và không lay động, xả thí là xả thí, không bị giao động không bị lung lay, thì lúc đó Pāramī Ba-la-mật của mình mới dày lên, và chính cái đó nó bảo hộ và bảo vệ và dìu dắt mình đi tới con đường giải thoát mọi cám dỗ, mọi nghịch cảnh, mọi cản ngăn vượt qua được hết. Nó khác ở chỗ đó.
Sư chưa nói tới vấn đề xả thí để diệt trừ bỏn xẻn, mà trong khi xả thí mình vẫn còn bị lung lay đó là mình chưa vượt qua được. Do đó, mình nghiệm lại, Pāramī Ba-la-mật của mình nó càng dày càng kiên cố là không lung lay, không lay chuyển.
Tich truyện Bồ Tát Vessantara (Vessantara Jātaka) tiền kiếp cuối cùng của Đức Phật Gotama, kiếp đó Ngài nguyện xả thí Pāramī Ba-la-mật Chánh Đẳng Giác, sinh hai đứa con mà phải chia ly, vì để hoàn thành xả thí Pāramī Ba-la-mật Ngài đã xả thí hai người con mình cho một vị Bà La Môn.
Hai người con sợ hãi bỏ chạy. Bồ Tát đi tìm và khuyên nhủ Ngài nói : "Các con giúp cha hoàn thành Giác Ngộ, sau khi thành tựu cha sẻ trả lại cho các con". Hai người con nghe lời cha, và đi theo vị Bà La Môn đó.
Sư chưa nói là cho xong rồi hối tiếc, mất Tư Hậu, mà chỉ là pháp Thiện thôi. Còn Pāramī Ba-la-mật khác nữa, cho xong rồi không hối tiếc (Tư Hậu)
Như tích truyện ông Ba La Môn giàu có, đã cúng dường thực phẩm cho vị Phật Độc Giác một cách chu đáo, sau đó khi vị Độc Giác nhận thức ăn xong thì rời đi, thì ông Bà La Môn tiếc,
Hậu quả là kiếp sau sinh làm Trưởng giả giữ ngân khố giàu có, sở hữu hàng triệu đồng tiền vàng. Nhưng vì tâm luyến tiếc, keo kiệt ở tiền kiếp, nên ông phải sống khổ sở. Mà cái đó chỉ là làm thiện thường thôi.
Còn xả thí Pāramī Ba-la-mật khác nữa, khác chỗ nào? Con đường giải thoát của mình là quyết định kiên cố, Pāramī Ba-la-mật này chỉ là phương tiện, mình không gián đoạn, gọi là kiên cố, chứ không phải xả thí. Con đường giải thoát tôi kiên cố, thì xả thí này tôi không lay chuyển. Còn cái xả thí thiện mình còn lay chuyển giữa người, cảnh vật, quả phước và nhân quả, mình còn lay chuyển. Còn xả thí Pāramī Ba-la-mật là con đường giải thoát tôi không lay chuyển. không cắt đứt, không cản ngăn được, thì đó là xả thí Pāramī Ba-la-mật .
Vậy thì, trở lại. Khi cô xả thí Pāramī Ba-la-mật thì cô nguyện giải thoát, "tôi không có ngừng lại", thì chữ xả thí đó là Xả Thí Pāramī Ba-la-mật .
Chữ xả thí, trì giới của Pāramī Ba-la-mật là con đường giải thoát, và ta đang làm xả thí này, không lay chuyển tôi được.
Thì chính cái đó, quả địa cầu mới xác nhận được Bồ Tát đã làm đúng cái nguyện của Ngài, là Ngài xả thí là vì Pāramī Ba-la-mật , Ngài xả thí vì giải thoát, Ngài xả thí là vì Đạo Quả của Ngài, chứ không phải xả thí trong cái thiện thông thường, thì quả địa cầu mới rung động, mới xác nhận.
Do đó, mấy cô xả thí thiện là mấy cô nghĩ tới Nhân, Thiên, còn nghĩ tới quả hiệp thế, hay là quả hữu lậu. Nhưng xả thí Pāramī Ba-la-mật là giải thoát,
- Tôi làm xả thí này là tôi giải thoát, tôi không có ngừng lại, và tôi có cơ hội làm là để tôi được giải thoát.
Thì cái đó là xả thí Pāramī Ba-la-mật, ai nói cũng không lung lay.
Nàng Sujātā là người vợ thứ tư của chàng thanh niên Magha, (tiền kiếp của Thiên Chủ Sakka. Ngài Thiên Chủ Sakka đối với nàng Sujātā Ngài không có lạ vì bà Sujātā là vợ của Thiên Chủ Sakka trong tiền kiếp, bây giờ Thiên Chủ muốn độ bà Sujātā bấy giờ đã tái sinh thành con cò ở trần gian, và Ngài đã xuống cắt nghĩa cho bà hiểu bây giờ tu để giải thoát. Thiên Chủ hóa một con cá để con cò mổ ăn, nhưng Ngài đã xuống cắt nghĩa cho bà hiểu bây giờ tu để giải thoát, và con cò nghe lời mà thả con cá ra và nhịn đói để được chết, được giải thoát.
Trưởng Lão Cakkhupāla đã nói: ta đã ngủ bao năm rồi, ta đã nằm nghỉ bao nhiêu kiếp rồi, bây giờ cho thuốc nhỏ mắt ta phải nằm, bây giờ ta không nằm để được giải thoát. Và Ngài Cakkhupāla đã đắc A La Hán.
Trong bài Kinh Hệ Tộc Chư Phật này, có kiếp Ngài là con sư tử đi theo Đức Phật, nhưng một tuần lễ đó không phải là Ngài đi theo hầu Đức Phật, mà một tuần lễ đó ở bên Đức Phật để mà không đi săn mồi và Ngài chết, tại vì Ngài ở bên một vị Phật là người đã giải thoát rồi, vì Ngài muốn giải thoát, do đó Ngài không lung lay. Đó là nghị lực của Ngài đã kiên cố rồi, không lay động, vì ở bên bậc Chánh Đẳng Giác thì Ngài đâu còn gì nữa mà lay động, đó là cơ hội tốt, phục duyên, mà có phước nữa, mình câu sinh luôn, là con sư tử, kiếp thú mà, bỏ một tuần lễ không đi kiếm mồi. Lúc đó Đức Phật Ngài đang độc cư thiền tịnh thì con sư tử nằm đó để mà tịnh tâm, không đi sát sinh, không đi săn mồi, và Ngài cũng thành tựu Pāramī Ba-la-mật, Sư tử là bản tánh thú, mà gặp được bậc Chánh Đẳng Giác là Ngài đã kiên cố rồi, có cơ hội và cũng không thay đổi cái lập nguyện của mình.
Không lay chuyển thì xả thí đó là Xả Thí Pāramī Ba-la-mật, mà không lay chuyển con đường giải thoát là Pāramī Ba-la-mật . Không có cơ hội, không có lay chuyển, nghị lực tu đã tới và tu giải thoát.
Trong tích truyện Bồ Tát Vessantara bố thí hai người con. Khi đó Bồ Tát Vessantara ở trong cốc, ông ăn xin Bà La Môn tới xin hai người con của Bồ Tát. Mà Ngài dám xác định là Ngài thành tựu thành Phật Ngài trả ơn hay là Ngài mắc nợ. Công Chúa Maddi là vợ của Bồ Tát Vessantara về hỏi con đâu, Ngài nói cho rồi, bà chạy rượt theo. Chư Thiên phải bảo vệ cho Pāramī Ba-la-mật của Bồ Tát thành tựu nên hóa ra cọp beo để chặng đường bà Maddi, thì Maddi phải quay trở lại đọc 36 câu kệ than trách Ngài, Ngài ngồi yên. Rồi Vua Trời Đế Thích xuống xin Maddi dẫn đi. Ngài không lay chuyển, Ngài không thương vợ thương con Ngài sao, thương chứ, nhưng lòng bi mẫn Ngài tới để thành Chánh Đẳng Giác mạnh hơn.
Thì chính Vua Trời Đế Thích mới xác nhận Ngài là thành tựu mới là hiện ra trả lại Maddi cho Bồ Tát.
Thiền sinh hỏi: Bạch Sư lúc đó Bồ Tát Vessantara đã được thọ ký chưa?
HT trả lời: Chưa, Ngài chưa được thọ ký.
Thì chữ Tứ Chánh Cần của Ngài áp dụng trong Pāramī Ba-la-mật đúng không ?
- Ngăn trừ bất thiện, Ngài tinh tấn. Thì chữ nghĩa là Tứ Chánh Cần của Sumedha được hiện rõ trong chỗ mà mình biết.
Thì khi vị Độc Giác họ làm không có Chánh Đẳng Giác, không có Giáo Pháp, họ kiên cố với Pāramī Ba-la-mật của Ngài phải hai lần để Ngài đắp bồi cho đủ nghị lực.
Ai nhắc nhở mình, ai bảo vệ cho mình, ai cho mình được đầy đủ, vì là Độc Giác.
Còn Thinh Văn Giác được Đức Phật Ngài xác nhận được đầy đủ. Thành tựu mình không lo, mình bớt đi được một phần rồi, có bậc Chánh Đẳng Giác sẵn rồi.
Do đó, Độc Giác khổ hơn, không có bậc Chánh Đẳng Giác, không có Thầy, không có Giáo Pháp chỉ là không có chỗ nương. Đức Phật Ngài nói các vị Thinh Văn Giác lấy Giáo Pháp làm Thầy, tự thắp đuối mình đi, tự ngưng tư tưởng chính mình. Còn Độc Giác không có, phải đắp bồi, phải kiên cố vững chắc, tự mình phải bảo về cho chính mình, và xác định vị trí mình, và con đường mình đi phải nhứt định thành tựu, không lay chuyển.
Thiền sinh hỏi: Bậc Độc Giác Phật thì không có giáo pháp, không có bậc Chánh Đẳng Giác chỉ dẫn, nhưng các vị này trong những kiếp quá khứ cũng đã có một thời là hành Pāramī Ba-la-mật.
HT trả lời: Họ hành Pāramī Ba-la-mật, có khi họ là Thinh Văn tức là có học Giáo Pháp của Chánh Đẳng Giác. Nhưng tới khi Ngài tách chuyển qua Độc Giác là Ngài đi một mình ên.
Trong Kinh Nhật Tụng, câu:
Idaṃ vata me puññaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu anṃgate.
Do sự phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây, hãy là món duyên lành để dứt khỏi những điều ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm trong ngày vị lai. Câu đó là nguyện Độc Giác.
Giải thoát là có chủng tử rồi, làm sao cũng thành, đó bài nguyện của Ngài Tịnh Sự.
Do đó, là vị Độc Giác đã từng là Thinh Văn Giác, nhưng cái thời của các Ngài họ nguyện là họ không có Phật và cũng không có Giáo Pháp, là sao?
Bây giờ mình trở lại A Xà Thế sau này là Độc Giác, Đề Bà Đạt Đa thời ông là Độc Giác, mà thời ông là Đức Phật Gotama, ông là Thinh Văn Giác, ông đắc ngũ thiền. Như vậy có những vị Độc Giác đã từng là Thinh Văn, nhưng mà họ nguyện tới giai đoạn đó họ muốn đi một mình.
Trong bài Kinh "Tê Giác Một Sừng ra đi" đó là bài Kinh Độc Giác. Vậy thì Tê Giác Một Sừng ra đi đã từng sống trong bày đàn, và tất cả đi một mình, sống một mình và đi với trạng thái nghị lực của mình trong sự kiên cường của mình. Những người tu hành hạnh Dhutaṅga, là những người tu đầu đà khổ hạnh trong rừng già, họ từng sống trong Tăng đoàn, sau họ thấy đủ nghị lực, đủ kiên cố rồi họ không có gì sợ hãi, không có gì ảnh hưởng tới họ là họ tách ra. Những người đó là Độc Giác. Mà những người đó họ không sợ Nghiệp Chủ./.
-----------------------------------------
Notes từ Internet:
Xem Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống (Kinh số 26 Trường Bộ Kinh) có ghi rằng; vào thời kỳ của Đức Phật Di Lặc - Metteyya tuổi thọ của loài người là 84.000 ngàn năm:
Đoạn 25). Khi tuổi thọ của loài Người lên đến tám vạn tuổi, có Thế Tôn tên là Metteyya sẽ ra đời, là vị A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. .....
Trong Biên Niên Sử của Chư Phật (Buddhavamsa), quyển Anāgatavaṃsa (Vị Lai Hệ Tộc). Theo trong quyển này ghi là Đức Phật Di Lặc - Metteyya thuộc hệ Tinh Tấn Cát Tường (Viriyādhika) - Là vị Phật thành đạo nhờ hạnh tinh tấn. Thời gian tích lũy công đức (Ba-la-mật) của Ngài kéo dài tổng cộng 80 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp, chia làm 3 giai đoạn:
1 Ý nguyện (Phát nguyện trong tâm): 32 A Tăng Kỳ (Nguyện thầm trong tâm mong thành Phật)
- Khẩu nguyện (Phát nguyện ra lời): 28 A Tăng Kỳ (Nói lời ước nguyện thành Phật trước chư Phật (quá khứ).
- Thân hành (Được thọ ký công khai): 20 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp (kể từ khi được Đức Phật quá khứ Muhutta chính thức thọ ký cho đến khi thành đạo.
---------------------------------
Số lượng Đức Phật thọ ký theo từng căn tánh Bồ Tát
Trong suốt thời gian 16 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp (giai đoạn sau khi nhận lời thọ ký đầu tiên cho đến ngày thành đạo), một vị Bồ Tát Tinh Tấn Ưu Việt (Vīriyādhika Bodhisatta) sẽ được nhiều vị Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian thọ ký, chứ không phải chỉ một vị.
Thời gian tu hành và số lượng Đức Phật thọ ký phụ thuộc vào hạnh nguyện ưu việt của vị Bồ Tát đó:
Bồ Tát Trí Tuệ Ưu Việt (Paññādhika): Tu trong 4 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp (tính từ lúc được thọ ký). Trong suốt thời gian này, Bồ Tát được 24 vị Đức Phật tuần tự xuất hiện thọ ký (Tiền thân Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuộc nhóm này).
Bồ Tát Đức Tin Ưu Việt (Saddhādhika): Tu trong 8 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp sau khi thọ ký. Trong thời gian này, số lượng Đức Phật xuất hiện và thọ ký cho Ngài sẽ nhiều gấp đôi nhóm Trí Tuệ, ước tính khoảng 48 vị Đức Phật.
Bồ Tát Tinh Tấn Ưu Việt (Vīriyādhika): Tu trong 16 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp sau khi thọ ký. Vì thời gian kéo dài gấp bốn lần nhóm Trí Tuệ, số lượng Đức Phật xuất hiện để thọ ký cho vị Bồ Tát này là lớn nhất, ước tính khoảng 96 vị Đức Phật tuần tự ra đời. (Đức Phật Di Lặc - Metteyya trong tương lai được tính thuộc nhóm Tinh Tấn hoặc Đức Tin tùy theo bản chú giải kinh điển).
Bản chất của việc "Thọ Ký Tuần Tự
"Trong một A Tăng Kỳ đại kiếp, có những giai đoạn trái đất trải qua thời kỳ "Không Kiếp" (không có vị Phật nào ra đời), nhưng cũng có những kiếp trái đất (như kiếp hiện tại của chúng ta) có nhiều vị Phật cùng xuất hiện.
Khi một vị Bồ Tát đã đắc chứng trở thành Bồ Tát Định Sẵn (Niyata Bodhisatta):
Vị Phật đầu tiên (ví dụ như Đức Phật Nhiên Đăng đối với tiền thân Phật Thích Ca) sẽ xem xét căn tánh và đưa ra lời thọ ký xác định đầu tiên.
Các vị Phật tiếp theo xuất hiện trong suốt 4, 8, hoặc 16 A Tăng Kỳ đó, mỗi khi vị Bồ Tát đến đảnh lễ và cúng dường Đức Phật, các Ngài đều dùng thiên nhãn thông để tái xác nhận (thọ ký tiếp nối) lời tiên tri trước đó: "Vào thời vị lai, cách đây... A Tăng Kỳ nữa, vị này chắc chắn sẽ thành Phật hiệu là..."
Như vậy, con số 16 A Tăng Kỳ là tổng thời gian hành đạo dưới sự chứng kiến và thọ ký của hàng chục vị Đức Phật khác nhau xuất hiện nối tiếp qua các thời đại, chứ không phải do một vị Phật duy nhất thọ ký.
Trong truyền thống Phật giáo Nam truyền (Theravada), được ghi chép chi tiết trong bộ Kinh Buddhavamsa (Kinh Phật Chủng Tính), có 24 vị Đức Phật Toàn Giác đã tuần tự xuất hiện và thọ ký cho tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Bồ-tát Gotama). Quá trình này kéo dài suốt 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất.
Danh hiệu của 24 vị Đức Phật và thân thế của tiền thân Đức Phật Thích Ca khi nhận thọ ký:
1. Đức Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng)
. Tiền thân: Đạo sĩ Sumedha (Thiện Huệ).
. Chi tiết: Đạo sĩ Sumedha đã dùng thân mình lót đường bùn lầy để Đức Phật và tăng đoàn đi qua. Ngài được Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký lần đầu tiên, chính thức bước vào lộ trình 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp để thành Phật.
2. Đức Phật Koṇḍañña (Kiều Trần Như)
. Tiền thân: Chuyển luân thánh vương Vijitāvī.
. Chi tiết: Ngài đã làm lễ cúng dường lớn đại chúng tăng và được Đức Phật thọ ký.
3. Đức Phật Maṅgala (Mang Già La)
. Tiền thân: Bà-la-môn Suruci.
. Chi tiết: Ngài cúng dường thực phẩm và dâng tặng y áo cho Đức Phật cùng tăng chúng.
4. Đức Phật Sumana (Tu Man Na)
. Tiền thân: Long vương Atula tên là Atulo.
. Chi tiết: Long vương đã tấu nhạc trời và cúng dường các loại y báu lên Đức Phật.
5. Đức Phật Revata (Ly Bà Đa)
. Tiền thân: Bà-la-môn Atideva.
. Chi tiết: Ngài tán dương Đức Phật bằng các bài kệ tụng và dâng cúng một tấm y quý giá.
6. Đức Phật Sobhita (Sa Tỳ Đa)
. Tiền thân: Bà-la-môn Ajita.
. Chi tiết: Ngài cúng dường vật thực đến Đức Phật và tăng đoàn.
7. Đức Phật Anomadassī (Cao Kiến)
. Tiền thân: Thống tướng Dạ-xoa (Yakkha).
. Chi tiết: Ngài đã kiến tạo một giảng đường lớn cúng dường Đức Phật.
8. Đức Phật Paduma (Liên Hoa)
. Tiền thân: Một con sư tử chúa.
. Chi tiết: Sư tử phát tâm lành khi thấy Đức Phật nhập định, đi nhiễu quanh Ngài và gầm vang tôn kính.
9. Đức Phật Nārada (Na La Đà)
. Tiền thân: Đạo sĩ đại phạm hạnh.
. Chi tiết: Ngài cúng dường các loại trầm hương quý báu lên Đức Phật và tăng chúng.
10. Đức Phật Padumuttara (Liên Hoa Thượng)
. Tiền thân: Người thanh niên tên Jatila.
. Chi tiết: Ngài cúng dường y phục đến tăng đoàn của Đức Phật.
11. Đức Phật Sumedha (Thiện Tuệ)
. Tiền thân: Người thanh niên tên Uttara.
. Chi tiết: Ngài đem hết tài sản tích góp được để làm đại lễ cúng dường Đức Phật.
12. Đức Phật Sujāta (Thiện Sanh)
. Tiền thân: Chuyển luân thánh vương.
. Chi tiết: Ngài từ bỏ vương vị, dâng giang sơn cúng dường và xuất gia tu hành theo Phật.
13. Đức Phật Piyadassī (Hỷ Kiến)
. Tiền thân: Người thanh niên Bà-la-môn Kassapa.
. Chi tiết: Ngài cúng dường một tu viện lớn đến Đức Phật.
14. Đức Phật Atthadassī (Nghĩa Kiến)
. Tiền thân: Đạo sĩ Susīma.
. Chi tiết: Ngài đem hoa trời cúng dường Đức Phật và được thọ ký.
15. Đức Phật Dhammadassī (Pháp Kiến)
. Tiền thân: Thiên đế Thích (Sakka).
. Chi tiết: Dùng thiên nhạc và các loại hoa báu cúng dường Đức Thế Tôn.
16. Đức Phật Siddhattha (Tất Đạt Đa)
. Tiền thân: Đạo sĩ Maṅgala.
. Chi tiết: Ngài dâng cúng các loại quả cây quý hiếm đến Đức Phật.
17. Đức Phật Tissa (Đế Sa)
. Tiền thân: Vua Sujāta.
. Chi tiết: Ngài từ bỏ ngai vàng, xuất gia làm đạo sĩ và cúng dường hoa báu lên Đức Phật.
18. Phussa (Phú Sa)
. Tiền thân: Vua Vijitāvī.
. Chi tiết: Ngài hộ độ và cúng dường các nhu yếu phẩm đến Đức Phật và tăng chúng.
19. Đức Phật Vipassī (Tỳ Bà Thi)
. Tiền thân: Long vương Atula.
. Chi tiết: Long vương dâng cúng một chiếc ghế báu khảm ngọc thạch lên Đức Phật.
20. Đức Phật Sikhī (Thi Khí)
. Tiền thân: Vua Arindama.
. Chi tiết: Ngài cúng dường vật thực cao cấp và voi báu phục vụ tăng đoàn.
21. Đức Phật Vessabhū (Tỳ Xá Phù)
. Tiền thân: Vua Sudassana.
. Chi tiết: Ngài từ bỏ cung điện, xuất gia trong giáo pháp của Đức Phật.
22. Đức Phật Kakusandha (Câu Lưu Tôn)
. Tiền thân: Vua Khema.
. Chi tiết: Ngài cúng dường y áo và thuốc men trị bệnh đến Đức Phật.
23. Đức Phật Koṇāgamana (Câu Na Hàm)
. Tiền thân: Vua Pabbata.
. Chi tiết: Ngài tổ chức đại lễ cúng dường vật thực đến toàn thể tăng đoàn.
24. Đức Phật Kassapa (Ca Diếp)
. Tiền thân: Người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla (Tuyên bách).
. Chi tiết: Là vị Phật cuối cùng thọ ký trước khi Bồ-tát Gotama tái sanh vào cõi trời Đâu Suất, sau đó hạ sanh thành Thái tử Tất-đạt-đa và đắc quả Phật Thích Ca ở kiếp hiện tại.
------------------------------------
"Bà Elizabeth" chính là tiến sĩ Isaline Blew Horner (thường viết tắt là I.B. Horner, 1896–1981). Bà là một nhà học giả Phật giáo người Anh kiệt xuất, từng giữ chức Chủ tịch hội Pali Text Society (PTS).
Bà không dịch toàn bộ Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya), vì đây là bộ kinh lớn nhất trong Tạng Kinh với 15 đến 18 tập sách. Tuy nhiên, bà đã trực tiếp dịch và hiệu đính nhiều phần cốt lõi của bộ kinh này sang tiếng Anh cho hội PTS.
Các tập Tiểu Bộ Kinh do bà I.B. Horner dịch . Bà Horner đã để lại dấu ấn lớn qua các bản dịch thuộc hệ thống tuyển tập cổ của PTS:
- Chuyện Thiên Cung & Chuyện Ngạ Quỷ (Vimānavatthu & Petavatthu): Được bà dịch trong bộ Minor Anthologies, Tập IV. Nội dung kể về quả báo thiện ác đưa con người lên cõi trời hoặc sa vào cõi ngạ quỷ.
- Buddhavamsa (Hệ Tộc Chư Phật - Phật Sử) & Sở Hạnh Tạng (Buddhavaṃsa & Cariyāpiṭaka): Bản dịch tiếng Anh của bà có tên là The Chronicle of Buddhas & The Basket of Conduct. Sách kể về tiền thân của Đức Phật qua 24 đời cổ Phật và hành trình tu tập 10 ba-la-mật.
- Trưởng Lão Tăng Kệ & Trưởng Lão Ni Kệ (Theragāthā & Therīgāthā): Bà đóng vai trò hiệu đính và dịch thuật một số bài thơ cổ của các vị tỳ-kheo và tỳ-kheo ni đắc quả A-la-hán