Sunday, September 13, 2026

086 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 23 tháng 12, 2023

 086 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 23 tháng 12, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 086 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh


Cái gì cũng vậy, mình đang nhẫn nại nhưng mình muốn vượt qua những obstackles (những chướng ngại) là mình phải có giới đức của mình, đó là trì giới.

Trì giới này phải là con tàu hay con thuyền đưa mình vượt qua những obstackles (những chướng ngại) chứ không có cái gì hơn. Giới đức trong sạch thì tuệ mới phát sinh. 

Do đó, mình qua phần Sila. 

paṭighāta : Là Pháp Nghịch, nó va chạm, sự dội lại, sự đối kháng hoặc sự kháng cự vật lý tâm lý. paṭighāta, còn ám chỉ sự bất bình thầm kín, sự bực dọc tiềm ẩn hoặc xu hướng dễ nổi giận.

Rồi những paṭighāta (Pháp nghịch - sự đối kháng tiềm ẩn), tới với mình trong khi mình hành thiền, như là chuông reo, gia đình, hay là bản thân mình thì lúc bấy giờ mình phải Xả Thí Dana. Rồi xong xuôi mà muốn Xả Thí Dana thì mình phải có Metta Tâm Từ cho paṭighāta sự đối kháng tiềm ẩn này thì mới được. 

Paṭighāta pháp nghịch thì mình phải có Metta Tâm Từ cho mình. Mình xả thí nhưng không có Metta Tâm Từ thì không được. Khi mình xả thí hết những cái gì mà paṭighāta  sự đối kháng tiềm ẩn tới, những cái pháp nghịch thì mình phải buông bỏ. Buông bỏ bằng cách: Khi pháp nghịch paṭighāta tới là do mình có oan trái với họ, do đó nó mới trạo lại với mình, thì mình phải rải Metta Tâm Từ cho họ. Mình rải tâm từ cho họ thì cái nghiệp của họ với cái tâm từ của mình cộng lại nó mới giảm paṭighāta sự đối kháng tiềm ẩn đó được . Mấy cô nhớ khi mà mấy cô tu mà có những paṭighāta sự đối kháng như chồng, vợ, con cái tài sản của cải nhà cửa, thì đó là cái nghiệp thì mình phải có Metta Tâm Từ mới được. Rải tâm từ phải thành thục thì mới cảm hóa được.

Do đó, Tâm Từ đi với xả thí, thì có Tâm Từ khi mình đang xả thí, Tâm Từ của mình rải thì cái nghiệp paṭighāta với người ràng buột với mình sẽ giảm xuống thì Hành Xả mới đi được.

Hành Xả là con đường cuối là con đường đi tới Tuệ thứ mười Hành Xả.

Tuệ thứ 10. Saṅkhārupekkhā ñāṇa: Tuệ xả hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các hành.

Do đó, cô ráp mười Ba-la-mật này mà cái chót mà rớt đúng vào cái Hành Xả thì con đường nó đi tới cái Hành Xả Tuệ.

Do đó, những cái đó mà cô làm mà không đúng kỹ thuật hay là đúng cái key sẽ không có kết quả.

Thiền sinh hỏi: Tức là mình không lấy đúng Pāramī Ba-la-mật nào ?

HT trả lời: Tại mình không có phương pháp, không có key sẽ hành không được.

Thiền sinh hỏi: Tại vì pháp nghịch paṭighāta khi nó đã nghịch rồi thì cái nghiệp đó nó theo ?

HT trả lời. Pháp nghịch paṭighāta là cái nghiệp nó theo thì mình phải Xả Thí trước và phải Metta Tâm Từ rồi mới qua Hành Xả thì mình mới đi được. Hành Xả là cái cuối. Khi mình chưa Xả Thí xong mình chưa Metta xong, mình đi Hành Xả không được, tâm mình đi không được, nội cái vương vấn là vướng liền. Chữ chót là chữ Hành Xả.

Nên khi mình học mình không biết cách là không có kết quả. Nói về chi pháp mình phải coi mình hiểu. Tất cả bốn cái tâm cuối đưa đến Tâm Đạo và Tâm Quả và Phản Kháng. 

Là bảy Sát Na Tâm Đổng Lực, thì nó chỉ có một là Đại Thiện Tương Ưng Trí. Nhưng mà nó :

- Qua vị trí này là Thuận Tùng, 

- Qua vị trí này là Cận Hành, 

- Qua vị trí này là Chuyển Tộc, 

- Qua vị trí này là Đạo ... 

Chứ thật ra nó là Đại Thiện Tương Ưng Trí, chứ không có cái gì khác, mà mình không biết cách dùng thì không có kết quả. 

Bốn tâm cuối cùng đưa đến Tâm Đạo và Tâm Quả và Phản Kháng là:

10 - (11). Saṅkhārupekkhā ñāṇa: Tuệ xả hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các hành.

12. Saccānulomika ñāṇa: Tuệ thuận thứ (thuận theo thực tế, tức thuận theo Tứ Diệu Ðế).

13. Gotrabhū ñāṇa: Tuệ chuyển tộc, vào lúc "chuyển thay dòng dõi" (tức từ phàm trở nên Thánh).

14. Magga ñāṇa: Ðạo tuệ.

15. Phala ñāṇa: Quả tuệ.

16. Paccavekkhaṇa ñāṇa: Tuệ ôn duyệt, Tuệ Phản Kháng

Như vậy thì, khi hành Pāramī Ba-la-mật hay khi hành Tứ Niệm Xứ mình sài tâm Đổng Lực. Tâm Đổng Lực là tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí, hỉ thọ hay xả thọ, thứ hai là Hữu Dẫn hay Vô Dẫn.

Do đó, những cái đó mình làm mình mới biết, nhưng mình phải biết. Vậy thì từ giai đoạn Chuyển Tộc Gotrabhū đi tới Vodāna-citta Tâm Dũ Tịnh cũng ra Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Tại sao cái này gọi là Chuyển Tộc Gotrabhū ? Giai đoạn này tại sao gọi là Chuyển Tộc Gotrabhū ?

Tại sao cái này lại là Dũ Tịnh Vodāna ? Tại sao giai đoạn này gọi là Dũ Tịnh Vodāna. Phàm và Thánh, là Vodāna càng tinh khiết hơn, Thánh thấp lên Thánh cao.

Do đó, người trí họ biết khai thác góc độ của Đại Thiện Tương Ưng Trí. Rồi từ góc độ của Đại Thiện Tương Ưng Trí mình bỏ vô trong vị trí nào thì Đại Thiện Tương Ưng trí sẽ làm hết chức năng của nó ở trong vị trí đó.

Chẳng hạn như Thuận Tùng là nó đi theo sát với cảnh Tam Tướng, chứ nó không đi cái cảnh của Cận Hành. Cận Hành là nó bắt sát cảnh Tam Tướng chứ nó không bỏ cơ hội.

Do đó, Đại Thiện Tương Ưng Trí phải biết làm việc đó.

Nên khi mình biết cách dùng thì mình chỉ có Đại Thiện Tương Ưng trí nhưng mà cái gì mình cũng sài được hết, giống như chìa khóa vạn năng ổ khóa nào cũng mở được.  Tức là người trí xử dụng biết xử dụng chìa khóa vạn năng này như bậc trí biết xử dụng tâm Đại Thiện Tương Ưng trí của mình một cách hữu hiệu, hữu ích, hữu lợi, cái đó là sự Tỉnh Giác Sampajañña, thì nó mới đem lại kết quả tốt, chứ còn không thì không có kết quả.

Nên khi nào mình biết Dũ Tịnh Vodāna ?

Khi nào mình biết Chuyển Tộc Gotrabhū ?

Gotrabhū là mình tính từ cái qua kiết sử, còn nếu mà Vodāna là từ kiết sử thấp lên kiết sử cao. Từ triền cái qua kiết sử là Chuyển Tộc Gotrabhū . Còn Dũ Tịnh Vodāna là từ kiết sử thấp lên kiết sử cao, từ kiết sử thô thiển tới kiết sử vi tế.

Do đó, những cái đó Đại Thiện Tương Ưng trí làm được hết.

Nên quí cô phải khéo léo. Cái đó mình, một là mình có trí để tìm ra, hai mình có Thầy chỉ dẫn cho mình biết cách hành để mang lại kết quả, chứ còn không thì không có kết quả.

Hồi nãy Sư nói; từ triền cái qua kiết sử là Chuyển Tộc Gotrabhū thì mình nói : Trong đời sống hàng ngày; ăn, uống, ngủ, nghỉ, đi, đứng, nằm, ngồi, mình sài tập khí, kiết sử, thói quen hay là dùng trí thì mình phải tìm ra. Có nhiều người họ không dùng trí, người ta làm hết cho mình, thì cái đó cũng có. Sư khuyên quí Phật tử không chê trách ai hết, không chê ai dỡ, không chê, nhưng mình biết được là cái này khó lắm, khổ lắm.

 Mấy cô để ý, khi học về Pháp Thú, học về Tam Đề, cái Tam Đề về Đạo, Kiến Giải về Đạo, thì Sơ Đạo là Kiến Giải, mà từ Nhị Đạo lên tới Tứ Đạo là Vodāna phải là tu tập.

Thì Kiến Giải là tri kiến mình được phải sửa đổi. Cái tri kiến của mình phải sửa đổi, chứ mình cố chấp, mình kiến chấp, mình bảo thủ, mình không thay đổi thì mình không cách nào sửa đổi. Đi chùa 100 năm, làm Phật tử 100 năm mà không thay đổi, vẫn giữ nguyên, cốt con khi thì vẫn là con khỉ, không thay đổi.

Có duyên thì mình còn sửa, còn không họ cứ con đường họ đi. 

Thí dụ. Người VN theo tập tục văn hóa của người Á Châu hay là tập tục văn hóa nước VN, mình qua Mỹ mình vẫn giữ những tập tục đó, không ai nói mình được, mình vẫn giữ truyền thống đó, mình vẫn như vậy không thay đổi. Còn nếu như mình qua Mỹ và mình thấy tập tục văn hóa của mình cũ xưa, lỗi thời, giờ mình phải canh tân, đổi mới thì mình sửa. Chính mình thấy cái nào cũ xưa, chính mình thấy cái nào cổ lỗ sĩ, thì chính mình phải thấy chứ không ai thấy giùm.

Vậy thì Chuyển Tộc Gotrabhū tức là nó thay đổi cái chủng tộc của mình hay là chủng loại của mình hay là giòng tộc của mình. Mình có 3 loại chuyển tộc, 3 loại giòng tộc.

1. Thứ nhất là Nghiệp Tộc, là bản chính., cái giòng Nghiệp Tộc của mình là một.

Cái giòng tộc của mình có 3 loại: Nghiệp Tộc (Kamma) của mình nó theo mình từ kiếp này qua kiếp kia, nó đi theo hoài, gồm quá khứ, hiện tại, vị lai. Cái Nghiệp Tộc đi theo mình như bóng với hình.  Nếu như mình không thấy được nó, mình không sửa được nó thì hết kiếp này nó qua kiếp sau, cốt khỉ hoàn cốt khỉ. Cái nghiệp tộc của mình nó như vậy.

Như vậy thì khi mình từ con người rớt xuống Apāya khổ thú là do mình làm, mình đã không khéo nên bị đọa xuống khổ thú. Cũng từ người mình sanh vào cõi Chư Thiên là mình trở thành Thánh là do mình chuyển được.

2. Thứ hai là Gia Tộc, tức là gia đình của mình. Mình sinh ra trong gia đình đó có cộng hưởng câu sinh nghiệp chung với gia đình mình. Nghiệp tộc là của mình là mình lọt vô trong gia tộc. Thì cái gia tộc đó nó hình thành ra một sự sống của mình trong đó. Cha mẹ dạy mình, anh em dạy mình, cái gia tộc nó sẽ sinh trong cái đó. Cái nghiệp của mình nó đã lên rồi mà vô trong cái gia tộc này nữa thì nó cũng lại là một cái nữa của mình. Sống thân ngữ ý lúc nào cũng vậy, ở gần đen thì sáng gần mực thì đen.

3. Thứ ba là Xứ Tộc, môi trường.

Thì ba loại này; Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc, nó phát triển, khi Chuyển Tộc Gotrabhū, mình phải chuyển một lúc 3 cái, chứ không chuyển một được. 

Chuyển Nghiệp Chủ của mình, chuyển Gia Tộc của mình. Thí dụ Gia Tộc mình từ xưa đến bây giờ không có người xuất gia, và mình muốn đi xuất gia mới thoát được cảnh luân hồi thì mình phải chuyển. Đó là Gia Tộc.

Còn Xứ Tộc, thí dụ ở xứ này không có người tu, không có người xuất gia mà mình muốn chuyển phàm qua Thánh, thì mình phải chuyển, chứ không phải mình nói môi trường ở đâu mình ở đó mình phải chịu.

Thì 3 cái này, không được phép cho là cái này nhiều cái này ít, cái này mạnh, cái này yếu, cái này nặng cái này nhẹ, 3 thứ đó bằng nhau.

Vaṃsa là giòng tộc, phàm hay Thánh cũng vậy, có 3 loại:

                                                      Quá Khứ

                   Nghiệp Tộc (Kamma)   Hiện Tại

                                                          Vị Lai

Vaṃsa        Gia Tộc

                

                   Xứ Tộc


Chuyển Tộc là chuyển cái gì ? Gotrabhū nếu Chuyển Tộc  là chuyển từ phàm qua Thánh, chuyển nghiệp của mình, chuyển Gia Tộc của mình, chuyển Tộc Xứ của mình. Ba cái mình chịu không nổi, ba cái thì Đổng Lực nó đánh mình. Mà mấy cô coi cái nào, mình coi một cách thiên vị. Nên Đức Phật kêu mình phải cân bằng, phải giữ tâm cho khéo để mình điều khiển, không cái nào nặng, không cái nào nhẹ, không cái nào nhiều, không cái nào ít, và phải nhìn 3 mặt, chứ hồi nào tới giờ mình chỉ chuyển một mặt là không đúng, mình không biết được kẻ nghịch của mình là cái nào nữa.

Nghiệp Tộc nó đã sinh ra mình nó là Nghiệp Chủ rồi, nên ngay cả Sắc Pháp cũng có Sắc Nghiệp, rồi nó có Sắc Tâm (Gia Tộc) , rồi Sắc Quí Tiết (thuộc Xứ Tộc)

Sắc Quí Tiết thuộc về Xứ Tộc.

Sắc Tâm thuộc về Gia Tộc, hay Sắc Vật Thực nó nằm ở trong đó. Mình sinh ra rồi gia đình mình cho mình ăn cái gì mình theo cái đó. Rồi gia đình mình dạy mình cái gì mình có cái tâm đó mình có cái ý đó.

Ngay cái sắc pháp mình thôi, ngay sắc thân mình thôi cũng có mấy bộ mặt rồi mà mình không biết. Cha mẹ không sinh ra mình là người nữ, cha mẹ không sinh ra mình là người nam, mà là do nghiệp tạo nên.

Chuyển Tộc là chuyển từ phàm ra Thánh.

Gia Tộc là gia tộc phàm qua Thánh tộc.

Xứ Tộc, xứ này không có chánh pháp phải qua xứ có chánh pháp.

Vậy thì khi cô nhìn một người, cháu của mình cũng vậy, thân bằng quyến thuộc của mình, con cái của mình cũng vậy, mình muốn độ nó hay mình muốn câu sinh với nó thì phải nhìn 3 cái Tộc. Đức Phật cũng vậy thôi, Đức Phật đến với một chúng sinh nào Ngài nói nó có 3 Tộc.

Nội cái đó là mấy cô thấy là giật mình liền. Sư nói mình không có thì giờ để mình sống với cái nghiệp của chúng sinh, mình đây còn lo chưa xong.

Thiền sinh hỏi: Cái đó cũng làm cho con hơi rắc rối khi mình chuyển sang Ba-la-mật. Tức là bây giờ mình nói Hành Xả, mình nói là một phương pháp nhất định để tu tập Hành Xả là phải biết Nghiệp Chủ, phải biết 3 Tộc.

HT trả lời: Cũng ở trong Đại Thiện Tương Ưng Trí. Có một cái tâm, chìa khóa vạn năng, Nghiệp Tộc mình cũng mở, Gia Tộc mình cũng mở, Xứ Tộc mình cũng mở, chỉ có một Tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí. Hỉ thọ hay xả thọ là bẩm sinh của mình sinh ra rồi.

Quí Phật  tử phải biết mình sinh ra với tâm đại quả nào, mình phải nhớ Mahāvipāka Tâm Đại Quả nào.  Như Đức Phật Ngài nói với chúng Tăng: "Như Lai sinh ra là xả thọ", từ khi Ngài sinh ra cho tới ngày Ngài viên tịch không thấy Ngài cười, mà cười là có vấn đề, từ trong hoàng cung, từ Vua Cha, từ Mẫu Hậu, mấy anh em không có cười.

Mình phải hiểu vậy đó, mình phải biết. Như Sư đây, Sư hỏi má Sư, Má Sư có học Abhidhamma, Mẹ Sư nói Sư sinh ra là hỉ thọ.

 Đứng trước một Nghiệp Tộc. "Người ta nói: số nghèo đi đến xứ mô cũng nghèo" , đó là người ta nói Nghiệp Tộc, họ không nói tới Gia Tộc hay Xứ Tộc. Họ nói trong sự bi quan, họ nói trong tiêu cực của họ thôi, số tôi vậy, nghiệp tôi vậy.

Mình nghe như vậy thì đầu tiên nhất mà muốn mổ xẻ thì phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí. Mà khi mình nghe cái đó mà tâm của mình hơi buồn cho người đó, tội nghiệp cho người đó thì mình mất tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí liền vì tâm sân của mình khởi lên.

Thì người nào nói: "Tại cái nghiệp của tôi". Số của tôi nghèo là cái nghiệp của tôi, đi đến số mô cũng nghèo, thì mình nghĩ người này cố chấp quá, có nhiêu mà nói hoài, thì mình làm sao có tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí để mình độ người ta. Mình bị sân khởi lên.

Thì khi mình nhìn được con người đó, mà mình có tâm phiền người đó khi mình nghe nói về câu chuyện đó, thì mình không có Đại Thiện Tương Ưng Trí cho mình. 

Chẳng hạn mấy cô ngồi thiền, ngồi hoài không có kết quả, cô nói: không thấy khá gì hết chơn, thì cô đâu có Đại Thiện Tương Ưng Trí, mà cô có tâm sân. Mà tâm sân thì không bao giờ có pháp thiện, tại vì đang sống trong pháp bất thiện, thì trong cái sân đó có si bất thiện biến hành, si vô tàm vô úy, trạo cử. Thì mấy cô làm sao thấy được pháp. Thì cái đó mình phải sửa từ cái gốc cái tâm của mình.

Như vậy thì khi mình nói tới cái đó thì mình nghĩ tới người ta, hay nghĩ tới mình.

Mình đi Pháp Hành, thì không phải tối ngày mình ngồi thiền là mình đi Pháp Hành. Trong ba loại Tộc này, ngay trong giai đoạn mấy cô ngồi một mình, thì bây giờ cô đang sống trong Nghiệp Tộc hay đang sống trong Gia Tộc, hay trong Xứ Tộc mình đang ngồi, mình đang sống trong Nghiệp Tộc của mình, hay đang sống trong Gia Tộc của mình, hay đang sống trong Xứ Tộc của mình, mình ở môi trường nào? Ở trong Gia Tộc nào? Hay ở trong Nghiệp Tộc nào? Mình phải biết.

Thiền sinh hỏi: Thì không phải là cái Nghiệp Tộc nó mới dẫn mình đi vô trong cái Gia Tộc đó?

HT trả lời: Không phải, mà là mình câu sinh nghiệp với Gia Tộc dẫn dắt mình vô trước, rồi cái nghiệp của mình cộng chung vô là nó sinh ra nữa. 

Mình có câu sinh nghiệp, câu sinh như thế nào?

 Thí dụ như, một kiếp nào đó mình với gia đình này nguyện (ở VN người ta có câu thề: Tôi nói sai tôi làm con bà). Thì mình sinh ra với câu sinh nghiệp với cái gia tộc này rồi. Nhiều khi cha mẹ không cầu con mà mình cầu, mình xin vô, mình muốn vô để làm chuyện oan trái hay chuyện báo thù, do ái luyến. Đó là Gia Tộc, rồi mới có cái nghiệp dẫn vô.

 Nên mình đừng có nói là Nghiệp Tộc.

Tôi nguyện tôi gặp bà ở chỗ sướng mà an lành, chứ chỗ khổ tôi không gặp đâu. Đó là Xứ Tộc. Tôi muốn gặp ông ở trên cõi trời chứ tôi không gặp ông ở xứ người đâu. Đó là Xứ Tộc, mình đã nguyện như vậy nên mình mới gặp lại , đó là Xứ Tộc, là môi trường.

Cái Tộc không cũng làm mình mệt rồi, Xứ Tộc mà bộ lạc tộc sống trong bộ lạc này, sống trong môi trường này, sống xứ sở này, sống điều kiện này. "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài."

Sư hỏi lúc nãy, mấy cô đã trả lời Sư. 

- Hiện tại sự sống của mình, đời sống của các cô là cô đang ở trong Tộc nào trong 3 Tộc này?

Thiền sinh trả lời: Cả 3 Tộc có hết.

- Sư biết là cả 3 Tộc có hết, nhưng trong sinh hoạt, trong đời sống của mình là mình bị chi phối cả 3 Tộc, nhưng cái nào bị ám ảnh nhất? Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc?

Có những người sống trong gia đình, nhưng người ta không chịu ảnh hưởng của gia đình, họ sống độc lập, thì ở trong Gia Tộc không ảnh hưởng gì họ, họ sống chủ trong nghiệp họ có, sướng cũng có mà khổ cũng có, giàu cũng có, nghèo cũng có, họ sống độc lập, tuy là họ ở trong Gia Tộc của họ nhưng họ độc lập. 

Điển hình Đức Phật khi Ngài là Bồ Tát Siddhattha , Ngài ở trong hoàng cung Ngài không bị ảnh hưởng của Gia Tộc, Ngài không bị ảnh hưởng của hoàng tộc, Ngài sống độc lập. Đờn ca, sướng hát, lâu đài, mỹ nữ. Ngài sống theo tư duy Nghiệp Tộc của Ngài, không bị Gia Tộc hoàng tộc Ngài chi phối, nên khi Ngài tách ra thì rất là dễ, mà khi Gia Tộc hoàng tộc của Ngài không ảnh hưởng tới Ngài thì Tộc Xứ, cái hoàng cung, cái môi trường Ngài sống cũng không đủ để chi phối Ngài, Ngài đi với nghiệp lực của Ngài, Ngài đi theo hạnh nguyện của Ngài, đi theo con đường Ngài đã tạo dựng ra 23 Tăng Kỳ, Ngài đi tới đi tới mà không bị chi phối.

 Xứ Tộc của Ngài không đủ chi phối, Ngài sống như là tạm thôi, tới thời kỳ chín mùi là Ngài tách ly.

Còn nếu như cô Tịnh Từ nói cô có cả 3 thì cô vô hoàng tộc là cô sống theo hoàng tộc, cô sống trong hoàng cung là cô theo hoàng cung cộng theo cái nghiệp cô có nữa là cô sống như thế. Đó là có cả 3 Tộc.

Người đi xuất gia cũng vậy, khi người ta đã chín muồi xuất gia thì Gia Tộc không giữ họ được, cái Xứ Tộc cái môi trường không giữ họ được, họ đi với ý định của họ. Đó gọi là cắt ái từ thân.

Vẫn có những trường hợp như vậy. Do đó mới có con đường người ta thành Thánh được, tuy sống trong phàm trần vừa có nghiệp, vừa có gia tộc, vừa có môi trường của chính họ ảnh hưởng ở địa phương của họ mà họ vẫn là Thánh được. Vì vậy có câu "Thư trần tắc niệm trần, mà ly trần bất niệm trần." Có những người cư trần mà bất niệm trần, tại vì họ có Nghiệp Chủ.

Cô Diệu Giác 3 Tộc này cô có bị chi phối không ? Từ khi sinh ra cho tới bây giờ ngồi đây thì 3 Tộc này cô có bị chi phối không ? Hay là chỉ có một hoặc hai.

Thiền sinh trả lời: Con thấy bị chi phối, nhưng con lại thấy bị Nghiệp Tộc và  Gia Tộc dẫn dắt mình đi tới Xứ Tộc đó cho nên mình sống theo đó.

Cô Tịnh Từ: Con có 3 cái, và đối với con thì Gia Tộc là cái nặng, còn cái nghiệp thì mình biết nó là nghiệp rồi thì mình chấp nhận để mình sửa đổi, nhưng cái Gia Tộc thì nó nặng nề nó lôi kéo mình

Ba cái có hết, thí dụ như cái Nghiệp nó mạnh mình có thể mình cãi lại Gia Tộc được, mình có thể đổi lại Xứ Tộc mình được, thì cái đó là Nghiệp Tộc mạnh. Nhưng có khi Gia Tộc mạnh rồi, mà có Nghiệp mạnh mình xuất gia không được tại vì gia đình không cho đi. Thì tới khi tu mà đạt thành quả Thánh mà gia đình không cho thì cũng vậy thôi.

 Gia Tộc lớn hơn Nghiệp Tộc, tại vì mình là con nợ, mình thiếu nợ giờ mình trả nợ.

Thì mình không thể trả lời theo bản tánh mình được, mình phải có suy nghĩ, cái suy nghĩ đó là Đại Thiện Tương Ưng Trí. Chẳng hạn như khi Sư hỏi tới mấy cô trả lời kiểu ngập ngừng, phân vân, lưỡng lự chưa xác định là mấy cô chưa dùng Đại Thiện Tuong Ưng Trí sắc bén. Cái đó là thực tập nhưng mà mấy cô không thấy điểm chính để nhìn, mà mấy cô lại nhìn vô điểm trả lời theo ý mình. Bất cứ khi người ta hỏi cái gì mình phải dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí trước. Dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí thì lúc đó cô nhìn ra vấn đề, và chính cái đó cô xử lý vấn đề đó được hoàn hảo hơn. Còn mấy cô trả lời cái kiểu ngập ngừng không xác định hay là trả lời mà không rõ ràng, đầu tiên là mấy cô không quen dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí, thế yếu ở đó. Rồi từ đó trong sinh hoạt, trong đời sống mà bấy lâu nay cho tới bây giờ cô đã tạo ra bao nhiêu cái nghiệp mà không có Đại Thiện Tương Ưng Trí này dẫn cô đi. Nếu có Đại Thiện Tương Ưng Trí nó dẫn đi cái một, đường ngắn lắm, đường kết quả lắm. Còn không có Đại Thiện Tương Ưng Trí thì nó dẫn mình đi xa bao nhiêu lần. Cho dù mấy cô nói Nghiệp Tộc hay Gia Tộc thì mấy cô đã không có Đại Thiện Tương Ưng Trí này, thì đường đó không cắt ngắn được mà nó dài lắm.

Sư chỉ hỏi cái đó, nếu mấy cô không dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí. Sư lập đi lập lại ta làm việc có dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí không ? Nó là chìa khóa vạn năng. Mấy cô lại suy nghĩ trong ba Tộc này mình dùng cái nào, và mấy cô giải quyết theo kiết sử của mình hay triền cái của mình hay tập khí của mình, mấy cô chưa quen sài Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Mấy cô không nói là Đại Thiện Tương Ưng Trí, mà cô nói theo tập khí.

Thiền sinh hỏi: Sư mới nói giống như là câu hỏi bây giờ mình trả lời một trong ba thì cái đó không phải là câu trả lời mà Sư muốn trả lời. Câu trả lời là Đại Thiện Tương Ưng Trí phải xử dụng quen. Thì như vậy con hỏi lại là trong ba trường hợp đó mình sẽ thấy cái nào là Đại Thiện Tương Ưng Trí ?

 HT trả lời: Khi mấy cô đến ba loại Tộc này là nhìn câu chuyện về giòng tộc, cái tông tri, cái gốc gác. Nhưng mình không đi hình thức về cái đó, thì cái chữ "Gotrabhū" là Chuyển Tộc, thì cái này mình phải nói là từ Phàm qua Thánh.

Chủ đề là mình muốn nói tới Gotrabhū mình đang đi, mình sài Đại Thiện Tương Ưng Trí.  Thì khi đi tới Gotrabhū. Mình đang đi từ Pāramī Ba-la-Mật tới 4 tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí đi vô trong Thuận Tùng, Cận Hành, rồi Chuyển Tộc, một Đạo hai Quả, hay là ba Quả tùy theo độn căn hay lợi căn, tới tâm chót là tâm Phản Khán.

Thì Gotrabhū này nó ăn tiếp từ đàng trước là Chuẩn Bị, nếu là người độn căn thì Chuẩn Bị Parikamma rồi đến Thuận Tùng Anuloma, rồi đến Chuyển Tộc Gotrabhū.  Ba cái đó bắt đầu là cô chuyển. Chắc chắn là cô đang chuyển cái Nghiệp, và không bao giờ cô nghĩ Gia Tộc, và không bao giờ cô nghĩ Xứ Tộc.

 Ngay lúc tâm đang đi tới là đang chuyển nghiệp.

Câu thứ hai là Tâm bắt một cảnh thôi, nếu mà mấy cô chuyển nghiệp, lúc tới phần Chuẩn Bị, Thuận Tùng, Cận Hành, Chuyển Tộc, lúc đó cô đang nhìn thấy nghiệp cũ của mình, hay là nghiệp bất thiện của mình, thì lúc bấy giờ Nghiệp là một sợi giây phiền não. 

Cái trạng thái chuyển này phải   Đổi --> Diệt

chụp hình 49.50


---> Gotrabhū (Chuyển Tộc) 

                       Nghiệp

 Do đó, mình không có ưu tư nặng, tôi có Nghiệp, tôi có Gia, tôi có Xứ, đó chỉ là cái phiền não thôi, diệt tắt, sinh rồi diệt, thì mình mới đi qua được.

Người mà nói "số nghèo đi tới đâu cũng nghèo" là vì họ giữ lấy cái đó, họ không chịu thay đổi, họ không chịu chuyển. Mình có nói với họ thì họ cũng không thay đổi, họ khư khư giữ lấy. Đó gọi là kiến chấp. Nếu họ thay đổi thì là kiến giải. Nếu thay đổi thì từ kiến chấp đổi thành kiến giải, thay đổi tri kiến liền.

 Sư hỏi lại. Trong ba Tộc; Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc, mấy cô chuyển cái gì ?

Sư tung ra một cái mà mấy cô rớt vô là mấy cô sai.

Trong ba Tộc này mấy cô chuyển cái gì đứng trước cái Gotrabhū

- Chuyển tri kiến, chuyển kiến chấp thành kiến giải, chứ không Chuyển Tộc.

Nghiệp Tộc là kiến chấp của mình.

Gia Tộc là kiến chấp của mình.

Xứ Tộc cũng là kiến chấp của mình.

Kiến chấp mình không sửa đổi được thì kiến giải mình không có.

 Có một cái thôi.

Bây giờ người ta đưa lên một trong 3 Tộc này cô đang chuyển cái gì ? 

Trả lời là: "Tôi chuyển cái tri kiến của tôi."

 Từ trước tới giờ tôi đã kiến chấp, cái gì tôi cũng đưa kiến chấp của tôi vào. Tôi đã kiến chấp Nghiệp của tôi, tôi kiến chấp Gia Tộc của tôi, tôi kiến chấp Xứ Tộc, cái môi trường tôi, ở chỗ đó không có Phật Pháp, ở đó không có người tu, hoàn cảnh của tôi vậy. Đó là kiến chấp.

 Mình phải chuyển đổi tri kiến của mình.

Thì đầu tiên Gotrabhū sẽ trở thành giá trị. Người mà thay đổi tri kiến là từ phàm phu đi nữa cũng trở thành Thánh. Còn nếu cố chấp cái tri kiến này, cho dù mình ở trong hoàng tộc mình cũng không thành Thánh được.

Nên Đức Phật Ngài nói: "ai sống bên Như Lai, mà không hành theo pháp Như Lai thì cũng như ở xa" là tri kiến. Còn ở xa Như Lai mà hành pháp Như Lai thì người đó sống kế bên Như Lai" là tri kiến cái sự hiểu biết của mình, cái giá trị là ở chỗ đó. Mình không có, mình cứ ôm hoài khư khư, tôi không may mắn, tôi không được ở gần Thầy, tôi không có may mắn ở gần Đức Phật, không ở gần giáo pháp, do đó tôi như vậy vậy, tri kiến cố chấp quá. 

Không nói những điều kiện đó.

Cunda ở gần chùa Kỳ Viên chín năm không bước tới, do tri kiến cố chấp. Chẳng hạn như không ai hơn tui, tui nhất trong đời, giờ có mặt Thánh nhân ở đó cũng không thấy, họ thấy cái ta của họ, họ sống trong bất thiện, sống trong phiền não, mình nhìn vô là thấy liền.

Do đó, khi một tư tưởng nào loạn lên; một là Nghiệp Tộc, hay một tư tưởng nào mình đang tu một Nghiệp Tộc loạn lên, một cái Gia Tộc loạn lên, một cái Xứ Tộc loạn lên hay là văn hóa kiến thức của mình loạn lên, mình có những cái đó nó lợn cợn, mình chỉ đặt nó là một pháp nghịch phiền não và mình chỉ thấy đó là pháp sinh diệt là mình thoát liền. Thánh nhân không còn phiền não, chứ không phải Thánh nhân là không còn Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc. 

Đó chỉ là những phiền não, nó đã đeo mình bao nhiêu kiếp rồi, bao nhiêu sự luân hồi, mà tới giờ mình vẫn còn chưa thay đổi tri kiến, thay đổi kiến chấp của mình thì làm sao mình trở thành Thánh, Gotrabhū

Còn Vodāna Dũ Tịnh là nền tảng Gotrabhū đã có thì nó trong sạch hơn nó Dũ Tịnh nó càng tinh khiết hơn.

Nó chỉ là phiền não, nó cột chân mình lại, nó hệ lụy với mình và mình không thoát ra được.

 Tất cả mọi chuyện gì không thành tựu không thành công đều có cái kiến chấp, chỉ là biện giải (excuse) mà thôi, mà tất cả cái đó chỉ là phiền não thôi, đâu có gì là tốt mà cứ ôm giữ.

 Đức Phật Ngài hiện bày Song Thông (Yamakapātihāriya) trên hư không. Ngài muốn cho mọi người trong thế gian biết có một vị Phật ra đời là có một Phật Tộc, chứ không phải là Nhân Tộc hay là Chủng Tộc. Một sự công bố.

Thành ra Ngài không có đứng trong ba Tộc này. Người mà đổi phàm ra Thánh họ không còn tuyên bố ba Tộc này của kiến chấp khi mà họ chưa tu tập có kết quả. Con gái của ông Cấp Cô Độc đâu có chịu là con, khi bà tới Nhị Quả bà đâu có nói bà là con nữa, không phải là bà vô lễ, bất hiếu hay là bất kỉnh với người cha, nhưng bà qua một cái kiến chấp, cái kiến giải cái tri kiến của bà lệch qua hướng khác.

Gotrabhū không phải là nghĩa của Chuyển Tộc mà Gotrabhū là nghĩa của Đại Thiện Tương Ưng Trí, chi pháp của nó là Đại Thiện Tương Ưng Trí, mà nó là chức năng chuyển. Do đó, nói Gotrabhū là Chuyển Tộc, không phải, mà là chức năng chi pháp Đại Thiện Tương Ưng Trí và nó làm chức vụ đó, nhiệm vụ đó hay là công việc đó thì mới ra được nghĩa và hiểu được ý của nó. 

Nên bây giờ mình phải biết chuẩn bị Đại Thiện Tương Ưng Trí, chứ không phải mình không có gì chuẩn bị hết. 

Tâm chuẩn bị là Đại Thiện Tương Ưng Trí. 

Thuận Tùng Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Cận Hành Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Chuyển Tộc Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Nên mình phải sài Đại Thiện Tương Ưng Trí, dù là hỉ hay là xả tùy, do cái gốc của mình sinh ra là hỉ hay xả thì nó đi theo, thì cái đó mình không bàn, nhưng mình phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Do đó, khi người ta hỏi tâm chuẩn bị là tâm gì ? Đại Thiện Tương Ưng Trí nó sẽ làm tâm chuẩn bị.

Tâm Chuyển Tộc là gì ? Là Đại thiện tương ưng trí nó làm việc chuyển tộc.

Mấy cái đó Sư chỉ nhắc thôi. Tại vì mấy cô nhiều khi nghe nhiều quá, Sư giảng nhiều quá mấy cô không biết cái nào hết.

 Ta sinh ra do Nghiệp của ta, Nghiệp ta dẫn dắt ta theo tới Gia Tộc của ta, Gia Tộc của ta ở trong môi trường Xứ Tộc của ta, ta ở trong xóm đó.

Nên khi mình có viên ngọc mình không dũa mài cho nó sáng thì nó sẽ lu mờ đi. Mình không quen xử dụng Đại Thiện Tương Ưng Trí, mình quen với kiết sử của mình, quen với thói quen của mình. Người ta hỏi cái gì mình trả lời liền chứ mình không quen suy nghĩ ý của câu hỏi đó, trả lời mà không dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Vậy thì khi cô ngồi thiền hay đi pháp hành, đi thiền hành, hay thiền tọa, thì cô có sài Đại Thiện Tương Ưng Trí không ? hay là cô chỉ sài pháp niệm Tứ Niệm Xứ thôi ? 

Người ta nói vậy, thì chắc chắn là mấy cô sẽ giữ chắc niệm, không rời khỏi niệm; Thân, Thọ, Tâm, Pháp, bám chặt không rời xa bốn xứ này, nhưng không sài Đại Thiện Tương Ưng Trí, thì cô không dùng được.

Phải biết thì mình sẽ có kết quả tốt mà không tốn nhiều công sức. Sư dịch kinh sách, Sư đọc kinh sách hay là Sư nói pháp, Sư nhìn các quí cô các quí Phật tử Sư biết cái trạng thái cách xử dụng cái trí mình mới làm được, mới có cảm tính được.

Bây giờ mình đi tiếp.

Khi ta nói tới Nghiệp Tộc, mấy cô trả lời Sư là mấy cô đa phần bị ảnh hưởng Nghiệp Tộc nhiều hơn là Gia Tộc, nhiều hơn Xứ Tộc.  Thì Sư muốn hỏi, khi cô nói tới Nghiệp Tộc, cô biết Nghiệp Tộc đó là loại nào không ? Quá khứ hay hiện tại hay vị lai ? Mình đang làm đây thật ra mấy cô không có hưởng cái gì ở đây, vì là cô đang làm cho vị lai.

Vậy thì mấy cô đang nói là loại Nghiệp Tộc nào, là Nghiệp quá khứ hay là hiện tại ?  Mấy cô không có cách nào mà cô giải đáp được là nghiệp quá khứ hay là hiện tại, vì mấy cô không dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí, mấy cô loay hoay tìm theo kiết sử hay tập khí của cô để trả lời.

Khi cô nói Nghiệp Tộc, thì cô biết nghiệp tộc đó là giòng tộc của nghiệp báo làm cho cô hình thành ra, bây giờ cô bị chi phối, bị ảnh hưởng, cô biết đó là Nghiệp Tộc loại nào không,  thì cô phải đi trở lại Đại Thiện Tương Ưng Trí rồi mới trả lời. Chứ mình không nói đây nghiệp quá khứ, đây là nghiệp hiện tại, không sát định được.

 Người ta hỏi Chuyển Tộc đó biết nghiệp là nghiệp gì không ? Mình không trả lời.

Đại Thiện Tương Ưng Trí sẽ giải đáp cho mình. Khi tâm bắt một cảnh thì nghiệp đó, hành động đó bắt cảnh, nó là một hành động, là một nghiệp hiện tại, mình có trí mình nhìn ra. Thì nghiệp mình đang nói ảnh hưởng của nghiệp hiện tại. Thì nghiệp hiện tại cô đã sài đó, cô biết dùng không, cô có muốn chuyển không, hay là cô đang dùng cái của quá khứ, cô ăn cơm nguội, cô kẹt liền, cô kẹt trong nghiệp tộc khi cô đang có nghiệp hiện tại chứ không phải nghiệp quá khứ.  Nếu có Đại Thiện Tương Ưng Trí là đang có nghiệp hiện tại, mà cô có chuyển không hay là cô dùng lại là cô ăn cơm nguội liền là cái nghiệp của quá khứ.

Do đó, người Đạo Quả, bậc Thánh, phàm, nghe một câu pháp mà họ chuyển được liền là vì Đại Thiện Tương Ưng Trí ngay nghiệp hiện tại chứ không qua Nghiệp Tộc, chuyển liền trong một sát na Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Khi một người nói "cái đó là do Nghiệp Tộc" .

Thì mình hỏi họ có Đại Thiện Tương Ưng Trí chưa ?

Rồi họ nói "chưa", do đó họ mới nói Nghiệp Tộc.

Nhưng nếu họ nói "Có Đại Thiện Tương Ưng Trí".

Thì mình sẽ hỏi tiếp: Nghiệp Tộc này là quá khứ, hiện tại, hay là vị lai ?

Thì cái người mà có Đại Thiện Tương Ưng Trí sẽ nói là nghiệp này là hiện tại ? Họ nói là nghiệp này là hiện tại, tại vì tâm bắt một cảnh. Câu trả lời của họ là Đại Thiện Tương Ưng Trí họ bắt ngay nghiệp hiện tại.

Vậy thì cái người hỏi tiếp: Nghiệp này có chuyển chưa ?

Là mình ra được liền, nếu họ chưa chuyển thì họ trở lại quá khứ, ăn cơm nguội.

 Chỉ có một cái Đại Thiện Tương Ưng Trí làm thay đổi liền, mà chỉ có một cái nhận thức như vậy, còn không thì trở lại quá khứ liền, mà trở lại quá khứ là cái nghiệp cũ.

Nên khi người ta nói tới nghiệp thì người ta nói nghiệp quá khứ và họ sống câu chuyện của họ là kiết sử và triền cái của họ chứ không có Tương Ưng Trí. Họ không dùng Tương Ưng Trí, tại vì họ không sài Tương Ưng Trí và không biết cách sài Tương Ưng Trí, và họ cứ chạy theo và họ trả lời và họ nghĩ rằng là họ có trí rồi. Nhưng thật ra là không có.

Sư nói lại về Nghiệp Tộc.

Sư hỏi: Cô nói cô có Nghiệp Tộc. Cô có Đại Thiện Tương Ưng Trí chưa?

Thì khi Sư nhắc câu đó thì mấy cô nói Nghiệp Tộc này có Đại Thiện Tương Ưng Trí, cô trả lời Nghiệp Tộc.

Sư hỏi, Nghiệp Tộc cô đang nói là Nghiệp Tộc quá khứ, hay Nghiệp Tộc hiện tại, hay Nghiệp Tộc vị lai.

Sư hỏi lại, Nghiệp Tộc cô đang nói là từ quá khứ hay hiện tại, hay vị lai.

Thì cái người mà nói họ có Đại Thiện Tương Ưng Trí đó họ sẽ nói là nghiệp hiện tại.

Thì Sư hỏi tiếp : "có chuyển chưa?" . Nếu mà chưa chuyển thì họ trở lại cái cũ, quá khứ là họ ăn cơm nguội.

Chứ mình nói họ nói hiện tại thì họ không nói quá khứ, họ đã chuyển cái kiến chấp của họ, cái tri kiến của họ, họ qua kiến giải.

Khi mấy cô nói tới Nghiệp Tộc, cô nói cô bị ảnh hưởng bởi Nghiệp Tộc, thì cái người hỏi "cô có Đại Thiện Tương Ưng Trí chưa mà cô trả lời câu đó". Thì người ta nhắc cô thôi. 

Thì cô trả lời "có". Khi cô trả lời Nghiệp Tộc là cô có Đại Thiện Tương Ưng Trí mới trả lời Nghiệp Tộc.

Tiếp theo người ta hỏi: "Thì Nghiệp Tộc mà cô nói với Đại Thiện Tương Ưng Trí mà cô biết đó, nó là quá khứ, hiện tại, hay vị lai. nó thuộc loại nào?

Thì cái người đó họ trả lời là nghiệp hiện tại, tâm bắt một cảnh thôi. 

Thì người ta hỏi: thì nghiệp hiện tại của cô có chuyển chưa ? chuyển cái gì? chuyển tri kiến, chứ không phải quá khứ hiện tại vị lai, nghiệp báo, nghiệp lực.

Thí dụ như cô tới với người bị bệnh, cô tới cô tụng kinh cho người bệnh, thì người ta hỏi khi cô tụng kinh cô có chuyển cho người ta chưa, hay là vẫn còn nguyên, hay là không có thay đổi.

Thì mấy cô trả lời là có chuyển. Làm sao cô biết có chuyển và không có chuyển? Dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí chứ không trả lời theo kiết sử hay theo thói quen.

Tới người bệnh mà cô đọc kinh cầu nguyện cho họ hay cầu an cho họ, là họ có chuyển không ?

Thì mình phải nói là ngay hiện tại, chứ mình không có nói quá khứ được. 

Có chuyển không ?

Có chuyển.

Thì cái chuyển đó là chuyển gì?

Cũng Đại Thiện Tương Ưng Trí giải đáp được.

Vậy thì khi người nào nói tới Nghiệp Tộc, hay người ta nói Nghiệp Chủ, hay nói tới Nghiệp Báo, hay tới Nghiệp Lực, hay Nghiệp Quả. 

Thì mình nói nghiệp này là nghiệp quá khứ, hiện tại, vị lai, loại nào?

 Họ nói nghiệp này là nghiệp quá khứ. Thì không có chuyển gì hết.

Còn họ nói nghiệp hiện tại, họ đang trả lời với mình, họ có chuyển chưa hay vẫn y nguyên vậy, chứ đâu có gì chuyển, là quá khứ, ăn cơm nguội.

Thiền sinh hỏi: bạch Sư, vậy khi mình nói cái nghiệp đó là hiện tại, thì mình mới nói cái nghiệp hiện tại thôi, chưa nói cái tỉnh giác.

HT trả lời: không, ra liền, Tương Ưng Trí biết là ra liền

Thiền sinh: thì ý con nói là có Tương Ưng Trí thì ngay khi nói cái nghiệp hiện tại, tức là họ ở trong cái niệm, họ có niệm, thì con nói là nếu đi theo pháp hành, thì ngay cái họ nói cái nghiệp hiện tại có niệm nhưng họ không có.

Khi dùng chức năng của Đại Thiện Tương Ưng Trí, khi trả lời đó là nghiệp hiện tại, thì Đại Thiện Tương Ưng Trí, đó là một nghiệp lực chứ không phải là một nghiệp mà cô đang nhìn thấy. Đại Thiện Tương Ưng Trí là một nghiệp lực, mà dạng nghiệp lực đó với cái trí của cô làm ra thì nghiệp đó nó hưởng lấy đó là cái nghiệp hiện tại.

Nghiệp thiện, ngay khi Đại Thiện Tương Ưng Trí cô có, thì Đại Thiện Tương Ưng Trí đó là một nghiệp lực hiện tại chứ không phải là cô nói cái nghiệp mà cô đã tạo tác, cái đó là cái tri kiến của cô đã làm cho cô, chứ không phải là nghiệp. Một cái nghiệp lực hiện tại đang chuyển và đã chuyển, mà cái nghiệp lực đó là cái tri kiến.

Nếu cô nói cái kia là nghiệp lực của quá khứ, cơm mới mà nó đã cũ, không có dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí tại vì nghiệp lực hiện tại

Nghiệp Đại Thiện Tương Ưng Trí nó là Nghiệp Lực hiện tại và nó đang có đang chuyển chứ không nói đến nghiệp cũ quá khứ, và vị lai, không nói tới nghiệp đó. Đã rõ, và mấy cô phải biết chính xác như vậy mới được. Còn không có thì mấy cô lập đi lập lại với thói quen mà mình không biết là mình không có Tương Ưng Trí Đại Thiện.

Cái nghiệp này mà mấy cô đang nói có Đại Thiện Tương Ưng Trí, cái nghiệp này là quá khứ, hiện tại, hay là vị lai. Có nghiệp Tương Ưng Trí thì ta có nghiệp hiện tại. Nghiệp hiện tại này có chuyển chưa? Thì mấy cô trả lời là có chuyển. Nó không phải là cái nghiệp nào đã tạo tác, mà đó là Đại Thiện Tương Ưng Trí đang làm việc đó là nó đã chuyển, nó không còn tri kiến của cái nghiệp lực, nghệp báo.

Còn cô nói cái kia nó có phiền não lợn cợn trong đó. 

Cái nghiệp mà cô đang nói với Đại Thiện Tương Ưng Trí là nghiệp đó là của quá khứ, nghiệp đó là thuộc hiện tại, hay nghiệp đó thuộc vị lai.

Còn cô nói nghiệp mà mình đang nói đây là nghiệp có Đại Thiện Tương Ưng Trí đó là nghiệp hiện tại, người ta hỏi có chuyển chưa, trả lời "có chuyển". Thì Đại Thiện Tương Ưng Trí đó là một nghiệp lực của hiện tại với tâm với  cảnh mình đang có, mình không có đi trở lại cái nghiệp của quá khứ.

 Nó cũng ra được. Làm được cái đó thì từ từ nó sẽ hình thành ra không có cái phàm phu tục tử, mà cô có sự gột rửa và không có lợn cợn chút gì trong tâm thức của mình mà phiền não tu chuyển hết.

stainless = không còn ô nhiễm, không còn điểm ô uế nào

The canker ís dípelled = bậc Alahan không còn ô uế nào

canker = VN dịch là lậu hoặc, không phải, 

Những điều nguy hại, những điều nguy hiểm đã được tiêu trừ

Do đó, khi mà mấy cô đứng trước một Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc. v.v.. mà mấy cô còn thấy nó là của mình, thì đó là cô còn đang bị phiền não, cô còn đang lợn cợn bởi phiền não, và phiền não làm mấy cô bị chi phối, ô nhiễm.

Vậy thì trở lại: Nghiệp Tộc mấy cô đang nói là thuộc về quá khứ, thuộc về hiện tại, hay thuộc về vị lai, khi nói Nghiệp Tộc thì người ta hỏi cô có Đại Thiện Tương Ưng Trí trong cái Nghiệp Tộc này chưa, thì mấy cô nói có, thì nghiệp mà cô đang nói đó với Đại Thiện Tương Ưng Trí mà cô biết nó thuộc về quá khứ hay hiện tại, hay vị lai. Thì cô nói tâm bắt một cảnh, Đại Thiện Tương Ưng Trí nó bắt cảnh hiện tại thôi, chứ nó không bắt cảnh quá khứ, thì hồi nãy mình nói nghiệp Đại Thiện Tương Ưng Trí mình có cái nghiệp này là nghiệp hiện tại, người ta hỏi nó có chuyển chưa, mình nói có chuyển, đó là  Chuyển Tộc, một sát na. Nó rất nhanh, mà nếu mà cô không nhanh với cái trí thì mấy cô sống lại trong cái quá khứ.

Cái trí mà không bắt kịp nó thì cái kia nó chen vô liền mà cô không làm kịp và nó lập đi lập lại. Mình bắt ngay hiện tại, hiện tại chỉ là cảnh thôi.

Thiền sinh hỏi: Có nhiều tri kiến nó làm cái gì nó lập đi lập lại

HT trả lời: Không phải tri kiến. Trí tuệ không có tri kiến, trí tuệ chỉ là thấy cảnh thôi, nó không có tri kiến. Trí tuệ giải quyết được cảnh chi pháp, nó là kiến giải.

Mấy cô nắm thật kỹ thì mới ra được.

Trong đời sống hàng ngày của mình, của người Phật tử mà cô không biết cô thường, Sư không nói người đời, người đời chuyện gì cũng ôm hết vô, chuyện thế sự gì cũng ôm hết vô. Mình chỉ nói người Phật tử thôi. Thì trong đời sống hàng ngày những người Phật tử mình có những trăn trở, những ưu tư, những cái lo lắng nghĩ suy, thì mấy cô thấy đó là phiền não không?

Trong khi mà mình bắt vô Đại Thiện Tương Ưng Trí, để mình đi pháp hành Pāramī Ba-la-mật .

Pháp hành Pāramī Ba-la-mật  có 3 bậc:

1. Thập Pāramī Ba-la-mật  

2. Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật  

3. Tam Thập Pāramī Ba-la-mật  

Hàng Thinh Văn là Thập Pāramī Ba-la-mật

Hạng Độc Giác Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật

Hạng Chánh Đẳng Giác Tam Thập Pāramī Ba-la-mật. 

Thì cái này có Đại Thiện Tương Ưng Trí chưa ? Hay là mình làm theo Pāramī Ba-la-mật theo thói quen.

Giờ mình áp dụng vô.

Bậc Thinh Văn là Thập Pāramī Ba-la-mật,  Xả Thí, Trì Giới. 

Còn Độc Giác là Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật. Xả Thí rồi, Xả Thí nữa v.v...

Còn Tam Thập Pāramī Ba-la-mật, bậc Chánh Đẳng Giác Xả Thí rồi, Xả Thí nữa, Xả Thí cao hơn nữa .v..v.. 

Trong tiếng Anh.

Thí dụ như:  Good = Thập Pāramī Ba-la-mật

                     Better = Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật

                     Best = Tam Thập Pāramī Ba-la-mật.

Thế thì, khi  xả thí. Mình nói đầu tiên là Xả Thí Pāramī Ba-la-mật. Mà xả thí của người good là xả thí cái gì.  

Còn xả thí hơn nữa, tốt hơn nữa là Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật.

Còn tốt tận cùng, là Tam Thập Pāramī Ba-la-mật.

Xả thí nào là good, xả thí nào là better, xả thí nào là best.  Đại Thiện Tương Ưng Trí nó sẽ trả lời.

Nói về vật chất, xả thí cái gì mình đã sài rồi mình cho là good, đó là mình diệt được bỏn xẻn, 

Xả thí cái mình đang dùng, đang sài, đang ưa thích mà mình cho là better. 

Còn cái xả thí cái mà mình chưa sài, cái mình trân quí mình đem cho thì đó là the best.  Đó là nói về vật chất.

Từ cái good qua better có chuyển chưa ? Từ better qua best có chuyển chưa ? Do đó, chỉ có một cái Pāramī Ba-la-mật thôi, mà cũng có một cái Đại Thiện Tương Ưng Trí thôi, mà Đức Phật Ngài nói có ba bậc; bậc hạ Pāramī Ba-la-mật, bậc trung Uparāramī Ba-la-mật, bậc thượng Paramattha Pāramī. 

Nhưng thật ra ba bậc đó cho dù là good, better, hay the best đi nữa. Thinh Văn, Độc Giác, hay là Chánh Đẳng Giác đi nữa, tất cả từ Đại Thiện Tương Ưng Trí này là chuyển đổi từ phàm sang Thánh là phải do tri kiến của mình.

1. Đoạn tận tứ khổ thú.

2. Hưởng phước nhân thiên

3. Giải thoát.

Nếu đoạn tận tứ khổ thì quá tốt rồi, tri kiến của cô đã chuyển. Còn bây giờ có làm đi nữa mà cô còn hưởng nhân thiên thì cũng chưa tốt, sanh trở lại còn tạo ra để hưởng. Còn giải thoát là mình không muốn hưởng, mình chỉ muốn giải thoát thôi, thì cái đó là an lành. 

Ba bậc này 1. Đoạn tận tứ khổ thú, 2. Hưởng phước nhân thiên. 3. Giải thoát. Có thay đổi bởi Tương Ưng Trí .

Cũng như vậy, mình cho đồ cũ để diệt bỏn xẻn là good rồi. Cho cái mình đang sài mình cho là better rồi. Cho cái mình chưa từng sài, đồ mình quí, đồ mình trân trọng, mình cho, đó là the best.

Xả thí good là ngoài thân ta

Xả thí better là một phần trong thân ta

Xả thí best là sinh mạng của ta.

Xả thí better một phần trong thân ta; mắt, tai, các bộ phận, một phần. Thí dụ như mình có 2 trái thận, cắt một trái thận cho, cái đó là better

Xả thí best là cho cả sinh mạng của ta. Như Bồ Tát lao xuống hố hy sinh thân mạng của mình để cứu mẹ con con cọp.  Thì tất cả ba giai đoạn mà họ đang hành từ Thinh Văn, Độc Giác, Chánh Đẳng Giác họ đều có Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Khi cô đang hành Pāramī Ba-la-mật, trong pháp hành là đang sài Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Có mấy cách xả thí ?

1. Ly tham

2. Ly sân

3. Ly tham + ly sân

4. Ly tham + ly sân + ly si

5. Ly tham + ly si

6. Ly sân + ly si

Hai cái này số 1 và sô 2, xả thí gì không tham, xả thí gì không sân, có một nhân thôi là hàng Thinh Văn.

Cái thứ 3 ly tham + ly sân là hàng Độc Giác.

Còn cái ly si là bậc Chánh Đẳng Giác, là the best.

 Khi mấy cô làm với tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí là mấy cô ở trong ba cái này thôi.

Còn khi cô làm việc thiện hay Pāramī Ba-la-mật mà không có si thì mấy cô làm trong ba ly tham, ly sân, ly tham + ly sân. Một là ly tham suông, hai là ly sân suông, hay là ly tham + ly sân suông.

Vậy thì trở lại, khi ta hành Pāramī Ba-la-mật trong 10 pháp Pāramī Ba-la-mật mà mấy cô làm Đại Thiện Tương Ưng Trí, tức là trong khi cô làm dù xả thí, trì giới hay là ly dục, hay là trí tuệ, tất cả những pháp Pāramī Ba-la-mật trong 10 pháp mà cô hành có Đại Thiện Tương Ưng Trí luôn luôn mình phải có Ly Si, khi làm không phải không biết ./.

-------------------------------------------------------

NOTES

------------------------------------

8 Tâm Đại Thiện  (Maha-kusala cittas)

đôi thứ nhất

1) Tâm Ðại Thiện, Thọ Hỷ, Tương Ưng Trí, Vô Trợ (somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikam)

2) Tâm Ðại Thiện, Thọ Hỷ, Tương Ưng Trí, Hữu Trợ (somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikam)

đôi thứ hai

3) Tâm Ðại Thiện, Thọ Hỷ, Bất Tương Ưng Trí, Vô Trợ (somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikam)

4) Tâm Ðại Thiện, Thọ Hỷ, Bất Tương Ưng Trí, Hữu Trợ (somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikam)

đôi thứ ba

5) Tâm Ðại Thiện, Thọ Xã, Tương Ưng Trí, Vô Trợ (upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikam)

6) Tâm Ðại Thiện, Thọ Xã, Tương Ưng  Trí, Hữu Trợ (upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikam)

đôi thứ tư

7) Tâm Ðại Thiện, Thọ Xã, Bất Tương Ưng Trí, Vô Trợ (upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikam)

8) Tâm Ðại Thiện, Thọ Xã, Bất Tương Ưng Trí, Hữu Trợ (upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikam)

----------------------------------

Tâm Vodāna Dũ Tịnh trong Lộ trình tâm

Khi một người từ phàm phu đắc chứng quả vị Thánh đầu tiên (Sơ Đạo - Nhập Lưu), sát-na tâm bứt phá đó được gọi là tâm Chuyển Tộc (Gotrabhu) vì nó cắt đứt dòng giống phàm để bước vào dòng Thánh.

Tuy nhiên, từ tầng Thánh thứ hai trở đi, hành giả đã là bậc Thánh sẵn rồi, không còn dòng giống phàm để chuyển nữa. Do đó, trong các lộ trình đắc đạo tiếp theo, vị trí của tâm Chuyển Tộc được thay thế hoàn toàn bằng tâm Dũ Tịnh (Vodāna).

Cụ thể, lộ trình đắc 3 Đạo cao hơn diễn ra như sau

:... → Thuận thứ (Anuloma) → Dũ Tịnh (Vodāna) → Đạo tâm (Nhị Đạo / Tam Đạo / Tứ Đạo) → Quả tâm.

Ý nghĩa của tâm Dũ Tịnh

Vodāna  có nghĩa là "làm cho sạch sẽ", "thanh lọc" hoặc "tẩy tịnh".

Sát-na tâm này lấy Niết-bàn làm đối tượng, thực hiện nhiệm vụ gột rửa các tùy miên phiền não còn sót lại ở tầng thấp, làm cho tâm thức trở nên cực kỳ thuần khiết, tạo điều kiện tối ưu để Nhị Đạo (Sự Hàm Đạo), Tam Đạo (A Na Hàm Đạo), hoặc Tứ Đạo (A La Hán Đạo) lập tức xuất hiện.

Giống như tâm Chuyển Tộc, tâm Dũ Tịnh thực chất là một loại Tâm Đại Thiện Dục Giới Hợp Trí (đối với bậc Hữu học) đảm nhận chức năng đổng lực chuyển tiếp.

-----------------------------------

MƯỜI SÁU  TUỆ MINH SÁT - 16 Tuệ Minh Sát (Vipassanāñāṇa)

1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc.

2. Paccayapariggaha ñāṇa: Tuệ phân biện nhân duyên.

3. Sammasana ñāṇa: Tuệ thấu đạt, nhận thức danh-sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā).

4. Udayabbaya ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). Tuệ sanh diệt.

5. Bhaṅga ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc. Tuệ diệt.

6. Bhaya ñāṇa: Tuệ kinh sợ.

7. Ādīnava ñāṇa: Tuệ quán chiếu hiểm họa, tức quán chiếu trạng thái nguy hiểm của các hành.

8. Nibbidā ñāṇa: Tuệ quán chiếu tình trạng chán nản.

9. Muñcitukamyatā ñāṇa: Tuệ muốn giải thoát.

10. Paṭisaṅkhā ñāṇa: Tuệ suy tư.

10. Saṅkhārupekkhā ñāṇa: Tuệ xả hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các hành.

12. Saccānulomika ñāṇa: Tuệ thuận thứ (thuận theo thực tế, tức thuận theo Tứ Diệu Ðế).

13. Gotrabhū ñāṇa: Tuệ chuyển tánh, vào lúc "chuyển thay dòng dõi" (tức từ phàm trở nên Thánh).

14. Magga ñāṇa: Ðạo tuệ.

15. Phala ñāṇa: Quả tuệ.

16. Paccavekkhaṇa ñāṇa: Tuệ ôn duyệt, tuệ phản khán.

-------------------------------------

paṭighāta : Theo nghĩa đạo đức, thường biểu thị sự thù hằn, ác cảm hay sân hận, nó có nghĩa là: sự ghê tởm, sự oán giận, sự phẫn nộ, sự tức giận, paṭighāta : Sự va chạm, sự dội lại, sự đối kháng hoặc sự kháng cự vật lý / tâm lý. paṭighāta, còn ám chỉ sự bất bình thầm kín, sự bực dọc tiềm ẩn hhoawjc xu hướng dễ nổi giận.và là từ đồng nghĩa của byāpāda, ác ý, sân hận

-------------------------


Saturday, September 5, 2026

085 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 16 tháng 12, 2023

 085 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 16 tháng 12, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 085 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

THE GREAT CHRONICLE OF BUDDHAS

BIÊN NIÊN SỬ CỦA CHƯ PHẬT

VOLUME ONE - PART 1

TẬP MỘT - PHẦN 1

Mở trang 'Tác Giả'. Từ trang 5 cho đến trang 13. Tóm tắc:

Tác giả, là Đại Trưởng Lão Bhaddanta Vicittasārābhivaṃsa, Ngài được biết đến với tên gọi một cách phổ thông là Đại Trưởng Lão Tam Tạng Thục Thủ Mingun, sinh Ngày 11 tháng Mười Một, Năm 1911 trong ngôi làng Thaibyuwa.  Vào lúc tuổi lên tám,  Ngài được gửi đến Đại Trưởng Lão U Sobhita của Tu Viện Mingyaung, Myingyan, để bắt đầu học các nguyên lý cơ bản của Phật Giáo.  Khi được mười tuổi, Ngài thọ Sa Di Giới bởi cùng một vị Đại Trưởng Lão.  Mười năm sau, nhằm tăng tiến cho việc học, Ngài đã đến Tu Viện Dhammanāda, một nơi tách biệt của các bậc Thánh nhân, tại Mingun.  Vào năm 1930, Ngài đã được thọ Đại Giới, những nhà bảo trợ cho Ngài là Bà Dhammacārī, một vị Tu Nữ tài danh và uyên bác của thành phố Mingun, là tác giả của Bộ Phụ Chú Giải Chân Ngôn (Saccavādī Tikā), và Ngài U Thwin, là một nhà từ thiện giàu có của thành phố Yangon.  Kể từ đó, Bà Dhammacārī trở thành người Mẹ tinh thần và Ngài U Thwin là người Cha bảo hộ cho đời sống tu tập của Ngài.  Vào năm 1937, khi vị Đại Trưởng Lão Đệ Nhất của Tu Viện Dhammanāda, là vị Thầy Tế Độ cho việc xuất gia của Ngài qua đời, Ngài đã phải đảm trách ngôi Tu Viện. (Trang 6)

-------------------

Nên quí Phật tử phải hiểu là, Ngài Mingun này Ngài trải qua những khóa học của trường lớp trong chùa của Giáo Hội Ngài đều đỗ thủ khoa. Ngài là người đầu tiên học 16,000 trang, một kỳ thi vô cùng khó khăn, chỉ có vài thí sinh đảm đương nổi và Ngài đỗ thủ khoa Pháp Sư Pháp Học Thịnh Vượng Ngài đạt được hết. (Trang 7)

---------------------

Ở bên Ấn Độ người ta kính phục cái trí tuệ của Ngài.

Kết tập Tam Tạng trên thế giới có 6 lần kết tập ; Từ kết tập Tam Tạng lần thứ nhất sau 3 tháng Đức Phật viên tịch tại thạch động với 500 vị Alahan cho tới kết tập Tam Tạng lần thứ 6 tại Miến Điện vào năm 1954.  kết tập trong vòng 2 năm, đọc mỗi ngày, rồi ăn uống ngủ nghỉ, với hơn trăm ngàn nhà Sư tham gia ở trong Thạch Động, và quy luật là phải thuộc lòng Tam Tạng mới được. Do đó ngày hôm nay trên thế giới chưa ai dám làm, chỉ có Miến Điện làm được. 

Ở Miến Điện họ có kỹ thuật  như là tốc ký, họ ghi notes, họ đọc vào đó là họ biết và họ trả lời được hết. Thì Ngài Mingun lập ra cái đó. Nên cho tới ngày nay Thái Lan họ có tiền, nhưng không có người thuộc lòng Tam Tạng. Thế giới không chấp nhận cho Thái Lan đứng làm kết tập Tam Tạng lần thứ 7, còn bên Miến Điện này có, bây giờ có 12 vị, và vị thứ 11 mới chết vì bị bệnh ung thư. 

Thì chưa làm được là cần có 2 điều; thứ nhất là người hỏi, và người đáp. Vị Đáp Vấn Viên là "Người trả  lời những câu hỏi trong cả ba phần của Giáo Điển".  Bàn Vấn Viên là "Người nêu lên câu hỏi". Chỉ có thời của Ngài Mahāsi Ngài là Bàn Vấn Viên vì Ngài là người nêu lên câu hỏi, còn Đáp Vấn Viên là người trả lời là Ngài Mingun, 2 vị này là thủ khoa. Mà người ta đồn rỉ tai chứ không xác nhận là Ngài Mahāsi là Alahan thì mới làm được.  Trong khi trả lời những câu hỏi, tác giả (Ngài Mingun) đã đóng vai trò kết hợp của Trưởng Lão Upāli và Trưởng Lão Ananda, là những vị đã trả lời những câu hỏi lần lượt trong từng mỗi phần về Giới Luật và Giáo Pháp một cách tương ứng, tại Hội Nghị lần thứ nhất được chủ trì do bởi Đại Trưởng Lão Kassapa. (trang 9)

Rồi trong Hội Đồng Giám Khảo hay Hội Đồng Kết Tập Tam Tạng phải có một vị Trưởng Lão, kỳ kết tập Tam Tạng thứ 6 có vị Trưởng Lão 96 tuổi, người ta khiêng Ngài ra bằng cái kiệu, đặt nằm trên đỉnh núi có thạch động, khi đọc sai thì Ngài bấm chuông liền và phải đọc lại. Thái Lan chưa đủ.

Khi đọc xong, kết tập Tam Tạng 2 năm xong rồi là xác nhận bộ Tam Tạng được hiệu đính lại, sửa sai, điều chỉnh lại hết thì Giáo Hội theo lời yêu cầu của Thủ Tướng U Nu, là vị  Chánh Phủ của nước Miến Điện U Nu, ông mới thỉnh cầu Ngài Mingun vô trong ban quản lý của Giáo Hội, giữ chức Tổng Thư Ký, chứ chưa được là Tăng Thống.

Bộ Chủng Tộc Chư Phật, bây giờ đổi lại là Hệ Tộc Chư Phật, được đưa vô trong phần Tiểu Bộ Kinh, trong bộ của bà Elizabeth mà mình Gia Tộc nói là thuộc Tỳ Đáo Giả - Người đến sau. Tiểu Bộ Hệ Thống Chư Phật nằm trong Tiểu Bộ Kinh là đến sau chót của bộ Tiểu Bộ Kinh là sau đợt kết tập Tam Tạng. Tiểu Bộ Hệ Thống Chư Phật này mới được nằm trong Tiểu Bộ Kinh, thuộc về Kinh Tạng Pali, là quyển sau chót của Tiểu Bộ Kinh.

Ngài Mingun làm được 9 quyển, sau tách ra thành 10 quyển nhỏ, cuộc đời của Ngài Mingun học hết Tam Tạng viết ra được nguyên bộ Biên Niên Sử.

Ngài được mời vô làm Tổng Thư Ký của Ủy Ban Chánh Phủ Lãnh Đạo Đại Tăng Đoàn, đảm đương Tam Tạng.  Lúc thỉnh Ngài xong rồi thì đưa Ngài về Mandalay. Hành chánh là ở Yangon, nhưng nơi đào tạo, người học về Tam Tạng thì phải về Mandalay để trau luyện học về Tam Tạng. Và những người đó được học từ tuổi nhỏ cho tới khi lớn, chứ không phải là vào học ngang.

Hồi Sư qua Sư hỏi cho tôi học Tam Tạng được không, thì ông trả lời là ông hóa nhỏ lại thì tôi mới chỉ được.

Cuộc đời của Ngài Mingun có một công đức nữa là Ngài xây bệnh viện Jīvitadāna Sāsana Specialist Hospital là của Ngài Mingun, bệnh viện ở tại Yangon, Ngài lập 2 cái; một cái ở Yangon mà mình tới cúng dường, một cái ở Mandalay. 

Ngài Mingun không phải tên của Ngài là Mingun, nhưng Mingun là làng nơi Ngài sinh ra. Như Sư ở Saigon thì gọi Sư là Saya Saigon, chứ không kêu tên Pasādo.  Tên của Ngài Mingun là Vicittasārā, tên của Ngài Mahāsi là Sobhana, Mahāsi chỉ là pháp hiệu.

Ngài lập ra bệnh viện Jīvitadāna một bệnh viện chuyên môn cho Chư Tỳ Khưu tại Mandalay, về sau mở ở Yangon  Một bệnh viện chuyên môn có một trăm giường bệnh với tất cả những phương tiện và những trang thiết bị cho một trung tâm y tế hiện đại và đã được chính thức khai mạc dưới sự bảo trở của Ngài vào Ngày 18 Tháng Tám Năm 1990.

Cuộc đời của Ngài Mingun, từ khi Ngài ra đời đến 7 tuổi, 8 tuổi vô chùa cho tới ngày mất Ngài chỉ cống hiến cho Phật Pháp, sống trong sạch. Nhưng cuối đời của Ngài trở về làng Mingun, mỗi buổi chiều Ngài đi lấy nước, Ngài đội bình nước trên đầu đem về phòng của Ngài, Ngài sống một mình không có người hầu, vào buổi chiều khoảng bốn, năm giờ, Ngài ra ngồi với mấy ông Sadi và Ngài giảng kinh cho mấy ông Sadi nghe.  Ngài bỏ hết những chức vụ của Giáo Hội và Ngài rút về làng Mingun của Ngài, Ngài sống cho mình cuối đời, thứ hai là Ngài ra sinh hoạt với mấy ông Sư nhỏ, khi mấy ông Sư nhỏ nói cái gì là Ngài nghe hết.

Trang 16.

Ngài giữ chức vụ Chủ Tịch của Tổ Chức Giáo Hội Tam Tạng Kinh Điển, Ngài phiên dịch sáu Tập trong tám quyển sác sang Anh Ngữ của bộ kinh Biên Niên Sử của Chư Phật. Thì ông tiến Sĩ bệnh viện chủ tịch nhờ Ngài đảm nhiệm đứng ra làm hội Tam Tạng. Ngài viết bộ Biên Niên Sử.

Thứ hai là, quí Phật tử nhớ:

Vị Thiên Giác Hữu Tình (Bồ Tát) Setaketu  tử cung Trời đi xuống vào trong thai bào của Mẹ là Hoàng Hậu Maya. Ngài giải thích từ kiếp chót khi Ngài được thọ ký là Bồ Tát Sumedha, mà người thọ ký cho Ngài là Đức Phật Dipankara (Phật Nhiên Đăng).

Có tám mươi chín vị Phật.

Trong thời gian 16 A Tăng Kỳ, thời của mình, mà mỗi một vị Phật gặp Ngài nói "ông là Bồ Tát", nhưng chưa là Niyata (xác định).

Nên Đức Phật Gotama, Ngài có phước, là mỗi kiếp Ngài ra đời mà hành Bodhisatta của Ngài đều trong thời  có Đức Phật.

Thí dụ như Sư, giờ Sư nguyện thành Phật Chánh Đẳng Giác, nhưng mà Sư ra đời không cùng thời với Đức Phật Gotama. 

Mà thời của Đức Phật Gotama là Phật Ajita tức là Đức Phật Di Lặc - Metteyya trong bộ Anāgatavaṃsa - tức là Vị Lai Hệ Tộc (Vi Lai Sử) thì thọ ký Ngài lúc đó Ngài là vị tỳ khưu tên Ajita là tiền thân của Đức Phật Di Lặc - Metteyya sau này. 

Gotama Ngài ra đời là có mỗi vị Phật, nhưng chưa được thọ ký, hay là chưa được dự ngôn, mà các vị đều xác nhận vị này sẽ thành tựu.

Trong bộ Vị Lai Sử, Ngài nói là mỗi vị Phật ra đều thọ ký cho Gotama 

Sư viết lại là có 24 vị Phật, khi đó Bồ Tát làm cái gì, cúng dường Ngài gì Sư có hết. Cái đó mới làm cho mình xác tính được, tức là niềm tin mình chính xác, chứ mình không có gì hồ nghi hay thắc mắc.

Ngài  là Bồ Tát Setaketu. Khi Ngài được xuống để trở thành vị gọi là Bồ Tát thì Ngài kể lại cho các vị đệ tử của Ngài (trang 16) là tập thứ nhất là Ngài Mingun nói về Bồ Tát Sumedha

Tập thứ nhất với hai quyển sách, quyển thứ nhất là cống hiến đến câu chuyện của Bồ Tát Sumedha và Sự Chú Minh hoặc "Sự Giải Trình" cho câu chuyện đó. Qua tập thứ hai với những khía cạnh khác nhau của Pháp Độ (Ba La Mật). "Sự Toàn Thiện", phải được hoàn thành do bởi những vị Giác Hữu Tình (Bồ Tát) hoặc Chu Phật Vị Lai, và những câu chuyện về đời sống của hai mươi bốn vị Phật, kể từ Đức Phật Dipankara (Nhiên Đăng) cho tới Đức Phật Kassapa (Ca Diếp)

Tập thứ hai bắt đầu được nói đến Phật Bảo, Bảo Vật của Đức Phật, và mở ra với câu chuyện của Đức Phật Gotama kể từ đời sống của vị Thiên Giác Hữu Tình (Bồ Tát) Setaketu đi xuống tới việc khải thuyết bài Kinh Thành Vách và Sự Chú Minh cho câu chuyện đó.

Tập thứ ba vẫn tiếp tục nói đến "Bảo Vật của Đức Phật" và kể thêm những câu chuyện được bắt đầu với câu chuyện của Upatissa và Kolita, là những vị mà sau này được trở thành hai vị Đệ Tử Trưởng của Đức Phật, Sāriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallāna (Mục Kiền Liên), và kết thúc với câu chuyện kình cải của Chư Tăng ở nước Kosambi.

Tức là 9 tập mà Ngài Mingun viết ra Ngài phân tích thành tập I, tập II, tập III là mình sẽ có quá trình tu tập.

Tập thứ tư cũng vẫn là Phật Bảo được bắt đầu với chuyến viếng thăm của Đức Phật tới làng Balakālona và kết thúc với việc thực thi quy y Tam Bảo của Vua Ājātasattu (A Xà Thế).

Tập thứ năm, nửa phần đầu của Tập thứ năm mở ra với việc kết thúc Phật Bảo qua câu chuyện của hai vợ chồng Bà La Môn trong kiếp quá khứ đã là Song Thân của Đức Phật và kết thúc với việc đặt Trụ Đồng của Hoàng Đế Asoka (A Dục). Nửa phần thứ hai của Tập đó đã cống hiến về "Bảo Vật của Giáo Pháp" (Pháp Bảo) trong các chủ đề khác nhau được biến thiên từ chín Ân Đức của Đức Phật cho đến bài Kinh Tam Bảo.

Tập thứ sáu liên quan đến Bảo Vật của Tăng Đoàn (Tăng Bảo) được tạo thành hai quyển sách, cũng như Tập thứ nhất.  Quyển sách thứ nhất được nói đến những câu chuyện về đời sống của những nam môn đệ hàng đầu của Đức Phật, như là Kondañña (Kiều Trần Như),  Sāriputta (Xá Lợi Phất), Moggallāna (Mục Kiền Liên) v.v... trong khi đó, quyển sách thứ hai nói đến những nữ môn đệ, như là Mahā Pajāpati Gotami, Khemā, Uppalavannā, v.v.. và những cư sĩ tại gia quan trọng như là Tapussa và Bhallika, Anathapindika (Cấp Cô Độc), Citta và v.v..

 Thì bộ này sẽ được đọc theo tuần tự, Sư sẽ làm ra theo hệ thống đó.

Ngài Mingun trình bày: "tôi sẽ viết ra bộ Biên Niên Sử gồm chín Tập, mỗi tập nội dung như thế nào". Ngài nói với Hiệp hội quản lý về Tam Tạng. (Trang 20) 

Thí dụ như Mười bài kinh về Trường Bộ Kinh. 

"Kim Chỉ Nam Tam Tạng" và bốn bản dịch về "Mười bài Kinh từ nơi Trường Bộ Kinh". 

 Trong hệ thống Chư Phật Hệ Tộc Chư Phật thì phải nhớ là bà Elizabeth trong Chủ tịch hội Pali Text Society dịch kinh chỉ dựa trên hai bộ, một bộ của Tích Lan ngữ và một bộ Miến Điện của Miến Điện ngữ, mà đa phần là dựa Kinh Bộ của Tích Lan nhiều hơn của Miến Điện. Nhưng bộ Miến Điện cũng là khả thi cũng đáng tin, do vậy họ dựa theo đó để dịch. Sư không có bộ Tích Lan ngữ, Sư có bộ của Miến Điện ngữ là từ Ngài Jantila đưa cho Sư.

Theo hệ thống của Miến Điện, chỗ đào tạo và chỗ phát hành ra, chỗ phát hành ra, thì chỉ có hai nơi là Yangon và Mandalay. Yangon là nơi chấp hành, điều hành, và giải quyết, hay phân phối. Còn nơi đào tạo là Mandalay. Sư có tới nơi mà đào tạo các vị học Tam Tạng ở Mandalay tham quan và cúng dường.  

Bây giờ mình qua phần Lời Mở Đầu của Dịch Giả, trang 24.

Người dịch giả này là U Ko Lay, người này dịch từ tiếng Miến Điện qua tiếng Anh. Còn Ngài Mingun là tác giả viết bộ Biên Niên Sử này là từ Pali, Tích Lan qua Miến ngữ. Tất cả gốc tích Phật Giáo cổ xưa đều tại Tích Lan. Chỉ có duy nhất là Ngài Narada  viết  Abhidhammattha Sangha là Chín Chương Tổng Hợp Nội Dung Vô Tỷ Pháp, Ngài là thượng thủ ở bên Tích Lan, còn các quí Sư bây giờ không có Abhidhamma, chỉ có Nikaya, mất hết, mà chính người Anh, người ngoại quốc họ nhìn nhận rằng họ muốn nghiên cứu về Phật Giáo phải gốc từ Tích Lan.

Nên mình thấy vậy là mình biết rằng là vận mệnh của Phật Pháp nó xuống mà theo cấp độ nào và ở góc độ nào, ở địa phương nào, và ở tại nơi đâu chính mình cũng phải biết. 

Cũng như giữa mình ở ngoại quốc với bên VN thì coi như mình còn, còn ở tại VN coi như không có. Tại vì bên VN bây giờ coi như xâm nhập của người Tàu. Nên bây giờ mình bị kẹt, mình phải ráng chấn chỉnh.

Phật Pháp là bậc thang, khi nào thịnh vượng thì nằm ngang, không có người lo thì nó xuống, rồi khi có người chấn chỉnh phục vụ thì nó nằm ngang. Bây giờ mình là năm 2566 - 2567, là hơn nửa đường của 2500. 

Mà câu nghi vấn cho tới ngày hôm nay không có ai dám giải quyết, không có ai dám trả lời là khi lập giáo đoàn Ni là giáo pháp của Như Lai phải mất phân nửa. Mình nguyện là 5,000 năm khi bà Gotami xin thì Đức Phật Ngài nói với Ananda phải nên biết và nói cho hậu thế là khi có giáo đoàn ni hiện hữu ở trong giáo đoàn tăng thì giáo pháp Như Lai còn tồn tại một nửa thôi. Thì bây giờ mình tính như vậy là còn 2565, coi như là từ 2500 đã mất rồi. Mình nói như vậy nhưng mà mình vẫn cãi là không mất, mình còn Tam Tạng mà, vẫn còn người học thuộc lòng Tam Tạng, còn trì bái Tam Tạng. Thì mình cố gắng nói vậy thôi, chứ thật ra coi như là hết rồi, khi mà phái đoàn ni lập ra sau 5 năm Đức Phật Ngài trở về độ cho thân bằng quyến thuộc Ngài thì các bà xin xuất gia, thì giáo pháp chỉ còn 2500 năm.

Ông U Ko Lay cố gắng làm bộ Bộ Biên Niên Sử này. Tại vì Phật Giáo cổ xưa là họ muốn dựa trên bộ Biên Niên Sử này. Chính do đó khi Sư dịch bộ  Paṭṭhāṇa là pháp hành. Tất cả các bộ Paṭṭhāṇa mà Sư đang viết là toàn bộ là Pháp Hành, mà cốt lõi của Pháp Hành của PaṭṭhāṇaLiên Quan Tương Sinh Paṭiccasamuppāda. Nhưng khi có pháp hành thì biết được duyên sinh duyên hệ kết hợp nhau 24 duyên do 12 móc xích, vô minh duyên hành bởi nhân duyên, hành duyên thức bởi nhân duyên, thức duyên danh sắc do nhân duyên, thì nó nằm ở trong Pāramī  (Ba-la-mật)  của Pháp Hành mình tu giải thoát.

Do đó, qua tới quyển thứ ba Paṭṭhāṇa (quyển màu xanh) thì Sư bắt đầu dừng lại, nó còn hai quyển nữa, thứ bốn, thứ năm là xong hết bộ Paṭṭhāṇa 5 quyển về Pháp Hành về Liên Quan Tương Sinh Paṭiccasamuppāda, đó là cốt lõi. Thì Sư phải tiếp qua bộ Biên Niên Sử. Tại vì các quí Phật tử phải đi đôi giữa Pháp Hành Pāramī  (Ba-la-mật)  đi đôi giữa Pháp Hành Paṭṭhāṇa mới an toàn, mà trong các Nikaya không có nói.

Nên khi học Nikaya là mới có tuệ văn thôi, và trong tuệ văn có tuệ tư của tuệ văn.

Còn khi học Paṭṭhāṇa và học Pāramī  (Ba-la-mật)  thì có tuệ văn, tuệ tư, tuệ tu của Pāramī  (Ba-la-mật)   của Paṭṭhāṇa.

Khi Sư xong phần Biên Niên Sử Chư Phật, Hệ Tộc Chư Phật có 3 quyển, Buddhavamsa (Hệ Tộc Chư Phật - Phật Sử):  Mahavamsa (Đại Hệ Tộc) , Culavamsa, (Tiểu Hệ Tộc) rồi Anāgatavaṃsa (Vị Lai Hệ Tộc). Ba quyển đó kết hợp chung lại ra bộ Hệ Tộc Chư Phật; Đại Hệ Tộc, Tiểu Hệ Tộc, và Vị Lai Hệ Tộc tới thời Đức Phật Di Lặc - Metteyya. Sư cố gắng, Sư tin rằng Sư làm được đủ 850 trang. Thì Sư trở lại Paṭṭhāṇa bốn năm.

Trong cái bốn năm, Paṭṭhāṇa IV, Paṭṭhāṇa V, là phần gọi là Tam Đề với  Nhị Đề, phần thứ V là Nhị Đề với Tam Đề, kết hợp lại là Nhị Đề với Nhị Đề, thì cái đó xoáy trong Pāramī  (Ba-la-mật), cái đó là cái key.

 (trang 20) 

  Hiệp hội đã xuất bản quyển sách của Ông ta về "Kim Chỉ Nam Tam Tạng" và bốn bản dịch của Ông ta về "Mười bài Kinh từ nơi Trường Bộ Kinh". Những bản dịch khác còn lại của Ông ta kể từ Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Kinh và Tạng Luật phần Đại Phẩm sẽ được xuất bản trong khóa học. 

----------------------

Trong đó có bài kinh Đại Niệm Xứ là Pháp Hành. Do đó khi mình đọc mà không hiểu mấu chốt đó mà coi đó là những công việc của họ làm và họ kể ra cho mình nghe thôi. Thật ra thì không phải, họ có tác ý mà mình không hiểu. Cầm quyển sách về đọc thì biết công trình của ông này làm, ông kia làm vậy thôi, chứ mình không hiểu tác ý hay dụng công của họ.

Trang 28:

Quyển sách này là bản dịch Anh ngữ hoàn chỉnh cùng với những chú thích và các lời bình luận của Phần đầu tiên thuộc Tập thứ nhất.  Ở phần này, hiện bày sự nỡ lực chánh yếu về văn học của tác giả cho Tập này.

--------------------------------------

Nên Quyển sách này là bản dịch Anh ngữ hoàn chỉnh cùng với những chú thích và các lời bình luận của Phần đầu tiên thuộc Tập thứ nhất.

Tức là từ trang 1 cho tới trang 29 thì coi như là những công lao, những công đức mà tất cả đều bỏ trí óc trí não làm ra bộ sách này, từ tăng đến tục, từ người xuất gia đến người tại thế, từ Ngài Mingun cho tới ông U Ko Lay, ông U Tin Lwin, họ hợp tác nhau, rồi chính phủ là ông Wunna, đứng ra làm, họ tổ chức chặt chẽ hôm nay mình mới có bộ sách này để dùng.

Trang 30.

Lời giới thiệu của tác giả.

Tác giả là Ngài Mingun

Trang 59

Từ trang 30 đến trang 59 là 29 trang, Ngài Mingun kể phần kế hoạch của Ngài viết bộ này. Nên phần Lời Giới Thiệu của Tác Giả là lời giới thiệu của Ngài Mingun.

Đầu tiên là với các quí cô cũng vậy, khi mình giảng dạy hay mình viết sách, hay mình đọc kinh thì luôn luôn đảnh lễ Chư Phật. Mình NAMO BUDDHĀYA cũng là đảnh lễ 5 vị Phật của quả địa cầu này. Ở bên Nam Vang, Cambot họ nói Na Mo Bud Dha Ya, đó là năm âm, năm chữ, ở bên Nam Vang họ đốt 5 cây nhang, tượng trưng cho năm vị Phật ở trong quả địa cầu này là:

1. Đức Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha)

2. Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni (Koṇāgamana)

3. Đức Phật Ca Diếp (Kassapa)

4. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Gotama / Shakyamuni)

5. Đức Phật Di Lặc (Mettaya)

Bây giờ mình đã trải qua ba vị Phật quá khứ, một hiện tại và một vị lai. Ba vị quá khứ là Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa qua rồi. Bây giờ thời này là thời Gotama, không dùng Shakyamuni, tại vì chữ muni nghĩa là tu sĩ Shakyamuni nghĩa là giòng Thích Ca, hay là giòng tộc Shakya. Nhưng tên của Ngài, tên vị Phật cho thời này, giáo pháp này là Gotama, phải xác định là Gotama, chứ không được nói là Đức Phật Thích Ca. 

 Đức Phật quá khứ Kakusandha, Koṇāgamana,  Kassapa. Phật hiện tại là Gotama, chứ không phải Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mình nói không đúng và mình hiểu không đúng. Mâu Ni tiếng Pali là Muni là tu sĩ, Shakya là Thích Ca là giòng tộc của Ngài, là thuộc về Sát Đế Lỵ. Tên của Ngài là Gotama.

Sau này, quyển Hệ Tộc Chư Phật, chính bà Elizabeth nói Đức Phật Gotama, chứ bà không nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Mấy cô phải sửa lại cho chính xác.

Khi một vị làm tác phẩm kinh sách là phải đảnh lễ Đức Phật. Như người dịch giả (trang 24), ông cũng phải đảnh lễ Phật.

Mấy câu này Sư sửa lại hết, nên bộ Biên Niên Sử này mấy cô sẽ có một bộ hoàn hảo. Người ta muốn mở đầu dịch họ cũng phải đảnh lễ Phật. Rồi Ngài Tác Giả cũng phải đảnh lễ Phật. Cái đó là truyền thống của người con Đức Phật.

Như trước khi mình bắt đầu buổi học mình cũng đảnh lễ Phật 

Ngài Mingun nói về Đức Phật trong bộ này (trang 30) :

Đức Phật, Ngài là bậc đã hội phúc duyên với bốn điều của Chánh Tinh Tấn (1), Ngài là bậc tối thượng giữa hàng Nhân Loại và cao cả hơn hàng Chư Thiên cùng Chư Phạm Thiên, và như thế, Ngài là bậc Chủ Tể của Chúng Sanh ở trong Tam Giới này !  Làm thế nào chúng con hiểu được sự quyết tâm của Ngài để thành đạt Quả vị Phật vinh hiển cao quý, mà nó đã lan tỏa cùng khắp cả vũ trụ, trải dài từ lãnh địa tận cùng của sự cùng cực khổ đau và cho đến lãnh địa tột đỉnh của Chư Phạm Thiên.  Kể từ khi Tâm thức của Ngài vừa khởi lên ý hướng để chứng đắc vòng hoa nguyệt quế tối thượng của Sự Hoàn Toàn Tự Giác Ngộ, vượt trội hơn hẳn cả Sự Giác Ngộ của vị Độc Giác Phật và Sự Giác Ngộ của bậc Thinh Văn Giác ?"

Ngài chỉ là Chánh Tinh Tấn cho đến ngày Ngài đắc đạo quả.  Tuy nhiên không phải Ngài chỉ có một cái Tinh Tấn Ba-la-mật, mình phải học hết mười pháp mà Ngài cũng phải học hết mười pháp, rồi mình cũng biết được hết mười pháp Ngài dùng lúc nào, xử dụng lúc nào, và mỗi công dụng pháp của Ngài dùng gồm có bao nhiêu pháp. Thí dụ như, Ngài nói Ngài coi như là hạnh tinh tấn, thì trong tinh tấn này thì có bốn là Tứ Chánh Cần;

(1) Chánh Tinh Tấn (Sammappadhāna): Tứ Chánh Tinh Tấn, đó là:

a. Nỗ lực để ngăn chặn sự khởi sinh điều ác mà chưa khởi sinh,

b. Nỗ lực để diệt trừ điều ác mà nó đã khởi sinh,

c. Nỗ lực để tạo ra sự khởi sinh điều thiện mà chưa khởi sinh, và

d. Nỗ lực để thúc đẩy phát triển điều thiện mà nó đã khởi sinh. 

Thì khi Ngài Mingun kể lại sự Giác Ngộ của vị Độc Giác với sự Giác Ngộ của bậc Thinh Văn Giác nó sẽ khác với sự Giác Ngộ của bậc Chánh Đẳng Giác, ở trong phần giới thiệu này (trang 31)

Kể từ khi Tâm thức của Ngài vừa khởi lên ý hướng để chứng đắc vòng hoa nguyệt quế tối thượng của Sự Hoàn Toàn Tự Giác Ngộ, vượt trội hơn hẳn cả Sự Giác Ngộ của vị Độc Giác Phật và Sự Giác Ngộ của bậc Thinh Văn Giác ?"

Mình thấy sự khác biệt nhau.

Vị Thanh Văn Giác, mình nói từ dưới đi lên, rồi mình nói từ trên đi xuống lại.  Đối với vị Thinh Văn Giác muốn được Giác Ngộ phải có ba điều: 

1. Thứ nhất, bậc Thinh Văn Giác là phải có bậc Chánh Đẳng Giác khai mở trí tuệ , vị đó mới có khả năng thành Giác Ngộ.

2. Thứ hai, người Thinh Văn Giác đó phải có Giáo Pháp của Chánh Đẳng Giác thì mới Giác Ngộ.

3. Thứ ba, vị Thinh Văn Giác đó phải hành mười pháp Pāramī  (Ba-la-mật), của Thinh Văn Giác.

Có 3 điều, cái đó: 1. Thứ nhất, bậc Thinh Văn Giác là phải có bậc Chánh Đẳng Giác khai mở trí tuệ của mình ra, chứ không tự ên được. Thứ hai là phải có Giáo Pháp của bậc Chánh Đẳng Giác, nếu như thời bậc Đẳng Giác đã ra đi để lại Giáo Pháp. Nên nhớ, thời Gotama để Giáo Pháp có 5,000 năm. Nhưng thời Đức Phật Di Lặc - Metteyya để Giáo Pháp là 84,000 năm, phước lắm,  tại vì Ngài tu 80 A Tăng Kỳ, nên Ngài nguyện để lại hết, và cái nguyện của Ngài tùy theo vị Phật Chánh Đẳng Giác đó, theo công lực của Ngài có tâm từ bao nhiêu, nguyện bao nhiêu, là nó thành tựu.

 Do đó, bây giờ thí dụ như mấy cô không thành trong kiếp này Sư tin rằng Sư mong rằng, Sư muốn các quí cô phải lượm Thất Lai, mấy cô muốn thì mấy cô có, mấy cô không muốn thì mấy cô không có cơ hội. Tại vì mình còn Giáo Pháp, mà còn thời kỳ Thất Lai. Khi nào Giác Ngộ của Thất Lai đến Nhất Lai và Bất Lai không thành là khi Tạng Abhidhamma và Tạng Kinh hết thì không có cơ hội, mà 4000 năm coi như là hết, 3000 năm hết Abhidhamma , 4.000 năm hết Tạng Kinh, còn lại Luật

Tức là 4.001 tới 5.000 năm còn Tạng Luật thôi, là chỉ còn có biết sống trong đạo đức, giống như trở lại thời kỳ ông bà của mình, sống ăn ở hiền lành vậy thôi.

Mấy cô phải cẩn thận mấy cái đó còn không thì vuột. Nên mình tu mình phải có định hướng mà có kế hoạch, chứ còn không thì bị vuột, bị lôi đi.

Qua tới 4.000 năm là khi Tạng Kinh hết thì coi như chấm dứt.

Abhidhamma mà mất tới 3.000 năm Abhidhamma mất từ dưới mất lên, tức là Paṭṭhāṇa (Bộ Vị Trí) mất trước, rồi Yamaka (Bộ Song Đối) , rồi Kathavatthu (Bộ Ngữ Tông), rồi Puggalapannatti (Bộ Nhân Chế Định), rồi Dhatukatha (Bộ Chất Ngữ), rồi Vibhanga (Bộ Phân Tích), cuối cùng là Dhammasangani (Bộ Pháp Tụ).

Nhưng khi Tạng Kinh mất, thì Trường Bộ Kinh mất trước, Trung Bộ Kinh mất xuống tới Tiểu Bộ Kinh.

Điển hình; Trường Bộ Kinh là những bộ kinh dài, nói lên tính chất lịch sử, như bây giờ khi người ta nói về lịch sử, người ta ít nói về địa điểm này địa điểm kia, nên Trường Bộ Kinh sẽ mất trước.

Còn về Abhidhamma thì bộ Paṭṭhāṇa mất trước, tại vì không ai xiển dương bộ Paṭṭhāṇa, là mất.

Nên mình nói Abhidhamma mất từ dưới lên. Bên Tạng Kinh Nikaya thì mất từ trên xuống.

Cho tới 3.900 thì lúc đó chỉ còn Tiểu Bộ Kinh còn lác đác, hay chỉ còn Kinh Pháp Cú, những câu Phật ngôn Buddhavacana.

Nên khi Abhidhamma mất là bộ Paṭṭhāṇa (Bộ Vị Trí). Khi mà Sutta (Tạng Kinh) thì Trường Bộ mất trước.

Còn Tạng Luật mất là Phẩm Một, tức là Đại Phẩm Mahavagga, Tiểu Phẩm Cullavagga, rồi xuống mấy phần sau, cũng là đi theo thứ tự xuống, bộ một mất trước, bộ hai mất sau. Còn Abhidhamma là đi ngược từ dưới lên, người ta không nói tới Duyên mà chỉ nói Pháp thôi. 

Thí dụ như bộ Dhammasangani nói về Pháp Thiện thì chỉ nói 3 Pháp thôi, là Pháp Thiện, Pháp Bất Thiện, Pháp Vô Ký, họ không nói tới Pháp Quả, Pháp Thọ, Pháp Tầm, Pháp Tứ.

Khi vị Thinh Văn Giác là họ phải có 3 bước, phải có bậc Chánh Đẳng Giác họ mới có Giác Ngộ. Phải có Giáo Pháp có bậc Chánh Đẳng Giác họ mới có Giác Ngộ, và họ có mười pháp Pāramī  (Ba-la-mật) họ mới tu mới Giác Ngộ được. Nếu như các quí cô mà đang nguyện Thinh Văn Giác mà muốn đắc đạo quả thì mình coi 3 điều này mình có không. Cái thời của mình tại thời điểm này mình có không thì mình thấy mình bỏ túi được hay không bỏ túi được 3 bậc thôi; Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai.

Tiếp nối bài giảng tuần trước . Người không có duyên, không có chủng tử mà khi xuất gia thì họ đi tới Bất Lai là họ về cõi Ngũ Tịnh Cư, họ không tới Vô Sinh A La Hán được, là họ không có duyên xuất gia tu. Còn nếu như người có xuất gia tu thì họ có cửa đi tới Vô Sinh, nhưng, nếu như họ có cửa Vô Sinh, thời đó có Phật, thời đó còn Giáo Pháp, thời đó mình có Pāramī (Ba-la-mật) đầy đủ hết, nhưng không có chuẩn tử xuất gia thì Vô Dư Y Niết-bàn trong 7 ngày.

Mấy cô phải nhớ là nếu mấy cô không có hạt giống, không có chủng tử xuất gia là mấy cô không có đi tới Vô Dư Y Niết-bàn, trong phần Vô Sinh thì cô tới Bất Lai rồi đi lên cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên. Đó là con đường mà người ta tránh xuất gia, tới Bất Lai rồi đi về Ngũ Tịnh Cư Thiên. Còn không thì họ Vô Sinh rồi phải Vô Dư Y Niết-bàn, không vô Hữu Dư Y giống như Sariputta và Moggalāna hay bà Gotami, bà Uppalavanna, hay bà Yasotara là những người có chủng tử xuất gia thời Đức Phật, rồi họ Hữu Dư Y, rồi đắc thần thông, truyền bá Giáo Pháp giảng dạy ni chúng trong Giáo Đoàn Ni, cái đó là người ta có hết. Cái đó do mình thôi, không bắt buộc, mình đi đường nào mình biết là được rồi, miễn có Giáo Pháp, có hướng tu, có trí nguyện Giác Ngộ là cũng được rồi. Nhưng mình phải biết lộ trình mình đi. Thì mấy cô mà không qua được xuất gia mà qua tới Nhất Lai thì về cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên, ở đó mình tiến tu năm tầng; tín, tấn, niệm, định, tuệ, rồi Vô Sinh Niết-bàn ở đó luôn, không cần trở lại làm người, cũng không cần xuất gia, vô xuất gia nhiều khi trong giáo đoàn phiền não gặp nữa, vô trong chùa tu phiền não lắm, vô trong chùa thức khuya dậy sớm phiền não lắm, thôi về Ngũ Tịnh Cư Thiên tiến tu.

Mình đạt đạo quả thì chỉ có hai cửa thôi; Thất Lai là Tusita (Cõi Trời Đâu Suất), Bất Lai là Ngũ Tịnh Cư Thiên, chứ không có cửa đi vào Sắc Giới, mà mình không có đi qua cửa Sắc Giới Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Biến Quang Thiên, Biến Tịnh Thiên, Quang Âm Thiên, không đi mấy cái đó, mấy cái đó là cho mấy thiền sinh tu thiền Chỉ. Mình xuất gia mà không được thì tới Bất Lai về cõi Tịnh Cư Thiên.

Mình qua tiếp phần Độc Giác. 

Độc Giác là người tự tu mà không có Chánh Đẳng Giác và không có Giáo Pháp của Chánh Đẳng Giác.

Xả Thí Pāramī  Ba-la-mật là khác.

Xả thí thiện là được hưởng quả phước nhân thiên được trở lại làm người hay làm Chư Thiên có đầy đủ phước vật là do xả thí. Được trở lại làm người có đầy đủ phước vật, tài sản của cải xe cộ tiền bạc, Nhân và Thiên.

Xả thí Pāramī  Ba-la-mật là xả thí là tuyên bố phóng khí, là Pariccāga, không phải là Dāna, là xả thí là Xả thí Pāramī Ba-la-mật  không mong cầu đón nhận quả phước hữu lậu, chỉ đón nhận quả phước vô lậu. 

Vậy thì khi mình xả thí mình nguyện làm nhân giải thoát Niết-bàn, "tôi không mong cầu", thì đó là xả thí Pāramī  Ba-la-mật. Thí dụ xả thí một cái ghế, tại vì bậc Thinh Văn Giác là ngoại thân, thì xả thí này xả thí Parami Ba-la-mật của Độc Giác,  xả thí nhiều lần , trong khi xả thí mình nguyện. Còn vị Thinh Văn Giác thì nguyện một lần là xong.

Vị Độc Giác có một cái ghế xả thí thì nguyện làm nhân đến đạo quả Niết-bàn. Rồi có một vật khác vị Độc Giác lại xả thí lần nữa rồi lại nguyện làm nhân đến đạo quả Niết-bàn.

Còn các vị Thinh Văn Giác, họ sống tuần tự làm một lần thôi, không cần phải lo.

Thiền sinh hỏi: Là vị Thinh Văn, bây giờ mình làm một việc xả thí, thì mình có nguyện là xả thí Ba-la-mật. Thí dụ trong cuộc sống, mình lại có duyên xả thí nữa thì mình không có nguyện xả thí Ba-la-mật ?

HT trả lời:  Không, vì mình nguyện rồi, thì cái đó là mình bồi đắp cái Pāramī  Ba-la-mật cái xả thí của mình. Trong Chánh Tạng, trong quyển Hệ Tộc Chư Phật Buddhavamsa (Hệ Tộc Chư Phật - Phật Sử)  của bà  Elizabeth nói thì chỉ nguyện một lần thôi là xong.

Thiền sinh: Như vậy thì khi mình làm thì làm với tác ý làm nhân đến đạo quả Giải Thoát là được.

HT trả lời: Không nguyện nữa, nhưng việc làm đó nó vô luôn với lời nguyện đã nguyện rồi. Không phải là mỗi lần xả thí lại nói: "Tôi xả thí này nguyện Chánh Đẳng Giác." Với Chánh Đẳng Giác một lần nguyện là xong, con đường họ đi là như vậy, trừ khi nào họ bẻ gãy, hay buông bỏ cái nguyện đó

Sư kể cho mấy cô nghe, tới cái đó. Khi Sư đọc tới phần kết quả để thành tựu Pāramī  Ba-la-mật là cái chỗ mà mấy cô về đọc lại quyển Chính Thị Kim Sinh là khi Ác Ma tới dành cái bồ đoàn (thảm cỏ) mà Đức Phật lúc đó là Bồ Tát Ngài nói: "Quả địa cầu này chứng minh ta, xác nhận ta đã thành tựu, chỗ này là của ta". Thì Ác Ma không lay chuyển được.

Tại vì, cứ mỗi lần làm như vậy Ngài nguyện một lần rồi, thì cái xả thí đó bắt đầu dày lên, cái trì giới bắt đầu dày lên, và cái dày đó và cái công chuyện mình làm đó, cái công lực của mình, cái tâm lực của mình nó càng ngày nó khắn khích và nó kiên cố hơn. Nên cô làm một cái xả thí nào mà có  Pāramī  Ba-la-mật cái xả thí đó cô có niềm tin kiên cố và không bị giao động. Nếu như mà cô làm không có xả thí Pāramī  Ba-la-mật, mà chỉ xả thí thiện thôi thì vẫn còn bị giao động. Ngay khi cái phước trổ sinh lên của Nhân và Thiên cô bị giao động liền; mừng, vui, thích.

Còn cái đó với Pāramī  Ba-la-mật, Xả Thí Pāramī  Ba-la-mật họ không bị ảnh hưởng cái đó, không giao động, họ kiên cố già dặn hơn, và cái việc làm của họ càng ngày mãnh liệt hơn, thấy rõ liền.

 Nên nó giống như là giữa hai người giàu, người giàu truyền thống, còn người mới giàu, thì người mới giàu họ bị giao động, tức là họ được hưởng quả phước Nhân Thiên, thì người mà làm việc xả thí này mừng vui thích liền. Còn người làm Pāramī Ba-la-mật họ biết việc làm này đã làm và đã thành tựu rồi, cái niềm tin của họ hay là cái năng lực của họ kiên cố hơn và không bị lay chuyển.

Nên khi đối diện với một nghịch cảnh một Ác Ma chỉ là một pháp nghịch thôi Ngài vẫn kiên cố không giao động. Anh mà xả thí thiện anh sẽ bị giao động, anh không biết chắc mình có, anh không tin là mình đầy đủ để đối phó với nghịch cảnh không, thì lúc bấy giờ khi đối diện với một pháp nghịch thì Pāramī Ba-la-mật cô sẽ bảo chứng cái năng lực của mấy cô không bị giao động.

 Thì khi làm Pāramī Ba-la-mật mà quí cô có một cái xả thí, một cái trì giới, cái niềm tin và cái quả phước, cái nghị lực nó kiên cố vững chắc, không có gì lay chuyển được họ, ngay khi quả trổ sinh hay là có người tới đánh động mình, không lay chuyển.

Ngay khi Ngài Xá Lợi Phất nguyện Chánh Đẳng Giác, mà một kiếp thôi, vua trời Đế Thích xuống thử xin mắt Ngài vẫn bị giao động. Tại vì Ngài chưa phải là Niyata (Thọ Ký Bồ Tát ). Nên mấy cô phải cẩn thận. Pháp nghịch không phải là nghiệp chủ không, mà pháp nghịch là Chư Thiên.

Trong tuần vừa rồi có Phật tử hỏi  Sư về giới thứ năm là không uống rượu. Thì bị bệnh rồi uống rượu thuốc có phạm giới không? Thì cái tên đã gắng liền với cái giới rồi, thì dù cái gì mình cũng không đụng vô. 

Đọc lại tích truyện nàng Sujātā là người vợ thứ tư của chàng thanh niên Magha. Thanh niên Magha sống cuội đời làm việc thiện xã hội sanh được  về cõi trời là Vua Trời Đế Thích. Thì thanh niên Magha có bốn người vợ, ba người vợ đầu luôn luôn đi theo Ngài để làm việc thiện, còn bà thứ tư không chịu làm, mà cứ đờn ca sướng hát vui chơi, rồi khi chết sinh làm con cò ở dưới trần gian.  Ngài Thiên Chủ ở cõi Trời ngó xuống thấy người vợ thứ tư thành con cò. Do đó, khi nói sát sinh là sát sinh, dù hình thức thử hay là thiệt, giả, giả, thiệt, mình cũng dừng lại. Ngài Vua Trời Đế Thích hiện ra làm con cá thử con cò, nói nếu ăn con cá thì tiếp tục đi tục sinh nữa, thì con cò nhả con cá ra. 

Còn giới không uống rượu, giờ mình uống để chữa bệnh là mình phạm giới, là mình lại đi tục sinh nữa, phải buông.

Mấy cô phải cẩn thận, vua trời Đế Thích xuống thử, tại sao Ngài không thử cái khác, mà Ngài thử đúng cái, cái tâm lý mình đang vướng vào trong đó.

Thiền sinh nói: Như mà vậy là mình cũng thấy được là cái tâm nguyện của mình là mình coi trọng cái thân xác của mình hơn phần tinh thần.

HT trả lời: Không phải, mình không có coi trọng, mà là mình không biết, lúc đó mình không có biết, mình không vững, người ta nói cái mình rớt liền

 Nên Sư nói cô nghe, không được. Có khi là người ta đưa cái thế, không phải người ta thử đâu, nhưng mà cái đó coi cái giới, nên cô đọc bài Chính Thị Kim Sinh, Ác Ma đi theo Đức Phật bảy năm mà tìm ra không một tỳ vết nhỏ trong thân, ngữ, ý của Ngài. Nên giống như cục đá mà không tìm ra được cục mỡ nào nó phải bỏ đi. Bảy năm, tức là sáu năm khổ hạnh, một năm đắc đạo quả còn vẫn đi theo xem có chắc không. Thì cái chỗ đó một năm mà đi theo thì coi như là niềm tin và cái nghị lực của người Ba-la-mật đã kiên cố, Ác Ma không lay chuyển được.

 Đó là câu trả lời của người hành Ba-la-mật, không lay chuyển được, phải kiên cố. Nếu như làm thiện là mình bị giao động, vẫn còn bị lay chuyển.

 Đọc quyển thứ hai

Biên Niên Sử Chư Phật 1 CM2

VI. CHƯƠNG NÓI VỀ CÁC PHÁP BA LA MẬT

(NHỮNG PHÁP TOÀN THIỆN)

(b) Pháp Toàn Thiện về Đức Hạnh (Trì Giới Ba La Mật)

Tác giả đưa ra một sự miêu tả chi tiết về loài động vật Cāmari mà chúng ta đã có được dịch là "Yak - loài bò Tây Tạng".  Ngài trích dẫn nhiều cứ liệu sai khác để xua tan đi quan niệm của nhiều người cho rằng Cāmari là một loài động vật có cánh.  Không một chút nào, tác giả viện dẫn cứ liệu của Ngài Đại Trưởng Lão Abhayarama ở tại Mandalay, và Ngài Đại Trưởng Lão Taung Pauk ở tại Mawlamyine nói rằng nó là một loài bò của Tây Tạng, một súc vật thồ thuộc Tây Tạng, hữu ích luôn cả việc cho sữa và thịt của nó nữa.  Quạt được làm bằng đuôi của nó là một trong những biểu tượng của hoàng gia.

Lòng mong ước để tránh xa điều nguy hại, loài bò Tây Tạng sẽ hy sinh mạng sống của mình để không phải thực hiện bất luận mọi cố gắng nào để mà tháo gỡ nó ra ngay cả dù chỉ là một sợi lông đuôi của nó khi có sự cố bị vướng kẹt vào trong những cành nhánh của một bụi cây.  Sumedha đã tự khuyên nhủ bản thân noi theo tấm gương được thiết lập do bởi một loài bò Tây Tạng và gìn giữ sự tinh khiết về Đức Hạnh dù phải hy sinh mạng sống của mình

Do đó, nên nghị lực và niềm tin và nghị lực của mình trở nên năng lực và không lay động, xả thí là xả thí, không bị giao động không bị lung lay, thì lúc đó Pāramī Ba-la-mật của mình mới dày lên, và chính cái đó nó bảo hộ và  bảo vệ và dìu dắt mình đi tới con đường giải thoát mọi cám dỗ, mọi nghịch cảnh, mọi cản ngăn vượt qua được hết. Nó khác ở chỗ đó.

Sư chưa nói tới vấn đề xả thí để diệt trừ bỏn xẻn, mà trong khi xả thí mình vẫn còn bị lung lay đó là mình chưa vượt qua được. Do đó, mình nghiệm lại,  Pāramī Ba-la-mật của mình nó càng dày càng kiên cố là không lung lay, không lay chuyển.

Tich truyện Bồ Tát Vessantara (Vessantara Jātaka) tiền kiếp cuối cùng của Đức Phật Gotama, kiếp đó Ngài nguyện xả thí Pāramī Ba-la-mật  Chánh Đẳng Giác, sinh hai đứa con mà phải chia ly, vì để hoàn thành xả thí Pāramī Ba-la-mật Ngài đã xả thí hai người con mình cho một vị Bà La Môn.

Hai người con sợ hãi bỏ chạy. Bồ Tát đi tìm và khuyên nhủ Ngài nói : "Các con giúp cha hoàn thành Giác Ngộ, sau khi thành tựu cha sẻ trả lại cho các con". Hai người con nghe lời cha, và đi theo vị Bà La Môn đó.

Sư chưa nói là cho xong rồi hối tiếc, mất Tư Hậu, mà chỉ là pháp Thiện thôi. Còn Pāramī Ba-la-mật  khác nữa, cho xong rồi không hối tiếc (Tư Hậu)

Như tích truyện ông Ba La Môn giàu có, đã cúng dường thực phẩm cho vị Phật Độc Giác một cách chu đáo, sau đó khi vị Độc Giác nhận thức ăn xong thì rời đi, thì ông Bà La Môn tiếc, 

Hậu quả là kiếp sau sinh làm Trưởng giả giữ ngân khố giàu có, sở hữu hàng triệu đồng tiền vàng. Nhưng vì tâm luyến tiếc, keo kiệt ở tiền kiếp, nên ông phải sống khổ sở. Mà cái đó chỉ là làm thiện thường thôi.

 Còn xả thí Pāramī Ba-la-mật  khác nữa, khác chỗ nào? Con đường giải thoát của mình là quyết định kiên cố, Pāramī Ba-la-mật  này chỉ là phương tiện, mình không gián đoạn, gọi là kiên cố, chứ không phải xả thí. Con đường giải thoát tôi kiên cố, thì xả thí này tôi không lay chuyển. Còn cái xả thí thiện mình còn lay chuyển giữa người, cảnh vật, quả phước và nhân quả, mình còn lay chuyển. Còn xả thí Pāramī Ba-la-mật  là con đường giải thoát tôi không lay chuyển. không cắt đứt, không cản ngăn được, thì đó là xả thí Pāramī Ba-la-mật .

Vậy thì, trở lại. Khi cô xả thí Pāramī Ba-la-mật  thì cô nguyện giải thoát, "tôi không có ngừng lại", thì chữ xả thí đó là Xả Thí Pāramī Ba-la-mật .

Chữ xả thí, trì giới của Pāramī Ba-la-mật  là con đường giải thoát, và ta đang làm xả thí này, không lay chuyển tôi được.

Thì chính cái đó, quả địa cầu mới xác nhận được Bồ Tát đã làm đúng cái nguyện của Ngài, là Ngài xả thí là vì Pāramī Ba-la-mật , Ngài xả thí vì giải thoát, Ngài xả thí là vì Đạo Quả của Ngài, chứ không phải xả thí trong cái thiện thông thường, thì quả địa cầu mới rung động, mới xác nhận.

Do đó, mấy cô xả thí thiện là mấy cô nghĩ tới Nhân, Thiên, còn nghĩ tới quả hiệp thế, hay là quả hữu lậu. Nhưng xả thí Pāramī Ba-la-mật là giải thoát, 

- Tôi làm xả thí này là tôi giải thoát, tôi không có ngừng lại, và tôi có cơ hội làm là để tôi được giải thoát.

Thì cái đó là xả thí Pāramī Ba-la-mật, ai nói cũng không lung lay.

Nàng Sujātā là người vợ thứ tư của chàng thanh niên Magha,  (tiền kiếp của Thiên Chủ Sakka. Ngài Thiên Chủ Sakka đối với nàng Sujātā Ngài không có lạ vì bà Sujātā là vợ của Thiên Chủ Sakka trong tiền kiếp, bây giờ Thiên Chủ muốn độ bà Sujātā bấy giờ đã tái sinh thành con cò ở trần gian, và Ngài đã xuống cắt nghĩa cho bà hiểu bây giờ tu để giải thoát. Thiên Chủ hóa một con cá để con cò mổ ăn, nhưng Ngài đã xuống cắt nghĩa cho bà hiểu bây giờ tu để giải thoát, và con cò nghe lời mà thả con cá ra và nhịn đói để được chết, được giải thoát.

Trưởng Lão Cakkhupāla đã nói: ta đã ngủ bao năm rồi, ta đã nằm nghỉ bao nhiêu kiếp rồi, bây giờ cho thuốc nhỏ mắt ta phải nằm, bây giờ ta không nằm để được giải thoát. Và Ngài Cakkhupāla đã đắc A La Hán.

Trong bài Kinh Hệ Tộc Chư Phật này, có kiếp Ngài là con sư tử đi theo Đức Phật, nhưng một tuần lễ đó không phải là Ngài đi theo hầu Đức Phật, mà một tuần lễ đó ở bên Đức Phật để mà không đi săn mồi và Ngài chết, tại vì Ngài ở bên một vị Phật là người đã giải thoát rồi, vì Ngài muốn giải thoát, do đó Ngài không lung lay. Đó là nghị lực của Ngài đã kiên cố rồi, không lay động, vì ở bên bậc Chánh Đẳng Giác thì Ngài đâu còn gì nữa mà lay động, đó là cơ hội tốt, phục duyên, mà có phước nữa, mình câu sinh luôn, là con sư tử, kiếp thú mà, bỏ một tuần lễ không đi kiếm mồi. Lúc đó Đức Phật Ngài đang độc cư thiền tịnh thì con sư tử nằm đó để mà tịnh tâm, không đi sát sinh, không đi săn mồi, và Ngài cũng thành tựu Pāramī Ba-la-mật, Sư tử là bản tánh thú, mà gặp được bậc Chánh Đẳng Giác là Ngài đã kiên cố rồi, có cơ hội và cũng không thay đổi cái lập nguyện của mình.

 Không lay chuyển thì xả thí đó là Xả Thí Pāramī Ba-la-mật, mà không lay chuyển con đường giải thoát là Pāramī Ba-la-mật . Không có cơ hội, không có lay chuyển, nghị lực tu đã tới và tu giải thoát.

Trong tích truyện Bồ Tát Vessantara bố thí hai người con. Khi đó Bồ Tát Vessantara  ở trong cốc, ông ăn xin Bà La Môn  tới xin hai người con của Bồ Tát. Mà Ngài dám xác định là Ngài thành tựu thành Phật Ngài trả ơn hay là Ngài mắc nợ. Công Chúa Maddi là vợ của Bồ Tát Vessantara về hỏi con đâu, Ngài nói cho rồi, bà chạy rượt theo. Chư Thiên phải bảo vệ cho Pāramī Ba-la-mật của Bồ Tát thành tựu nên hóa ra cọp beo để chặng đường bà Maddi, thì Maddi phải quay trở lại đọc 36 câu kệ than trách Ngài, Ngài ngồi yên. Rồi Vua Trời Đế Thích xuống xin Maddi dẫn đi. Ngài không lay chuyển, Ngài không thương vợ thương con Ngài sao, thương chứ, nhưng lòng bi mẫn Ngài tới để thành Chánh Đẳng Giác mạnh hơn.

Thì chính Vua Trời Đế Thích mới xác nhận Ngài là thành tựu mới là hiện ra trả lại Maddi cho Bồ Tát.

Thiền sinh hỏi: Bạch Sư lúc đó Bồ Tát Vessantara đã được thọ ký chưa?

HT trả lời: Chưa, Ngài chưa được thọ ký.

Thì chữ Tứ Chánh Cần của Ngài áp dụng trong Pāramī Ba-la-mật đúng không ? 

- Ngăn trừ bất thiện, Ngài tinh tấn. Thì chữ nghĩa là Tứ Chánh Cần của Sumedha được hiện rõ trong chỗ mà mình biết. 

Thì khi vị Độc Giác họ làm không có Chánh Đẳng Giác, không có Giáo Pháp, họ kiên cố với Pāramī Ba-la-mật của Ngài phải hai lần để Ngài đắp bồi cho đủ nghị lực.

 Ai nhắc nhở mình, ai bảo vệ cho mình, ai cho mình được đầy đủ, vì là Độc Giác. 

Còn Thinh Văn Giác được Đức Phật Ngài xác nhận được đầy đủ. Thành tựu mình không lo, mình bớt đi được một phần rồi, có bậc Chánh Đẳng Giác sẵn rồi.

Do đó, Độc Giác khổ hơn, không có bậc Chánh Đẳng Giác, không có Thầy, không có Giáo Pháp chỉ là không có chỗ nương. Đức Phật Ngài nói các vị Thinh Văn Giác lấy Giáo Pháp làm Thầy, tự thắp đuối mình đi, tự ngưng tư tưởng chính mình. Còn Độc Giác không có, phải đắp bồi, phải kiên cố vững chắc, tự mình phải bảo về cho chính mình, và xác định vị trí mình, và con đường mình đi phải nhứt định thành tựu, không lay chuyển.

Thiền sinh hỏi: Bậc Độc Giác Phật thì không có giáo pháp, không có bậc Chánh Đẳng Giác chỉ dẫn, nhưng các vị này trong những kiếp quá khứ cũng đã có một thời là hành Pāramī Ba-la-mật.

HT trả lời: Họ hành Pāramī Ba-la-mật, có khi họ là Thinh Văn tức là có học Giáo Pháp của Chánh Đẳng Giác. Nhưng tới khi Ngài tách chuyển qua Độc Giác là Ngài đi một mình ên.

Trong Kinh Nhật Tụng, câu:

 Idaṃ vata me puññaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu anṃgate.

Do sự phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây, hãy là món duyên lành để dứt khỏi những điều ô nhiễm  ngủ ngầm trong tâm trong ngày vị lai. Câu đó là nguyện Độc Giác.

Giải thoát là có chủng tử rồi, làm sao cũng thành, đó bài nguyện của Ngài Tịnh Sự.

Do đó, là vị Độc Giác đã từng là Thinh Văn Giác, nhưng cái thời của các Ngài họ nguyện là họ không có Phật và cũng không có Giáo Pháp, là sao?

Bây giờ mình trở lại A Xà Thế sau này là Độc Giác, Đề Bà Đạt Đa thời ông là Độc Giác, mà thời ông là Đức Phật Gotama, ông là Thinh Văn Giác, ông đắc ngũ thiền. Như vậy có những vị Độc Giác đã từng là Thinh Văn, nhưng mà họ nguyện tới giai đoạn đó họ muốn đi một mình.

Trong bài Kinh "Tê Giác Một Sừng ra đi" đó là bài Kinh Độc Giác. Vậy thì Tê Giác Một Sừng ra đi đã từng sống trong bày đàn, và tất cả đi một mình, sống một mình và đi với trạng thái nghị lực của mình trong sự kiên cường của mình. Những người tu hành hạnh Dhutaṅga, là những người tu đầu đà khổ hạnh trong rừng già, họ từng sống trong Tăng đoàn, sau họ thấy đủ nghị lực, đủ kiên cố rồi họ không có gì sợ hãi, không có gì ảnh hưởng tới họ là họ tách ra. Những người đó là Độc Giác. Mà những người đó họ không sợ Nghiệp Chủ./.

-----------------------------------------

Notes từ Internet:

Xem Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống (Kinh số 26 Trường Bộ Kinh) có ghi rằng; vào thời kỳ của Đức Phật Di Lặc - Metteyya  tuổi thọ của loài người là 84.000 ngàn năm: 

Đoạn 25). Khi tuổi thọ của loài Người lên đến tám vạn tuổi, có Thế Tôn tên là Metteyya sẽ ra đời, là vị A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. .....

Trong Biên Niên Sử của Chư Phật (Buddhavamsa), quyển Anāgatavaṃsa (Vị Lai Hệ Tộc). Theo trong quyển này ghi là Đức Phật Di Lặc - Metteyya  thuộc hệ Tinh Tấn Cát Tường (Viriyādhika) - Là vị Phật thành đạo nhờ hạnh tinh tấn. Thời gian tích lũy công đức (Ba-la-mật) của Ngài kéo dài tổng cộng 80 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp, chia làm 3 giai đoạn:

1 Ý nguyện (Phát nguyện trong tâm): 32 A Tăng Kỳ (Nguyện thầm trong tâm mong thành Phật)

- Khẩu nguyện (Phát nguyện ra lời): 28 A Tăng Kỳ (Nói lời ước nguyện thành Phật trước chư Phật (quá khứ).

- Thân hành (Được thọ ký công khai): 20 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp (kể từ khi được Đức Phật quá khứ Muhutta chính thức thọ ký cho đến khi thành đạo.

---------------------------------

Số lượng Đức Phật thọ ký theo từng căn tánh Bồ Tát

Trong suốt thời gian 16 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp (giai đoạn sau khi nhận lời thọ ký đầu tiên cho đến ngày thành đạo), một vị Bồ Tát Tinh Tấn Ưu Việt (Vīriyādhika Bodhisatta) sẽ được nhiều vị Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian thọ ký, chứ không phải chỉ một vị.

Thời gian tu hành và số lượng Đức Phật thọ ký phụ thuộc vào hạnh nguyện ưu việt của vị Bồ Tát đó:

Bồ Tát Trí Tuệ Ưu Việt (Paññādhika): Tu trong 4 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp (tính từ lúc được thọ ký). Trong suốt thời gian này, Bồ Tát được 24 vị Đức Phật tuần tự xuất hiện thọ ký (Tiền thân Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuộc nhóm này).

Bồ Tát Đức Tin Ưu Việt (Saddhādhika): Tu trong 8 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp sau khi thọ ký. Trong thời gian này, số lượng Đức Phật xuất hiện và thọ ký cho Ngài sẽ nhiều gấp đôi nhóm Trí Tuệ, ước tính khoảng 48 vị Đức Phật.

Bồ Tát Tinh Tấn Ưu Việt (Vīriyādhika): Tu trong 16 A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp sau khi thọ ký. Vì thời gian kéo dài gấp bốn lần nhóm Trí Tuệ, số lượng Đức Phật xuất hiện để thọ ký cho vị Bồ Tát này là lớn nhất, ước tính khoảng 96 vị Đức Phật tuần tự ra đời. (Đức Phật Di Lặc - Metteyya trong tương lai được tính thuộc nhóm Tinh Tấn hoặc Đức Tin tùy theo bản chú giải kinh điển).

Bản chất của việc "Thọ Ký Tuần Tự

"Trong một A Tăng Kỳ đại kiếp, có những giai đoạn trái đất trải qua thời kỳ "Không Kiếp" (không có vị Phật nào ra đời), nhưng cũng có những kiếp trái đất (như kiếp hiện tại của chúng ta) có nhiều vị Phật cùng xuất hiện.

Khi một vị Bồ Tát đã đắc chứng trở thành Bồ Tát Định Sẵn (Niyata Bodhisatta):

Vị Phật đầu tiên (ví dụ như Đức Phật Nhiên Đăng đối với tiền thân Phật Thích Ca) sẽ xem xét căn tánh và đưa ra lời thọ ký xác định đầu tiên.

Các vị Phật tiếp theo xuất hiện trong suốt 4, 8, hoặc 16 A Tăng Kỳ đó, mỗi khi vị Bồ Tát đến đảnh lễ và cúng dường Đức Phật, các Ngài đều dùng thiên nhãn thông để tái xác nhận (thọ ký tiếp nối) lời tiên tri trước đó: "Vào thời vị lai, cách đây... A Tăng Kỳ nữa, vị này chắc chắn sẽ thành Phật hiệu là..."

Như vậy, con số 16 A Tăng Kỳ là tổng thời gian hành đạo dưới sự chứng kiến và thọ ký của hàng chục vị Đức Phật khác nhau xuất hiện nối tiếp qua các thời đại, chứ không phải do một vị Phật duy nhất thọ ký.

Trong truyền thống Phật giáo Nam truyền (Theravada), được ghi chép chi tiết trong bộ Kinh Buddhavamsa (Kinh Phật Chủng Tính), có 24 vị Đức Phật Toàn Giác đã tuần tự xuất hiện và thọ ký cho tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Bồ-tát Gotama). Quá trình này kéo dài suốt 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất.

Danh hiệu của 24 vị Đức Phật và thân thế của tiền thân Đức Phật Thích Ca khi nhận thọ ký:

1. Đức Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng)

. Tiền thân: Đạo sĩ Sumedha (Thiện Huệ).

. Chi tiết: Đạo sĩ Sumedha đã dùng thân mình lót đường bùn lầy để Đức Phật và tăng đoàn đi qua. Ngài được Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký lần đầu tiên, chính thức bước vào lộ trình 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp để thành Phật.

2. Đức Phật Koṇḍañña (Kiều Trần Như)

. Tiền thân: Chuyển luân thánh vương Vijitāvī.

. Chi tiết: Ngài đã làm lễ cúng dường lớn đại chúng tăng và được Đức Phật thọ ký.

3. Đức Phật Maṅgala (Mang Già La)

. Tiền thân: Bà-la-môn Suruci.

. Chi tiết: Ngài cúng dường thực phẩm và dâng tặng y áo cho Đức Phật cùng tăng chúng.

4. Đức Phật Sumana (Tu Man Na)

. Tiền thân: Long vương Atula tên là Atulo.

. Chi tiết: Long vương đã tấu nhạc trời và cúng dường các loại y báu lên Đức Phật.

5. Đức Phật Revata (Ly Bà Đa)

. Tiền thân: Bà-la-môn Atideva.

. Chi tiết: Ngài tán dương Đức Phật bằng các bài kệ tụng và dâng cúng một tấm y quý giá.

6. Đức Phật Sobhita (Sa Tỳ Đa)

. Tiền thân: Bà-la-môn Ajita.

. Chi tiết: Ngài cúng dường vật thực đến Đức Phật và tăng đoàn.

7. Đức Phật Anomadassī (Cao Kiến)

. Tiền thân: Thống tướng Dạ-xoa (Yakkha).

. Chi tiết: Ngài đã kiến tạo một giảng đường lớn cúng dường Đức Phật.

8. Đức Phật Paduma (Liên Hoa)

. Tiền thân: Một con sư tử chúa.

. Chi tiết: Sư tử phát tâm lành khi thấy Đức Phật nhập định, đi nhiễu quanh Ngài và gầm vang tôn kính.

9. Đức Phật Nārada (Na La Đà)

. Tiền thân: Đạo sĩ đại phạm hạnh.

. Chi tiết: Ngài cúng dường các loại trầm hương quý báu lên Đức Phật và tăng chúng.

10. Đức Phật Padumuttara (Liên Hoa Thượng)

. Tiền thân: Người thanh niên tên Jatila.

. Chi tiết: Ngài cúng dường y phục đến tăng đoàn của Đức Phật.

11. Đức Phật Sumedha (Thiện Tuệ)

. Tiền thân: Người thanh niên tên Uttara.

. Chi tiết: Ngài đem hết tài sản tích góp được để làm đại lễ cúng dường Đức Phật.

12. Đức Phật Sujāta (Thiện Sanh)

. Tiền thân: Chuyển luân thánh vương.

. Chi tiết: Ngài từ bỏ vương vị, dâng giang sơn cúng dường và xuất gia tu hành theo Phật.

13. Đức Phật Piyadassī (Hỷ Kiến)

. Tiền thân: Người thanh niên Bà-la-môn Kassapa.

. Chi tiết: Ngài cúng dường một tu viện lớn đến Đức Phật.

14. Đức Phật Atthadassī (Nghĩa Kiến)

. Tiền thân: Đạo sĩ Susīma.

. Chi tiết: Ngài đem hoa trời cúng dường Đức Phật và được thọ ký.

15. Đức Phật Dhammadassī (Pháp Kiến)

. Tiền thân: Thiên đế Thích (Sakka).

. Chi tiết: Dùng thiên nhạc và các loại hoa báu cúng dường Đức Thế Tôn.

16. Đức Phật Siddhattha (Tất Đạt Đa)

. Tiền thân: Đạo sĩ Maṅgala.

. Chi tiết: Ngài dâng cúng các loại quả cây quý hiếm đến Đức Phật.

17. Đức Phật Tissa (Đế Sa)

. Tiền thân: Vua Sujāta.

. Chi tiết: Ngài từ bỏ ngai vàng, xuất gia làm đạo sĩ và cúng dường hoa báu lên Đức Phật.

18. Phussa (Phú Sa)

. Tiền thân: Vua Vijitāvī.

. Chi tiết: Ngài hộ độ và cúng dường các nhu yếu phẩm đến Đức Phật và tăng chúng.

19. Đức Phật Vipassī (Tỳ Bà Thi)

. Tiền thân: Long vương Atula.

. Chi tiết: Long vương dâng cúng một chiếc ghế báu khảm ngọc thạch lên Đức Phật.

20. Đức Phật Sikhī (Thi Khí)

. Tiền thân: Vua Arindama.

. Chi tiết: Ngài cúng dường vật thực cao cấp và voi báu phục vụ tăng đoàn.

21. Đức Phật Vessabhū (Tỳ Xá Phù)

. Tiền thân: Vua Sudassana.

. Chi tiết: Ngài từ bỏ cung điện, xuất gia trong giáo pháp của Đức Phật.

22. Đức Phật Kakusandha (Câu Lưu Tôn)

. Tiền thân: Vua Khema.

. Chi tiết: Ngài cúng dường y áo và thuốc men trị bệnh đến Đức Phật.

23. Đức Phật Koṇāgamana (Câu Na Hàm)

. Tiền thân: Vua Pabbata.

. Chi tiết: Ngài tổ chức đại lễ cúng dường vật thực đến toàn thể tăng đoàn.

24. Đức Phật Kassapa (Ca Diếp)

. Tiền thân: Người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla (Tuyên bách).

. Chi tiết: Là vị Phật cuối cùng thọ ký trước khi Bồ-tát Gotama tái sanh vào cõi trời Đâu Suất, sau đó hạ sanh thành Thái tử Tất-đạt-đa và đắc quả Phật Thích Ca ở kiếp hiện tại.

------------------------------------

"Bà Elizabeth" chính là tiến sĩ Isaline Blew Horner (thường viết tắt là I.B. Horner, 1896–1981). Bà là một nhà học giả Phật giáo người Anh kiệt xuất, từng giữ chức Chủ tịch hội Pali Text Society (PTS).

Bà không dịch toàn bộ Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya), vì đây là bộ kinh lớn nhất trong Tạng Kinh với 15 đến 18 tập sách. Tuy nhiên, bà đã trực tiếp dịch và hiệu đính nhiều phần cốt lõi của bộ kinh này sang tiếng Anh cho hội PTS.

Các tập Tiểu Bộ Kinh do bà I.B. Horner dịch . Bà Horner đã để lại dấu ấn lớn qua các bản dịch thuộc hệ thống tuyển tập cổ của PTS:

-  Chuyện Thiên Cung & Chuyện Ngạ Quỷ (Vimānavatthu & Petavatthu): Được bà dịch trong bộ Minor Anthologies, Tập IV. Nội dung kể về quả báo thiện ác đưa con người lên cõi trời hoặc sa vào cõi ngạ quỷ.

-  Buddhavamsa (Hệ Tộc Chư Phật - Phật Sử)  & Sở Hạnh Tạng (Buddhavaṃsa & Cariyāpiṭaka): Bản dịch tiếng Anh của bà có tên là The Chronicle of Buddhas & The Basket of Conduct. Sách kể về tiền thân của Đức Phật qua 24 đời cổ Phật và hành trình tu tập 10 ba-la-mật.

-  Trưởng Lão Tăng Kệ & Trưởng Lão Ni Kệ (Theragāthā & Therīgāthā): Bà đóng vai trò hiệu đính và dịch thuật một số bài thơ cổ của các vị tỳ-kheo và tỳ-kheo ni đắc quả A-la-hán