083 Paṭṭhāna
HT Sán Nhiên giảng ngày 2 tháng 12, 2023
Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 083 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ.
Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.
Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.
Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh
Minh Hạnh
Nếu mình không có pháp Chân Thật thì coi như mình không phá giải được kiết sử. Về vấn đề Ba-la-mật (Pārami) khi Sư chia sẻ là sát với Tâm Đạo Magga Citta, các quí Phật tử phải rất là vi tế trong sự tu tập mình để sửa đổi thói hư tật xấu. Và nếu như nhìn nhận mình còn thói hư tật xấu thì thấy cái pháp Ba-la-mật này có giá trị cho mình, còn đọc để mở mang kiến thức mở mang Ba-la-mật về vị này tu vị kia tu trong kinh Bổn Sanh Jataka thì không có hiệu quả.
Thí dụ như về Xả Thí, ai cũng làm được, nhưng diệt bỏn xẻn là chưa diệt được. Xả thí thì dễ, 5$, 10$, quần áo, sách vở, nhưng bỏn xẻn vẫn còn. Tâm Đạo là sát trừ phiền não chứng tri Niết-bàn là hai điều. Khi bỏ cái bỏn xẻn mình thấy sự an lành cho mình, chứ không phải xả thí là mình có sự an lành của mình. Cái nghĩa của Ba-la-mật là như vậy. Mình diệt bỏn xẻn của mình mới thấy mình an lành, chứ nếu mình còn bỏn xẻn, cho dù mình xả thí đi nữa mình vẫn còn bỏn xẻn thì tâm mình chưa an lành, tâm mình còn nhiều phiền não.
Nên chữ Ba-la-mật (Pārami) là phải nói thật và nó trung ngôn là nghịch nhĩ, sự thật là khó nghe.
Xả thí được nhưng bỏn xẻn mình diệt không được là không giải thoát được. Thành ra chữ Xả Thí là Xả Thí thôi chứ không có Ba-la-mật Parami.
Một câu pháp thoạt của Đức Phật, Ngài nói 4 câu 16 chữ, Ngài lọc, người thượng trí thượng căn câu đầu nghe là đắc Đạo Quả rồi, người trung căn là câu 2 câu 3, người kém, người trì độn là câu 4, còn không thì qua kiếp sau chứ không có trong kiếp này.
Tất cả các Ngài giảng pháp hành như Mahasi, Malika, Janaka, Sư đọc hết, Sư coi lại cách tu giải thoát của vị Bồ Tát mà thành Phật thì mới xác thực hơn, Sư mới thấy là các quí Ngài làm cái gì rồi Sư mới đưa ra bộ Paṭṭhāṇa bằng các Duyên đó là Mãnh Lực Duyên và Trợ Duyên, chứ không phải lấy cái "Tôi, Ta" của mình làm Duyên.
Mình học Trì Giới, cái thói hư tật xấu là cái gì, tại sao Ngài kêu Trì Giới. Cái giới không có cái nghĩa, mà đức hạnh mới có nghĩa. Cái giới chỉ là phương tiện, mà con đường giữ thân, ngữ, ý trong sạch mới là quan trọng.
Bây giờ mình giữ 5 giới, nhưng thân, ngữ, ý mình không trong sạch thì vô nghĩa trước Ba-la-mật (Pārami), nó chỉ là giới thiện thôi.
Trì giới có trì giới hiệp thế, có trì giới siêu thế.
Trì giới hiệp thế là trì giới nguyện, của những bậc phàm phu.
Trì giới siêu thế là giới sát trừ, của những bậc Thánh: Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, là 3 giới phần.
Quí Phật tử chỉ trì giới thiện chứ không trì giới Ba-la-mật (Pārami), tại vì mình không có lọc, không có gột rửa thân, ngữ, ý của mình, kiết sử của mình vẫn còn, tập khí của mình vẫn còn. Mình nguyện trước Tam Bảo, nguyện trên giường, nguyện trước bàn thờ Phật "con xin giữ giới v.v.. nhưng mình không lọc đạo đức của mình, đức hạnh của mình không có.
Trì giới Ba-la-mật (Pārami) rất là vi tế, trong kinh không nói, như Ngài Anuruddha đắc Tam Quả mà Ngài không đắc quả Alahan, Ngài tới hỏi Ngài Sāriputra "tại sao tôi chưa được quả Alahan" Ngài Sāriputra trả lời tại vì ông còn ngã mạn thì chưa thành Thánh được. Mà câu nói đó chỉ có Ngài Sāriputra và Đức Phật dám nói thôi. .
Đọc 8 kệ ngôn Cảm Thắng Ma Vương mỗi ngày:
1) Bāhuṃ sahassamabhinimmitasāvudhantaṃ,
Grīmekhalaṃ uditaghorasasenamāraṃ,
Dānādidhammavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
1. Đức Phật cao thượng hơn các bậc Trí tuệ, Ngài đã cảm thắng Ma Vương, Ma Vương biến ngàn cánh tay đều cầm khí giới, cỡi voi Gri-mê-khá-lá (Grīmekhala) đủ cả binh ma, tiếng hét la vang rền. Nhờ Pháp Thập độ, nhứt là Pháp Bố thí, mà Đức Phật cảm thắng được Ma Vương. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
2) Mārātirekamabhiyujjhitasabbarattiṃ,
Ghorampanāḷavakamakkhamathaddhayakkhaṃ,
Khantīsudantavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật đã cảm thắng Dạ-xoa A-lá-quá-cá (Āḷavaka) rất cang ngạnh, không lòng nhẫn nhục, khoe tài trọn đêm cùng Đức Phật, Dạ-xoa rất hung ác, cảm dõng hơn Ma vương, đã bị đức Chánh Biến Tri dùng phép nhẫn nhục thâu phục rồi. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
3) Nāḷāgiriṃ gajavaraṃ atimattabhūtaṃ,
Dāvaggicakkamasanīva sudārunantaṃ,
Mettambusekavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật đã cảm thắng voi Na-la-gí-rí (Nāḷāgiri) đến cơn hung ác dữ tợn như lửa rừng, như sấm sét, nhờ rải lòng Từ bi, mà đức Chánh Biến Tri cảm thắng được (voi ấy). Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
4) Ukkhittakhaggamatihatthasudārunantaṃ,
Dhāvantiyojanapathaṅgulimālavantaṃ,
Iddhībhisaṅkhatamano jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật dùng phép Thần thông, cảm thắng Ăng-gú-lí-ma-lá (Angulimāla), kẻ cướp sát nhơn, cắt ngón tay người xỏ làm tràng hoa, kẻ quá hung bạo nhưng rất tinh nhuệ, cầm gươm rượt đức Chánh Biến Tri xa ba do tuần. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
5) Katvāna kaṭṭhamudaraṃ iva gabbhinīyā,
Ciñcāya duṭṭhavacanaṃ janakāyamajjhe,
Santena somavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật đã khử trừ lời dữ của nàng Chinh-Cha (Ciñcā), nàng dùng cây tròn giống dạng đứa bé trong thai, giả làm phụ nữ mang thai. Nhờ dùng phép Chánh Định, mà đức Chánh Biến Tri cảm thắng nàng giữa chốn đông người. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
6) Saccaṃ vihāya matisaccakavādaketuṃ,
Vādābhiropitamanaṃ ati-andhabhūtaṃ,
Paññāpadīpajalito jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật sáng suốt nhờ ngọn đèn tuệ. Ngài đã cảm thắng kẻ ngoại đạo Sách-chá-cá (Saccaka), là kẻ không ngay thật, chỉ ưa thích sự nâng cao lời nói mình như dựng cột phướng, kẻ rất si mê, chẳng khác người mù. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
7) Nandopanandabhujagaṃ vibudhaṃ mahiddhiṃ,
Puttena therabhujagena damāpayanto,
Iddhūpadesavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật dạy Đại đức Mục-Kiền-Liên, biến làm Long Vương, để thâu phục Rồng chúa Nanh-đô-bá-nanh-đá (Nandopananda), là rồng tà kiến, có nhiều thần thông, nhờ dạy Đại đức Mục-Kiền- Liên, mà đức Chánh Biến Tri thâu phục được (rồng chúa ấy). Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
8) Duggāhadiṭṭhibhujagena sudaṭṭhahatthaṃ,
Brahmaṃ visuddhijutimiddhibakābhidhānaṃ,
Ñāṇāgadena vidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật đã cảm thắng Đại Phạm Thiên Bá-cá (Baka), tự cho mình là cao thượng, vì đức trong sạch, có thần thông, và chấp hẳn tà kiến, nhờ Giác Tuệ, mà đức Chánh Biến Tri cảm thắng được Đại Phạm Thiên ấy. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
ooOoo
Nhờ xả thí mà đức Phật cảm thắng được Ma Vương. Xả thí này là Xả Thí Ba-la-mật (Pārami). Và xả thí này tại sao Ngài làm được, coi lại bài kinh Ratana Sutta Kinh Châu Báu. Thì trong đó có Pañca-mahā-pariccāga là 5 pháp đại thí hay là 5 phóng khí (Pariccāga = phóng khí) , chứ không phải là đại thí hay xả thí.
Pañca-mahā-pariccāga là một khái niệm trong Phật giáo, thường được dịch là "Bốn đại renunciation" hoặc "Bốn đại từ bỏ". Nó đề cập đến bốn loại renunciation mà các Bodhisattva cần thực hiện để đạt được giác ngộ và trở thành Phật. Bốn loại renunciation này bao gồm:
1. Dhanapariccāga: Từ bỏ các chức vụ cao quý như vua, hoàng đế, và tài sản.
2. Aṅgapariccāga: Tự nguyện từ bỏ các bộ phận cơ thể như tay, chân, tai, mũi cho người khác.
3. Puttapariccāga: Từ bỏ việc cho con cái của người khác.
4. Bhariyapariccāga: Từ bỏ việc cho vợ của người khác.
5. Jīvitapariccāga: Từ bỏ hoặc từ bỏ sống của chính mình.
Các renunciation (sự từ bỏ) này là những hành động tự tế và cao quý mà các Bodhisattva cần thực hiện trong suốt các cuộc đời của họ để đạt được giác ngộ.
Trong phần bố cáo là phải 5 pháp đại thí, bên ngoài phải lọc rửa trong nội tâm mình phải trong sạch trong việc xả thí này.
Nên nói tới Ba-la-mật (Pārami) Sư nghĩ đúng rồi, các quí Ngài ngày xưa không dám nói tại vì sợ đụng chạm mích lòng. Xin cái gì cũng cho nhưng cái bỏn xẻn của mình thì giữ.
Do đó, mấy cái đó là mình phải nhìn khía cạnh đó mình mới thấy được cái pháp, còn không mình nhìn ngược trở lại cái đó mình không bao giờ thấy pháp mà mình đi ngược lại với những cái gì mình đang tu.
Mình là Thánh hay là phàm mà thấy pháp thì mình chỉ nhìn thấy pháp chứ không có cái tôi trong đó. Để nhìn thấy Pháp thì với kiến văn của mình phải rất là hoàn hảo, chứ không có nói với kiết sử của mình. Kiến văn rất là quan trọng, Dassanena là kiến giải khác với diṭṭhi (kiến, thấy),
Kiến văn của mình thuộc loại khán kiến là hiếm thấy, mình ít có dịp để thấy được cái này, hiểu được cái này.
Thứ nhất là phải hạ quyết tâm, mình quyết đạt đạo quả, quyết lòng muốn giải thoát không muốn sinh tử luân hồi, quyết lòng không muốn khổ đau thì bấy giờ chữ quyết thành chú nguyện thì nó mới bắt đầu sanh ra hạt giống này, mà trong cái quyết này mình chân thật thì nó mới có pháp chân thật hỗ trợ cho pháp chú nguyện Adhiṭṭhāna.
Tiếng Pali gọi là Adhiṭṭhāna nhưng tiếng Thái gọi là Adhiṭṭhān tức là chú nguyện tu tập và phát nguyện. Hồi đó Sư dịch là trí nguyện, trí tâm trí cốt. bây giờ dịch là chú nguyện
Thì chú nguyện Adhiṭṭhāna này mình có thật lòng không ? có thiệt tình không ? thì chân lý Sacca nhảy lên. Rồi khi có chân lý Sacca thì phần tinh tấn Viriya mới bổ túc vô. Rồi khi tinh tấn Viriya vô thì Nghiệp Chủ Kammassakatā đánh vô để chặn con đường mình giải thoát thì kham nhẫn Khanti phải nhảy ra để kham nhẫn Khanti chống lại Nghiệp Chủ Kammassakatā này, nó chặn, chứ không phải dễ cho mình đi ngọt ngào.
Chẳng hạn như bây giờ mình muốn giải thoát, mình đổ bệnh là mình buông hết, khi bệnh tới coi như là bỏ hết không còn làm gì, nhưng tinh tấn vẫn chưa đủ mà phải nhẫn nại Khanti nữa nó mới sách tấn cho tinh tấn. Rồi tinh tấn phải vượt qua sự vui buồn đau khổ của nghiệp chủ này thì hành xả nhẩy lên. Nhưng muốn hành xả nhẩy lên mình phải thương chính mình, metta hiện bày. Cái công đoạn, cái con đường mình đi phải có nhiều bước, chứ không phải đơn giản chỉ có một. Chỉ một mình mình đi mà mình không có phương pháp, hay không có kế hoạch, hay là không có phương thức, thì coi như mình đi quờ quạng, đụng đâu làm đó đúng sai rồi sửa lại.
Do đó, chú nguyện Adhiṭṭhāna này mà khi mà vượt qua được phần Hành Xả Saṅkhārupekkhā mà qua được thì cái phước sanh lên cho thấy được niềm vui từ trong lòng mình trổ sanh ra, thì bây giờ nó là mảnh lực cám dỗ lần thứ hai thì mình phải có ly dục để mà vượt qua những vui buồn.
Khi Ngài Bồ Tát ra khỏi cung thành, thì ngay khi đó Ác Ma kêu Bồ Tát trở vô vì tuần sau Ngài làm Chuyển Luân Vương. Cái đó là Ngài được hưởng hết phước rồi, mà câu Ma Vương nói là đúng chứ không sai, nhưng nếu Ngài không có ly dục thì chú nguyện của Ngài gãy liền.
Nên ly dục áp dụng ngay sau khi hưởng phước, chứ không phải ly dục ngay khi đang bị khổ đau, nó mới có giá trị. Nó có cái giá của nó và nó có phần thưởng của nó và có sự cám dỗ của nó là vị ngọt, và lúc đó mình vẫn phải đi.
Nên chữ chú nguyện Adhiṭṭhāna này là cái hướng mà mình phải lập ra, mình phải vạch ra, tôi làm cái này là cái chú nguyện tôi làm cái hướng, làm cái mục tiêu của mình, điểm hướng nhắm tới của mình.
Thí dụ như xả thí là không phải là mình muốn cho người ta được hưởng hạnh phúc có được đầy đủ, mình cho tài sản vật chất cho người ta bớt khổ. Mà là xả thí này là để dẹp cái bỏn xẻn của mình. Thì cái chú nguyện Adhiṭṭhāna nó nằm cái tiêu chí nó mới ra được cái nghĩa của xả thí được.
chữ chú nguyện Adhiṭṭhāna này phải chân thật thì Chân thật Sacca này bảo vệ cho chú nguyện Adhiṭṭhāna này thì xả thí này mới được.
Câu chuyện khỉ chúa (Tiền thân Mahàkapi - chuyện tiền thân Đức Phật P516), chuyện bổn sanh Jàtaka cũng nói con khỉ chúa xuống cứu ông bà La Môn bị ông đập đầu chảy máu, Đức Phật Ngài dạy trong Tiền thân Mahàkapi là những câu chuyện mà Ngài đối thoại Ngài nói.
khi dịch chữ speech dịch là thuyết thoại
Cái đó là Đức Phật Ngài nói chuyện nhưng trong đó Ngài có thuyết giảng, Ngài dạy. Đối với Đức Phật Ngài không có bao giờ Ngài nói chuyện mất thời gian.
Con người của mình là mình đàm thoại, đối thoại, hay là giao thoại, còn Đức Phật là Ngài thuyết thoại, chứ Ngài không có giao thoại hay đối thoại, lời của Ngài nói ra có sự dạy của Ngài trong đó, chỉ dẫn trong đó. Nên những cái đó mình mới tìm ra được cái nghĩa của Pháp. Thì khi Ngài thuyết thoại thì là Ngài sửa cho người đó hay là Ngài muốn chỉ cho người đó, chứ không phải Ngài nói không.
Nên bây giờ mình chịu khó mình đi qua một giai đoạn này, mình học nhiều Pháp, mình nghe nhiều rồi, và bây giờ đi tới kết thúc,
- thứ hai nữa, tuổi đời không còn gì nữa để mà buông lung và dễ dui nữa.
Sư rào trước đón sau đi tới đạo quả. Tại vì điểm chính Sư không đụng vô con người của quí Phật tử là cái tính khí của mình, mà tự mình ý thức thôi. Đức Phật Ngài thuyết pháp Ngài cũng không đụng vô.
Cũng như trong Trung Bộ Kinh số 35, Ni-Kiền-tử Saccaka người tu sĩ ngoại đạo nói là pháp thoại của ông, vị Samon Cồ Đàm nghe cũng phải đổ mồ hồi luôn. Nhưng tới khi Đức Phật Ngài hỏi thì Saccaka trả lời không nổi, và ông không chịu trả lời, thì vua trời Đế Thích hiện bày ra là thần Kim Cang (Vajirapani) đứng trên đầu Saccaka sẵn sàng đánh đầu Saccaka vỡ bảy nếu Saccaka không trả lời, hình ảnh nầy chỉ có Thế Tôn và Saccaka thấy và biết. Saccaka sợ hãi, hoảng hồn, lông tóc dựng ngược, chỉ có thể tìm thấy sự che chở từ Thế Tôn nên đã trả lời câu hỏi của Thế Tôn, chấp nhận Pháp Chân Thật "Sắc là vô thường, vô ngã... ", chấp nhận quan điểm giáo lý của Thế Tôn, từ bỏ lập luận gian dối, quanh co của mình.
Đức Phật Ngài nói ông Saccaka tên là Chân Thật, nhưng ông không đứng trong vị trí Chân Thật của Pháp Chân Thật, mà ông đứng trong tư kiến của ông. Đức Phật không đụng vô tánh khí của ông Saccaka, mà chỉ nói tới câu chuyện của ông ta nói thôi.
Nếu hành cái pháp đó mà không hành pháp Ba-la-mật (Pārami) mà còn lồng tánh khí của mình vô thì chưa tu tập được, mình phải sửa.
devoted adherence = tín phụng chân thành sư
Trong bài kinh Sakka Panha Sutta - Kinh Đế-Thích Sở Vấn, Ngài xuống vấn đạo một đêm nhờ Càn Thát Bà Pancasikha cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva đứng trước cửa hang núi Indasala nơi Đức Phật đang ngồi thiền, và nói lên bài kệ. Thì Đức Phật xả thiền và cho phép vua trời Đế Thích (Thiên Chủ Sakka) xuống để vấn đạo, hỏi pháp với Đức Phật, thì Thiên Chủ Sakka đắc được Sơ Quả. Ngày hôm sau thì Mục Kiền Liên lên cung trời Đao Lợi hỏi lại, thì lúc đó Ngài đang làm một cái thiên cung mà Chư Thiên cúng dường cho Ngài Sakka.
Thì bà Elizabeth, bà hội trưởng Pali Text Society viết trong quyển Buddhavamsa, bà nói Thiên Chủ Sakka đối với Đức Phật là lòng tín phụng chân thành sư = devoted adherence
Nên mình coi Ngài Sakka là Thiên Chủ, Ngài đắc Sơ Quả, Ngài đối với Đức Phật Gotama với lòng tín phụng chân thành, thì pháp này có pháp Sacca Pārami - Chân Thật Pārami.
Còn mình chưa có pháp Sacca Pārami - Chân Thật Pārami.
Nếu mà chưa thì mình bắt đầu coi lại chỗ nào thì mình bắt đầu sửa
Lòng tín phụng chân thành này phải có Sacca, thì nó mới ra được, nó mới hiện bày được, nó mới hiện thị được. Mình chưa có thì mình trì ra.
Trong quyển Quyển The Buddha and His Teachings (Đức Phật và Phật Pháp) Ngài Narada viết có Pháp Gương, trong 10 Pháp có Pháp Gương, là tấm gương tấm kiếng soi mình. Khi mà mình tới với Pháp Đức Phật mà mình không soi gương để mình nhìn lại mình, thì mình không hiểu.
Cách Sư chia sẻ với quí Phật tử cách học là mình phải soi gương chứ không phải mở kiến thức, kiến thức mở thì rất là tốt, nhưng trong kiến thức mình mở ra mình làm thì soi rọi lại con người của mình, tánh hư tánh xấu, mỗi bước đi mình phải sửa thì mới ra nghĩa của Chuyển Tộc Gotrabhū bỏ phàm thành Thánh. Mình không có sửa thì sao mà chuyển, làm sao mình bỏ phàm để qua Thánh, lúc này là Thánh thiện, là trong sạch rồi, tinh khiết cao quý rồi.
Tại sao Đức Phật không bao giờ khóc ? Tại vì Đức Phật Ngài không có tâm sân. Tâm sân thì tới A-na-hàm (Tam Quả, Bậc Bất Lai) là diệt hết rồi, trong bài kinh Đức Phật nhìn đống xương Ngài vái lạy, Ngài nói xương đen là xương mẹ, xương trắng là xương cha. (Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân)
Vậy thì người đắc Sơ Đạo, Sơ Quả là đức tin về Tam Bảo 100%, không lay chuyển. Cho dù họ Thất Lai, lên xuống 7 lần, trong chánh pháp, quốc độ có chánh pháp, trong trú xứ có tứ chúng hay không, đức tin về Tam Bảo không lung lay, đó là Tu Đà Hườn, là Sơ Đạo, Sơ Quả, đức tin của họ bất di bất dịch, Tín Phụng Chân Thành, không thay đổi.
Trong kiếp này mình còn có chánh pháp, mình còn có tứ chúng, nhưng tới một kiếp nào đó mình sanh ra không có tứ chúng, không có chánh pháp thì bậc Thất Lai họ vẫn vậy, không ai thay đổi họ được.
Bà Vishaka là Sơ Quả Tu-Đà-Hườn (Nhập Lưu) mà bà không dám vượt khỏi gia giáo truyền thống của người chồng, bà Vishaka thuộc gia đình giàu có, khi đi lấy chồng bà là dâu trong nhà chồng, bà cũng không vượt khỏi cái gia giáo của nhà chống, bây giờ cha chồng không cho để bát cho vị tỳ kheo đi khất thực trước nhà, bà không dám tự động để bát cho vị tỳ kheo đó, bà giữ bổn phận và bà không vi phạm gia giáo của nhà chồng dù bà là Thất Lai.
Hay ở chỗ đó, mình phải học ở chỗ đó. Chứ mình nói "Tôi muốn dâng bát là tôi dâng" thì là sai. Mình phải học cái đó liền. Bà Visakha giữ đúng vị trí của bà, và không ai chê trách bà được.
Do đó, mỗi cái đó mình phải gương soi lại, mình đọc kinh sách mình thấy và mình phải soi lại mình. Pháp là phải học thì mình mới sửa thói quen của mình.
Nên mỗi một pháp mình phải nghiệm cái pháp đó mình đang tu, mình học pháp đó, câu đó, quyển sách đó hay lời dạy đó, mình phải tu, chứ không có ý kiến phê bình gì trong này.
Mình phải nhìn thấy ông cha chồng của bà Visakha với vị tỳ kheo đứng trước cửa nhà có duyên với nhau, bà Visakha đứng ở giữa chỉ là thấy pháp chứ không có chi pháp. Cha chồng với nhà Sư đó có duyên trong kiếp trước, mình đứng ở giữa không được can dự vô. Nếu ở trong nhà của mình, trong điều kiện của mình mà mình không làm thì mình khó làm. Còn mình vô nhà của người ta, ở trong vị trí người ta, người ta làm hay không làm thì đó là duyên của người ta, mình không có trong đó. Bà Visakha nói cha chồng ăn cơm nguội là muốn sửa muốn nhắc nhở ông cha chồng.
Có 2 điều không sửa được : tài hơn ta, đức hơn ta. Mình không đủ tài không đủ đức
Nên mình đọc cho kỹ và mỗi một Pháp đều là Pháp Gương soi, và những Pháp Gương soi đó mình coi lại một cách chân thật cái pháp chân thật của mình về sự tu tập của mình.
Nói về trì giới. Đức Phật nói mình trì giới nguyện, đứt thì xin trì giới lại, nhưng không hành để mà sửa.
Mình giữ giới là giới nguyện.
Tại sao Đức Phật nói Pothila ông là pháp sư rỗng tuếch, ông chỉ nói pháp hay thôi, chứ ông không có tu sửa gì hết. Tới ông Sadi 7 tuổi đắc quả Alahan sửa ông pháp sư rỗng tuếch Pothila lội xuống ao lội sình rồi tự Pothila sửa, ông sadi chỉ nhắc thôi. Thật ra Pothila dạy 18 tăng đoàn nhưng ông không sửa cho mình, ông lấy Pháp để thuyết giảng, chứ không phải ông lấy Pháp để tu sửa cái tánh tình tập khí của mình.
Một vị Sơ Quả tín phụng chân thành, quyết lòng chân thật để mình tôn kính Đức Phật thì mình cứ làm đi thì mình mới chân thật, mình phải nói chân thật này có chú nguyện với nguyện ướt của mình hay là nguyện vọng của mình hay là tâm trí của mình lúc đó.
Giới nguyện có 3 bậc: Bậc thường, bậc trung, bậc thượng.
Thí dụ, như là Chánh Đẳng Giác, Độc Giác, Thinh Văn Giác.
Nhìn thấy chữ Độc Giác Paccekabuddha mình phải nghiệm ra mới thấy mới giật mình. Ngài không thuyết pháp, Ngài không dạy, Ngài tự tu, tự chứng, tự đắc, tự giải thoát, nhưng mỗi một pháp Ba-la-mật (Pārami) Ngài phải làm 2 lần.
Còn bậc Thinh Văn Giác tự tu tự chứng, tự đắc, tự giải thoát, mà dạy lại được, tại vì mỗi Pháp của bậc Thinh Văn Giác nhờ vị Chánh Đẳng Giác đã làm sẵn rồi, và họ đi một đường thẳng thôi, không có lập lại.
Nên vị Độc Giác Ngài phải làm đi làm lại 2 lần mỗi pháp Ba-la-mật (Pārami) .
Mình phải nghiệm lại, vị Độc Giác này mỗi một pháp Ngài tự làm, tự tu ra, không hề chỉ dạy, thì chắc chắn phải 2 lần, lần đầu sai thì sửa, lần đầu không đúng sửa, lần đầu chưa chuẩn phải sửa.
Bây giờ mình đang ở vị trí Thinh Văn Giác, thì mình được có điều nào mình biết phải tìm cái đó. Mình Thinh Văn Giác là đã có điều kiện của Chánh Đẳng Giác rồi. Mà Chánh Đẳng Giác bây giờ mình đang là Thinh Văn Giác mình có Giáo Pháp của Ngài để lại rồi, không cần phài làm 2 lần, mà có cái là mình phải nghiệm suy cho thật chính xác thì mình làm một lần là xong là thành Chánh Đẳng Giác. Còn nếu mà cô cứ làm như vậy mà hai lần coi chừng cô rớt xuống cái thế Độc Giác, tại vì nó qua đợt của Thinh Văn Giác là hết. Phúc bất trùng lai, phúc không trở lại 2 lần. Hễ mình sợ mình lo.
Xả thí của vị Độc Giác ai dạy ? Thời của Ngài Độc Giác không có giáo pháp của bậc Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, thì bắt đầu là Ngài xả thí thiện, xả thí lần thứ 2 mới là xả thí toàn thiện.
Còn bây giờ mình đang ở là thời Thinh Văn Giác có giáo lý của Đức Phật, mà mình cũng làm 2 lần, lần đầu là xả thí thiện thấy mình còn bỏn xẻn nên làm lần 2 là xả thí toàn thiện, như vậy là mình có chủng tử của Độc Giác Pacceka và đang hành Thinh Văn Giác
Tới thời kỳ không có giáo pháp Đức Phật Chánh Đẳng Giác và trong thời kỳ đó nó có hiện bày ra một cái là thời kỳ đó là thời kỳ của Độc Giác.
Và có thời kỳ đó chưa phải là thời kỳ Độc Giác, cũng không phải thời kỳ Thinh Văn Giác, mà là thời kỳ sơ khai của quả địa cầu thành lập nó cũng có thì các quí Ngài Thất Lai đã hết tuổi thọ hay là phước của họ xuống hay lên của người đó, thì lúc đó cái gì cái giới của Ngài đang có là Thường giới Niccasīla, Ngài sống trong Thường Giới, chứ không xoay chuyển được giới hạnh giới đức của Ngài.
Niccasīla Thường Giới là nền tảng của đạo đức phải nằm trên chánh pháp hay là giáo pháp của một vị Phật mà họ đã học từ trong quá khứ, rồi Ngài mới xuống đây sống không sát sanh, không tà dâm, không trộm cắp, không nói dối, đời sống rất trong sạch, thân ngự ý các Ngài luôn luôn vậy.
Hai thời kỳ:
1 là thời kỳ của Độc Giác.
2 là thời kỳ mới thành lập quả địa cầu có Thường giới Niccasīla.
Như vậy thì mình ở trong 2 thời kỳ đó thì sẽ thấy mình đã có chủng tử có Thường giới Niccasīla hay là không có ?
Trong Biên Niên Sử Phật Buddhavamsa ghi rằng: Có một kiếp Đức Phật Paduma là Phật Liên Hoa Sen, thì kiếp đó Bồ Tát Gotama của chúng ta Ngài là con sư tử, Chú Giải giải thích Ngài đi theo Đức Phật Paduma Phật Liên Hoa Sen một tuần lễ, không phải đi theo để phụng sự, không phải đi theo để ngăn ngừa các loài thú khác hại Đức Phật Paduma, tại vì Đức Phật Paduma Ngài đang ở trong rừng, Ngài chuyên trong độc cư thiền định của Ngài.
Thì bà Elizabeth nói thế này: Lúc đó là Đức Phật Paduma "engaged in solitary meditation" mình không dịch là tham dự mà dịch là "chú tâm trong độc cư thiền định", thì con sư tử đi theo Ngài không phải để ngăn ngừa các thú dữ đừng làm hại khi Đức Phật Paduma đang trú trong thiền, mà một tuần đó con sư tử tu tập mượn cái độc cư thiền định của Đức Phật Paduma mà sư tử không đi bắt mồi để mà chết bỏ xác thân sư tử.
Đọc tới đó là rúng động liền, vì ở bên một vị Phật không phải để ngăn ngừa các thú dữ làm hại Đức Phật, mà là để tu tập, không bỏ cơ hội, nhịn ăn luôn một tuần lễ, không bắt mồi, khắc chế liền.
Mình thấy cái pháp đó, mà ai dạy, Đức Phật Paduma thì vô thiền rồi, con sư tử tới ở với Ngài một tuần lễ, nhưng con sư tử không đi bắt mồi, Ngài ở đó luôn, nhưng Ngài không phải chết trong cái đói, Ngài chết trong pháp hỷ và thành tựu trong Ba-la-mật (Pārami) , giới của Ngài trong sạch.
Một lần Đức Phật Gotama Ngài vô trong rừng già sau khi 2 phe tỳ khưu ở tại phố Kosabim tranh chấp nhau vì gáo nước ở trong nhà tắm, Đức Phật Ngài bỏ vô rừng ẩn cư thì con khỉ và con voi bảo vệ Ngài, chứ không phải như con sư tử, và 2 vị đó con khỉ và con voi đang hành pháp thiện, còn con sư tử đến với Đức Phật Paduma hành Ba-la-mật (Pārami) . Thì con khỉ và con voi sẽ tiếp tục đi tái sinh về trời rồi trở lại làm người và họ tiếp tục trong sự tu tập, chứ chưa đạt quả giải thoát. Còn con sư tử đã tới đó rồi là nó chỉ hành Ba-la-mật (Pārami) để thành tựu sự giải thoát.
Vậy thì khi mình học pháp học của Đức Phật Chánh Đẳng Giác và Thinh Văn Giác thì mình đang hành theo con voi con khỉ, hay là hành theo con sư tử với Đức Phật ?
Mình đọc pháp đó mình soi ra liền, mình đọc cái đó mình nghiệm ra liền, bà Elizabeth nói không phải con sư tử đi theo Đức Phật để bảo vệ sự quấy nhiễu của các con thú khác để làm khó Đức Phật Paduma đang độc cư thiền định mà nó khắc chế thân ngự ý của nó để nó không tạo ra thói quen của nó, săn mồi là thói quen của con sư tử, nó chịu giải thoát chứ không chịu sinh tử luân hồi.
Trong quyển Biên Niên Sử của Chư Phật , Chú Minh III, quyển màu xanh, phần mục lục
1. Hai Thể Loại Chân Lý trang 147
8. Chân Lý Thánh Nhân trang 162
Ngài lấy tiêu chí, lấy cái tiêu điểm, lấy cái chỗ điểm gốc để mà hành pháp Chân Thật hay là hành pháp Ba-la-mật (Pārami) trên pháp Chân Thật này là Niết-bàn (trang 177), mình muốn vượt qua khỏi cửa Níp-bàn là mình phải qua cửa Tứ Đế.
Rất là rõ ràng.
Sư nói về Pháp Chân Thật Ba-la-mật (Pārami) để phá hoài nghi kiết sử của mình thì mấy cô thấy trong 8 hoài nghi :
1. Hoài nghi ân đức Phật.
2. Hoài nghi ân đức Pháp.
3. Hoài nghi ân đức Tăng.
4. Hoài nghi về tam học (giới - định - tuệ).
5. Hoài nghi về quá khứ.
6. Hoài nghi về vị lai.
7. Hoài nghi về hiện tại.
8. Hoài nghi về lý duyên khởi (liên quan tương sinh)
Thì Hoài nghi về Liên Quan Tương Sinh, Hoài nghi về Tam Học Giới Định Tuệ. Tất cả đều xoay quanh trong điểm này, cũng trong Tứ Đế và Giới Định Tuệ và trong Pháp Chân Thật trong con đường tu.
Nên một pháp Chân Thật Ba-la-mật (Pārami) này mình đọc để biết mình có Pháp Chân Thật này mình có như thế nào, nguyện vọng của mình, từ cái ngữ nữa, trong cái ngữ, trong lời nói của mình Saccavācā lời nói chân thật, cái hạnh của mình Saccakiriyā là nguyện vọng của mình, Saccapārami Chân Thật Balamat, Upekkhāpāramī Hành Xả Balamat. Những cái đó có sẵn hết, thì mình phải đi tới sự tu tập, có sẵn hết mình ngồi nghiệm ra, mỗi ngày đọc một chút.
Pháp Chân Thật là vậy, nhưng mình không có chú nguyện. Pháp Chân Thật phải có chú nguyện để tới Níp-bàn, diệt khổ. Mình cứ sống theo cái trôi lăn của mình.
Thiền sinh hỏi: tất cả những pháp mình coi qua những pháp chân lý là pháp học trong kinh điển, nhưng cái mà dẫn đi tới thì cái đó là chân lý thực tiễn đưa ra 3 phần thì cái đó có nghĩa là mình phải tu sửa theo,
HT trả lời: Mình tu sửa từng bước.
Thí dụ như chân lý ngôn từ tức là nói năng chân thật thì mình phải nói chân lý này nằm trong niềm tin thì mình rớt vô cái chân lý đức tin, tin nhân, tin quả, và tin trí tuệ của Đức Phật, rồi tin mỗi chúng sinh có nghiệp riêng. Thì cái đó là chân thật. Pháp đó là pháp thật. Lời nói mình nói ra đúng với pháp đó là pháp thật nhưng nó phải có nhân quả, chứ không phải pháp thật suông.
Thí dụ.
Đức Phật Ngài nói ông Ariya ngồi câu cá. Đức Phật nói tên gọi Ariya mà ngồi câu cá không xứng danh Ariya.
Đức Phật Ngài nói Tính Thực Đế (Sabhāva sacca) , lời nói của Ngài nói thật, cái lời nói này có xác thật, lời nói của Ngài có Tính Thực Đế là lời nói này có xác thật là có đáng tin không, có thật là đáng cho mình tin không ? Thì mình nói Tính Thực Đế.
Còn nếu như lời nói này chân thật nhưng không đáng tin và không chắc tin và không có tin được thì cái đó chưa gọi là Tính Thực Đế.
Tên gọi của ông là Ariya, mà ông ngồi câu cá, ông không có ăn thua gì trong cái tên của ông. Nhưng Ngài lồng câu chuyện ông ngồi câu cá với cái tên gọi của ông mà Ngài nói một bài pháp thoại để cho ông này thức tỉnh, thì mình mới nghiệm ra.
Ông ngồi câu cá, một người có trí tuệ nói "Bạch Đức Thế Tôn, ông câu cá, trong kiếp quá khứ con cá câu ông, bây giờ ông câu lại." Đó là oan trái, còn tên gọi chỉ là chế định, một cái tục đế, không ăn thua gì trong này. Nhưng Ngài vẫn nói và không ai bẻ được Ngài, vì Ngài xác nhận là hồi đó ông này bị cá câu bây giờ ông câu lại cá, Ngài nói nhân quả, Ngài giải thích được và Ngài độ được ông này. Đó là Tính Thực Đế. Lời nói của mình xác thực mà đáng tin cậy, chứ không phải trạng thái mà ngông cuồng được, hay là vu vơ không có kết quả.
Trong quyển Biên Niên Sử của Chư Phật , Chú Minh III, quyển màu xanh,
Natural Truth (Sabhāva Sacca) And
Noble Truth (Ariya Sacca) Chân Lý Chính Thường (Thực Tính Đế) Và Chân Lý Thánh Nhân (Thánh Đế)
trang 163
Chân Lý Tối Hậu có hai thể loại:
(a) Chân Lý Chính Thường Natural Truth - Sabhāva Sacca -Thực Tính Đế và
(b) Chân Lý Thánh Nhân - Noble Truth - Ariya Sacca - Thánh Đế .
Tất cả bốn Pháp thực tại tối hậu, đó là, tâm thức (Tâm), các Pháp bạn tùy về mặt tinh thần (Tâm Sở), vật chất (Sắc) và Níp Bàn, tạo thành Chân Lý Chính Thường bởi vì chúng có thực ở trong ý nghĩa tuyệt đối của chúng.
Trong lĩnh vực của các sự việc thuộc về thế tục (Hiệp Thế Sự Vụ), thì có cả hai niềm hạnh phúc về thể chất (Lạc) và về tinh thần (Hỷ Thọ) mà tạo thành Chân Lý Chính Thường (Natural Truth - Sabhāva Sacca -Thực Tính Đế). Nếu như một người tiếp xúc với một đối tượng duyệt ý, do bởi sự đụng chạm ấy, thì có khởi sinh niềm hạnh phúc ở trong con người của mình. Không ai có thể phủ nhận khi nói rằng “Không, điều ấy thì không đúng sự thực” hoặc “Không, thật là không tốt được tiếp xúc với một đối tượng duyệt ý.” Không ai có thể nói như vậy, bởi vì thực tế là người ta thực sự hạnh phúc được tiếp xúc với một cảnh xúc trần chẳng hạn như một thân thể khả ái (Cảnh Xúc Duyệt Ý).
Một cách tương tự, nếu như tâm thức của người ta tiếp xúc với một đối tượng thuộc tâm thức (Cảnh Pháp) duyệt ý thì người ta thụ hưởng lấy niềm hạnh phúc về mặt tinh thần. Một cảm giác như vậy được gọi là Hỷ Thọ. Điều này thì bất khả biện bác, bởi vì việc khởi sinh của niềm hạnh phúc về mặt tinh thần là một thực tại. Vì vậy cần phải hiểu rằng cả hai Lạc và Hỷ Thọ hiện hữu ở trong các sự việc thuộc về thế tục (Hiệp Thế Sự Vụ).
ooOoo
Nên chữ "Tính Thực Đế (sabhāva sacca) " đặt trên nhân quả và đáng tin cậy và không có một lý giải hay kiến giải làm lung lay để phá được, đó là Tính Thực Đế.
Bây giờ mình làm một cái gì đó trong một pháp chân thực mình phải làm cho người ta thực sự là tin, đáng tin và người ta phải tin, chứ không bắt người ta hay làm cho người ta có một cái gì suy nghỉ.
Trong một câu chuyện, có một vị sư hay một vị thầy, nói:
Khi chúng ta sống thiện lương trong sạch, giải quyết được hết tất cả các nghiệp của ta, sống thiện lương trong sạch thì ta giải quyết được hết các nghiệp của ta trong quá khứ, tội lỗi, nghiệp báo gì ta làm ra thì kiếp này ta sống trong sạch thiện lương đạo đức phúc báu sẽ vượt qua tất cả. Cái này có là Tính Thực Đế không ?
Trong kinh Pháp Cú Đức Phật Ngài nói trong kinh Pháp Cú :
Ai tinh tấn nỗ lực,
làm những việc thiện lành,
bỏ lại sau lưng những nghiệp ác,
như trăng thoát mây che.
Thí dụ, như bây giờ mình sinh ra được làm người, ở trong một gia đình có chánh kiến, ở nơi quốc giáo có chánh pháp, gặp Thầy hay bạn giỏi, mà tinh tấn tu tập, không ngừng không chễnh mãng làm việc thiện, thì quí Phật tử sẽ thoát được cái nghiệp xấu trong quá khứ, trong quá khứ có bao chuyện từ đời đời kiếp kiếp mình không nghĩ tới được (tiềm tiềm vô thủy) thì thoát ra được hết như trăng thoát mây che trong kiếp này.
Cái đó có là Tính Thực Đế không ? Không, và nói như vậy thì không có trong câu kinh Pháp Cú đó.
Không có, nhưng mình phải nói phải cẩn thận.
Đối với các pháp Bất Khả Tư Nghi Acintiya là chỉ có nghiệp báo, không giải đáp, mình chỉ nói theo tư kiến của mình, đó không phải là Tính Thực Đế (sabhāva sacca) .
Đức Phật Ngài tu 23 tăng kỳ, trăm ngàn đại kiếp mà Ngài thành Phật rồi nhưng bệnh kiết lỵ ba tháng vẫn vậy nó rượt bắt Ngài. Trừ khi một người không có Nghiệp Chủ Kammassakatā.
Mình không có kiến văn, mình không có Dassanena = kiến văn mình chỉ có tri kiến suông thôi, vậy mà dám nói, cái nói đó nó không thành tựu Saccapārami Chân Thật Balamat, không có chân thật Ba La Mật Pārami, chỉ có chân thật suông thôi.
Tính Thực Đế, nếu mình không có Tính Thực Đế thì làm sao thành tựu được nguyện vọng mình, nền tảng đó nó không trên một sự thực của nhân quả thì nguyện vọng của mình đặt trên đó một nền tảng không có căn bản.
Thí dụ, "tôi muốn giải thoát", lời nói này có Tính Thực Đế không, phải đặt trên nền tảng đó, thì lời nói đó đi theo sự muốn giải thoát đó là nguyện vọng nó mới có căn bản nó mới thành tựu. Trong khi Tính Thực Đế mình không có, nguyện vọng mình muốn giải thoát, cái đó bất khả thi, nó chỉ là trong ảo giác ảo tưởng, không thực, nên nó đi theo là nguyện vọng mãn tức, thành tựu, viên mãn, đầy đủ, không có ngăn cản, không nhắc tới chuyện quá khứ nữa.
Tính Thực Đế (sabhāva sacca) cái căn bản đầu tiên là đặt trên nền tảng đáng tin của nhân quả nhất định và không lung lay mà có được thì những nguyện vọng của mình theo đó mỗi nguyện vọng mình có đúng theo cái này trên nhân quả này nguyện vọng của mình có khả thi và có thực hiện được không.
Như Ngài Upatissa Ngài chân thành, Ngài có pháp chân thật, đi tới đâu Ngài cũng tìm pháp giải thoát, thầy này tới thầy kia, tới đâu Ngài cũng tìm, Ngài cũng học. Nhưng Ngài không thỏa mãn được, Tính Thực Đế của vị Thầy này nói không có đặt trên nền xác thực tin được, Ngài phải ra đi, nguyện vọng Ngài chưa được mãn túc. Nhưng Ngài nghe một câu của Assaji nói một pháp chân thật và Ngài có sự chân thật nguyện vọng của Ngài muốn giải thoát, thì hợp nhất liền, đắc đạo quả.
Còn mình đi nghe đây, mình không có Tính Thực Đế (sabhāva sacca ) và mình không có nguyện vọng và tính theo đó kiết sử mình bỏ vô và mình sửa hay mình nghĩ ngược lại hay là mình nghĩ thêm vô lời của Assaji nói.
Con người sinh ra là có Nghiệp Chủ Kammassakatā nó theo ta như bóng với hình, nam, nữ, giàu, nghèo, nó làm chủ mình, chứ không phải cha mẹ mình làm chủ mình, cái nghiệp của mình làm chủ mình, mình chỉ mượn phương tiện của cha mẹ mình và nghiệp dắt mình đi.
Bây giờ mình muốn sửa Nghiệp Chủ Kammassakatā mình phải tu tập, phải trau dồi, nghiên cứu học hỏi.
Muốn có Saccapārami Chân Thật Balamat là mình phải tu tập, mình phải coi. Cái gì cũng vậy, mình muốn học, muốn hành, muốn làm thành tựu mình phải có chân thật, Tính Thực Đế xác thực trong niềm tin này không lung lay, nhân quả mình biết rồi, không lung lay được, và mình đi tới con đường này là kiên cố rồi. Và không ai đủ điều kiện để mà lay động được người có pháp Tính Thực Đế (sabhāva sacca) pháp chân thật
Saccavādī người có chân ngôn chân hạnh, người có năng lực, có quyền lực.
Do đó, bây giờ chúng ta chuẩn bị, tới giờ không còn cái gì để mà nói xa nói gần hay là nói vòng vo tam quốc hay là nói đông nói tây, bắt đầu lớp học mình đi tới quyết tâm tu tập sửa đổi./.
---------------------------------------------
Chú Thích
----------------------------------------
sabhāva sacca = Thực Tính Đế = tánh đế
bản chất tự nhiên (sabhava)
thực tính (sabhāva),
sabhāva
bản thể thật (Sabhava)
Acintiya = bất khả tư nghi
Phật Padmasambhava là Phật Liên Hoa Sen
------------------------------
Phân tích thường giới & phi thường giới
- Thường giới (Niccasīla) ám chỉ giới nào khi hành lễ xong rồi thì thành tựu đầy đủ mà không phải thường xuyên thọ trì riêng biệt lại nữa. Và người đó luôn luôn gìn giữ giới này nếu không thì có tội. Giới đó gọi là thường giới.
- Phi thường giới (Aniccasīla) ám chỉ giới nào mà không giữ thì không có tội. Nếu như muốn giữ thì phải xin thọ trì giới đó trước. Giới đó gọi là phi thường giới.
Thường giới 227 và 311 điều học mà Đức Thế Tôn Ngài thuyết giảng trong giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa tỳ kheo (bhikkhupatimokkha) và giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa tỳ kheo ni (bhikkhunīpatimokkha) là thường giới của tỳ kheo, tỳ kheo ni. Thập giới và 75 Ưng Học Pháp là thường giới của sa di. Bát quan trai giới là thường giới của paṇḍaraṇgapabbajita (cận sự nam, cận sự nữ đắp vải trắng, hoặc còn gọi là tu sĩ).
Phi thường giới là hạnh thọ đầu đà, trong 13 pháp đầu đà này là phi thường giới của tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di.
Hạnh thọ trì một pháp đầu đà nào và thập giới là phi thường giới của tu sĩ mặc vải trắng paịđaraịgapabbajita và các đạo sĩ.
Bát quan trai giới, cửu phần giới, thập giới và thọ trì đầu đà hạnh nhất tọa thực hoặc hạnh khất thực. Các pháp này là phi thường giới của cư sĩ
trích trong THẮNG PHÁP TẬP YẾU LUẬN - Hậu Sớ Giải - Tỳ khưu Khải Minh
https://budsas.net/uni/u-tptyl/tptyl02.htm
-------------------------------------
Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Phật nói kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Tôi nghe thế nầy: một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người, cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi, Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng: "Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Quý, Thầy cả ba cõi, Cha lành bốn loài, thiên thượng nhân gian thảy điều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia?"
-- "Nầy A-Nan, Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe, đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trước của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta."
-- "Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời, phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái, hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới . Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt được."
Ðây là lời Phật:
-- "Này A-Nan, về bên nam giới, trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cỡi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới.
Còn như nữ giới, trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mổi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mổi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen."
-----------------------------------
Gương Pháp, tiếng Hán gọi là Pháp kính (法 鏡), tiếng Pali là Dhammādāsa, nghĩa là tấm gương Pháp, tấm gương soi rọi sự thật. Chỉ cần nhìn vào tấm gương này nếu thấy mình có trong đó, thấy mình được phản chiếu trong đó thì biết một cách chắc chắn rằng ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh sẽ không có mặt mình. Ngược lại, nếu nhìn vào tấm gương này mà không thấy có mình, mình không được phản chiếu trong đó thì biết một cách chắc chắn rằng mình sẽ đọa lạc một trong ba đường ác.
Gương Pháp đó là, Thánh đệ tử đạt được niềm tin bất hoại:
1- Hoan hỷ tin Phật là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu.
2- Hoan hỷ tin Pháp là giáo pháp chân chánh vi diệu, do Phật tuyên thuyết, vượt thoát thời gian, chỉ bày đường đến Niết-bàn, được người trí thực hành theo.
3- Hoan hỷ tin Tăng là đoàn thể những người khéo sống hòa đồng, hành động chất trực, không hề dối trá, đạo quả thành tựu, trên dưới hòa thuận, đầy đủ pháp thân, hướng Tu-đà-hoàn, đắc quả Tu-đà-hoàn, hướng Tư-đà-hàm, đắc quả Tư-đà-hàm, hướng A-na-hàm, đắc quả A-na-hàm, hướng A-la-hán, đắc quả A-la-hán, đó là bốn đôi tám bậc, chính là chúng Hiền Thánh của Như Lai, rất đáng để cung kính, là ruộng phước thế gian.
4- Hoan hỷ tin Giới của hiền Thánh là thanh tịnh không nhiễm, không có khiếm khuyết, bậc minh triết hành theo, đắc định Tam-muội.
Gương pháp là Tứ bất hoại tín, là Bốn niềm tin không bao giờ thay đổi, không bao giờ hư hoại, hay không bị thối chuyển đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới.
Bốn niềm tin này như một tấm gương, và người Phật tử sau khi quy y Tam bảo, phát nguyện giữ gìn Năm giới, được bổn sư trao cho tấm phái quy y, hay giấy chứng nhận quy y, chính là trao cho chúng ta một tấm gương, hằng ngày chúng ta tự soi mình vào đó, để xem với bốn pháp mình đã quy y mình có giữ gìn trọn vẹn không? Nếu được trọn vẹn, được thanh tịnh, được không lay chuyển tức là mình đã đạt được niềm tin bất hoại, ngay đó mình tự biết ba đường ác không còn có mặt mình, tức là được dự vào dòng Thánh, chứng quả Dự lưu.
https://giacngo.vn/guong-phap-post66672.html
-------------------------------------
chú nguyện Adhiṭṭhāna
Dassanena = kiến văn, kiến giải
Dassanena Pahàtabba - Kiến Giải Đoạn Trừ
------------------------------------------------
Pariccāga gọi là Phóng Khí, là không để ý tới.
Dứt Bỏ (cāga). Chữ pariccāga = pari+ cāga; pari là trọn vẹn, cāga là lìa bỏ, bỏ đi.
Chữ pariccāga theo nguyên ngữ là "buông bỏ trọn vẹn"
-----------------------------
RATANASUTTĀRAMBHO
TỤNG BỐ CÁO KINH TAM-BẢO
Paṇidhānato paṭṭhāya Tathāgatassa
dasa pāramiyo dasa upapāramiyo
dasa paramatthapāramiyo
pañca mahāpariccāge tisso cariyā
pacchimabbhave gabbhāvakkantiṃ jātiṃ
abhinikkhamanaṃ padhānacariyaṃ
bodhipallaṅke māravijayaṃ.
Chúng ta nên đem lòng từ thiện, (đối với tất cả chúng sanh) như Đại đức ĀNANDA, đã suy tưởng đều đủ các công đức của Phật, từ khi mới phát nguyện thành bậc Chánh-đẳng Chánh-giác, là tu 10 phép Ba-rá-mi (PĀRAMĪ) [3], 10 phép Ú- bá-ba-rá-mi (UPAPĀRAMĪ) [4], 10 phép Bá-rá-mát thá-ba-rá-mi (PARAMATTHAPĀRAMĪ) [5] , 5 phép đại thí [6], 3 phép hành [7].
Sabbaññutaññāṇappaṭivedhaṃ
nava lokuttaradhammeti sabbepime
buddhaguṇe āvajjitvā Vesāliyā tīsu
pākārantaresu tiyāmarattiṃ parittaṃ
karonto āyasmā Ānandatthero viya
kāruññacittaṃ upaṭṭhapetvā.
Tư cách giáng sanh vào lòng mẹ trong kiếp chót.
Tư cách ra đời.
Tư cách xuất gia.
Tư cách tu khổ hạnh.
Tư cách cảm thắng Ma Vương.
Tư cách chứng quả Chánh-Biến-Tri trên Bồ-đoàn.
Chín Phép Thánh.
Suy tưởng xong rồi; Đại đức ĀNANDA tụng kinh PARITTA [8] cả đêm, trọn đủ 3 canh, tại trong 3 vòng thành VESĀLĪ .
Koṭisatasahassesu,
Cakkavāḷesu devatā,
Yassānampaṭiggaṇhanti,
Yañca Vesāliyaṃ pure,
Rogā manussadubbhikkha-
Sambhūtantividhaṃ bhayaṃ,
Khippamantaradhāpesi,
Parittantambhaṇāma he.
Tất cả Chư Thiên trong mười muôn triệu thế giới Ta-Bà, đều được thọ lãnh oai lực kinh PARITTA. Kinh PARITTA đã làm cho 3 điều kinh sợ phát sanh, là: Bịnh tật, Phi nhơn và sự Đói khát trong thành VESĀLĪ được mau tiêu diệt. Chư Thiên nầy, nay chúng tôi tụng kinh PARITTA ấy.
-ooOoo-
RATANASUTTA
KINH TAM-BẢO
Yānīdha bhūtāni samāgatāni,
Bhummāni vā yāniva antalikkhe.
Hạng Bhūta là Chư Thiên ngự trên địa cầu, hoặc hạng Bhūta là Chư Thiên ngự trên hư không thế giới, mà đến hội họp nơi đây.
Sabbeva bhūtā sumanā bhavantu,
Athopi sakkacca suṇantu bhāsitaṃ.
Cầu xin tất cả hạng Bhūta ấy, mở lòng từ thiện, và đem lòng thành kính mà nghe Phật ngôn.
Tasmā hi bhūtā nisāmetha sabbe,
Mettaṃ karotha mānusiyā pajāya,
Divā ca ratto ca haranti ye baliṃ.
Tất cả chư bhūta được nghe kinh PARITTA rồi, nên mở lòng Bác ái đối với chúng sanh, thuộc về nhơn loại, là những người hằng đem của bố thí đêm ngày không dứt.
Tasmā hi ne rakkhatha apamattā,
Yaṃkiñci vittaṃ idha vā huraṃ vā,
Saggesu vā yaṃ ratanaṃ paṇītaṃ,
Na no samaṃ atthi Tathāgatena.
Vì đó, các Ngài chẳng nên lãnh đạm, cầu xin hộ trì những người ấy. Tài sản trong thế gian nầy, hoặc trong thế giới khác hoặc trân châu quý trọng trên Thiên thượng. Cả tài sản và trân châu ấy, cũng chẳng sánh bằng Đức Như Lai.
Idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ.
Đức Phật nầy như trân châu quý báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Khayaṃ virāgaṃ amataṃ paṇītaṃ,
Yadajjagā Sakyamunī samāhito.
Đức Giáo-chủ SAKYAMUNI là bậc thanh tịnh, đại ngộ các pháp diệt trừ phiền não, dứt khỏi tình dục, là Pháp bất diệt, là Pháp cao thượng.
Na tena dhammena samatthi kiñci.
Chẳng có chi sánh bằng Pháp ấy.
Idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ.
Pháp-Bảo nầy như trân châu quý báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Yaṃ Buddhaseṭṭho parivaṇṇayī suciṃ.
Đức Phật cao thượng hằng khen ngợi Pháp Thiền định (SAMĀDHI) là Pháp trong sạch.
Samādhimānantarikaññamāhu.
Các bậc Trí tuệ, đã giảng giải về Pháp Chánh Định là Pháp sanh quả theo thứ tự.
Samādhinā tena samo na vijjati.
Thiền định khác chẳng thể sánh bằng.
Idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ.
Pháp-Bảo nầy như trân châu quý báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Ye puggalā aṭṭhasataṃ pasatthā,
Cattāri etāni yugāni honti,
Te dakkhiṇeyyā Sugatassa sāvakā.
Những hạng tu hành có 8 bậc, mà các Thiện trí thức đã ngợi khen, các bậc ấy đều là Thinh Văn, đệ tử của Đức SUGATO [9], các Ngài đáng thọ lãnh những vật thí, của người tin lý nhân quả đem đến dâng cúng.
Etesu dinnāni mahapphalāni.
Những sự bố thí đến các bậc (DAKKHIṆEYYA PUGGALĀ) [10], là việc bố thí được kết quả rất nhiều hạnh phúc.
Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.
Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Ye suppayuttā manasā daḷhena,
Nikkāmino Gotamasāsanamhi.
Các bậc Thánh nhơn trong giáo Pháp của Đức Chánh-Biến-Tri hiệu GOTAMA [11], đã hành theo lẽ chánh rồi có lòng bền chắc, chẳng còn ái dục.
Te pattipattā amataṃ vigayha,
Laddhā mudhā nibbutiṃ bhuñjamānā.
Các bậc Thánh nhơn ấy đã chứng quả A-LA -HÁN, đã nhập Niết-bàn, đã tắt lửa phiền não, và đã hưởng đạo-quả rồi.
Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.
Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Yathindakhìlo paỉhaviư sito siyà,
Catubbhi vātebhi asampakampiyo.
Cột cừ đã đóng cứng dưới đất, dầu gió 4 phương cũng không lay động, thế nào.
Tathūpamaṃ sappurisaṃ vadāmi,
Yo ariyasaccāni avecca passati.
Người hay suy xét thấy các Pháp Diệu-Đế, Như Lai gọi người ấy là bậc Thiện Trí Thức, hạng không tham nhiễm các Pháp thế gian, ví như cột cừ kia vậy.
Idampi sanghe ratanaṃ paṇītaṃ.
Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Ye ariyasaccāni vibhāvayanti.
Các bậc Thánh nhơn thấy rõ các Pháp Diệu-Đế.
Gambhīrapaññena sudesitāni,
Kiñcāpi te honti bhusappamattā,
Na te bhavaṃ aṭṭhamamādiyanti.
Mà Đức Như Lai có Trí tuệ thậm-thâm đã giảng dạy đứng đắn. Các bậc Thánh nhơn ấy dầu có dể duôi, cũng chẳng thọ sanh đến kiếp thứ 8, là chẳng luân hồi quá 7 kiếp.
Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.
Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Sahāvassa dassanasampadāya,
Tayassu dhammā jahitā bhavanti,
Sakkāyadiṭṭhi vicikicchitañca,
Sīlabbataṃ vāpi yadatthi kiñci.
Bậc được chứng đạo-quả Tu-Đà-Hườn, thì đã dứt khỏi 3 phép chướng ngại thường có là Thân Kiến, Hoài Nghi và Giới Cấm Thủ.
Catūhapāyehi ca vippamutto,
Cha cābhiṭhānāni abhabbo kātuṃ
Bậc Tu-Đà-Hườn đã thoát khỏi cả 4 đường dữ, không còn phạm 6 điều ác, là 5 tội đại nghịch, và cách xu hướng theo ngoại-đạo.
Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.
Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Kiñcāpi so kammaṃ karoti pāpakaṃ,
Kāyena vācāyuda cetasā vā,
Abhabbo so tassa paṭicchadāya.
Nếu bậc Tu-Đà-Hườn vô tâm phạm điều tội lỗi do thân, khẩu, ý, các Ngài cũng chẳng giấu giếm.
Abhabbatā diṭṭhapadassa vuttā.
Nết hạnh của bậc đã thấy đạo quả Niết-bàn, bậc không có thể giấu kín nghiệp dữ, mà Đức Phật đã giảng dạy rồi.
Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.
Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Vanappagumbe yathā phussitagge,
Gimhānamāse paṭhamasmiṃ gimhe,
Tathūpamaṃ dhammavaraṃ adesayi,
Nibbānagāmiṃ paramaṃ hitāya.
Pháp cao thượng mà đức Chánh-Biến-Tri đã giảng giải, là Pháp có thể tiếp dẫn chúng sanh đến Niết-bàn, cho được sự lợi ích cao thượng. Pháp ấy ví như cây trong rừng, sanh chồi trong đầu mùa hạn.
Idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ.
Đức Phật nầy như trân châu quí báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Varo varaññū varado varāharo.
Đức Chánh-Biến-Tri là bậc cao thượng, Ngài suốt thông Pháp cao thượng, Ngài thí Pháp cao thượng, Ngài đem đến Pháp cao thượng.
Anuttaro dhammavaraṃ adesayi.
Ngài là bậc vô thượng, đã diễn thuyết các pháp cao thượng.
Idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ.
Đức Phật nầy như trân châu quí báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Khīṇaṃ purāṇaṃ navaṃ natthi sambhavaṃ.
Nghiệp cũ của các bậc Thánh nhơn đã dứt hẳn rồi, nghiệp mới cũng chẳng phát sanh.
Virattacittāyatike bhavasmiṃ,
Te khīṇabījā avirūḷhichandā.
Các bậc Thánh nhơn nào đã chán nãn trong việc thoát sanh. Hạt giống đã đoạn tận, lòng dục không tăng trưởng.
Nibbanti dhīrā yathāyampadīpo.
Là bậc có Trí tuệ thường được viên tịch cũng như ngọn đèn tắt vậy.
Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.
Etena saccena suvatthi hotu.
Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.
Yānīdha bhūtāni samāgatāni,
Bhummāni vā yāniva antalikkhe,
Tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ,
Buddhaṃ namassāma suvatthi hotu.
Hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên địa cầu, hoặc hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên hư không, mà đến hội họp nơi đây, xin đồng cùng chúng tôi làm lễ Chư Phật, là các đấng Giáo Chủ đã được chứng quả giống nhau, mà Chư Thiên cùng nhơn loại thường hay cúng dường, cầu xin được phát sanh thạnh lợi.
Yanīdha bhūtāni samāgatāni,
Bhummāni vā yāniva antalikkhe,
Tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ,
Dhammaṃ namassāma suvatthi hotu.
Hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên địa cầu, hoặc hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên hư không, mà đến hội họp nơi đây, xin đồng cùng chúng tôi làm lễ các Pháp đã có giống nhau, mà Chư Thiên cùng nhơn loại thường hay cúng dường, cầu xin được phát sanh thạnh lợi.
Yānīdha bhūtāni sāmāgatāni,
Bhummāni vā yāni va antalikkhe,
Tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ,
Saṅghaṃ namassāma suvatthi hotu.
Hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên địa cầu, hoặc hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên hư không, mà đến hội họp nơi đây, xin đồng cùng chúng tôi làm lễ Chư Tăng đã có giống nhau, mà Chư Thiên cùng nhơn loại thường hay cúng dường, cầu xin được phát sanh thạnh lợi.
------------------------------------
BUDDHAJAYAMANGALAGĀTHĀ
KỆ TỤNG VỀ SỰ CẢM THẮNG VĀ HẠNH PHÚC
1) Bāhuṃ sahassamabhinimmitasāvudhantaṃ,
Grīmekhalaṃ uditaghorasasenamāraṃ,
Dānādidhammavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật cao thượng hơn các bậc Trí tuệ, Ngài đã cảm thắng Ma Vương, Ma Vương biến ngàn cánh tay đều cầm khí giới, cỡi voi Gri-mê-khá-lá (Grīmekhala) đủ cả binh ma, tiếng hét la vang rền. Nhờ Pháp Thập độ, nhứt là Pháp Bố thí, mà Đức Phật cảm thắng được Ma Vương. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
2) Mārātirekamabhiyujjhitasabbarattiṃ,
Ghorampanāḷavakamakkhamathaddhayakkhaṃ,
Khantīsudantavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật đã cảm thắng Dạ-xoa A-lá-quá-cá (Āḷavaka) rất cang ngạnh, không lòng nhẫn nhục, khoe tài trọn đêm cùng Đức Phật, Dạ-xoa rất hung ác, cảm dõng hơn Ma vương, đã bị đức Chánh Biến Tri dùng phép nhẫn nhục thâu phục rồi. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
3) Nāḷāgiriṃ gajavaraṃ atimattabhūtaṃ,
Dāvaggicakkamasanīva sudārunantaṃ,
Mettambusekavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật đã cảm thắng voi Na-la-gí-rí (Nāḷāgiri) đến cơn hung ác dữ tợn như lửa rừng, như sấm sét, nhờ rải lòng Từ bi, mà đức Chánh Biến Tri cảm thắng được (voi ấy). Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
4) Ukkhittakhaggamatihatthasudārunantaṃ,
Dhāvantiyojanapathaṅgulimālavantaṃ,
Iddhībhisaṅkhatamano jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật dùng phép Thần thông, cảm thắng Ăng-gú-lí-ma-lá (Angulimāla), kẻ cướp sát nhơn, cắt ngón tay người xỏ làm tràng hoa, kẻ quá hung bạo nhưng rất tinh nhuệ, cầm gươm rượt đức Chánh Biến Tri xa ba do tuần. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
5) Katvāna kaṭṭhamudaraṃ iva gabbhinīyā,
Ciñcāya duṭṭhavacanaṃ janakāyamajjhe,
Santena somavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật đã khử trừ lời dữ của nàng Chinh-Cha (Ciñcā), nàng dùng cây tròn giống dạng đứa bé trong thai, giả làm phụ nữ mang thai. Nhờ dùng phép Chánh Định, mà đức Chánh Biến Tri cảm thắng nàng giữa chốn đông người. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
6) Saccaṃ vihāya matisaccakavādaketuṃ,
Vādābhiropitamanaṃ ati-andhabhūtaṃ,
Paññāpadīpajalito jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật sáng suốt nhờ ngọn đèn tuệ. Ngài đã cảm thắng kẻ ngoại đạo Sách-chá-cá (Saccaka), là kẻ không ngay thật, chỉ ưa thích sự nâng cao lời nói mình như dựng cột phướng, kẻ rất si mê, chẳng khác người mù. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
7) Nandopanandabhujagaṃ vibudhaṃ mahiddhiṃ,
Puttena therabhujagena damāpayanto,
Iddhūpadesavidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật dạy Đại đức Mục-Kiền-Liên, biến làm Long Vương, để thâu phục Rồng chúa Nanh-đô-bá-nanh-đá (Nandopananda), là rồng tà kiến, có nhiều thần thông, nhờ dạy Đại đức Mục-Kiền- Liên, mà đức Chánh Biến Tri thâu phục được (rồng chúa ấy). Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
8) Duggāhadiṭṭhibhujagena sudaṭṭhahatthaṃ,
Brahmaṃ visuddhijutimiddhibakābhidhānaṃ,
Ñāṇāgadena vidhinā jitavā munindo,
Tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Đức Phật đã cảm thắng Đại Phạm Thiên Bá-cá (Baka), tự cho mình là cao thượng, vì đức trong sạch, có thần thông, và chấp hẳn tà kiến, nhờ Giác Tuệ, mà đức Chánh Biến Tri cảm thắng được Đại Phạm Thiên ấy. Do nhờ Phật lực nầy, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
-----------------------------------------
KINH PHẬT LỰC
(Buddhajayamaṅgalagāṭhā)
1. Bāhuṃ sahassamabhinimmitasāvudhantaṃ
grīmekhalaṃ uditaghorasasenamāraṃ
dānādidhammavidhinā jitavā munindo
tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni
2. Mārātirekamabhiyujjhitasabbarattiṃ
ghorampanāḷavakamakkhamathaddha
yakkhaṃ khantīsudantavidhinā jitavā munindo
tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni
3. Nālāgiriṃ gajavaraṃ atimattabhūtaṃ
dāvaggicakkamasanīva sudāruṇantaṃ
mettambusekavidhinā jitavā munindo
tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni
4. Ukkhittakhaggamatihatthasudāruṇantaṃ
dhāvantiyojanapaṭhaṅgulimālavantaṃ
iddhībhisaṅkhatamano jitavā munindo
tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni
5. Katvāna kaṭṭhamudaraṃ iva gabbhinīyā
ciñcāya duṭṭhavacanaṃ janakāyamajjhe
santena somavidhinā jitavā munindo
6. tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni
Saccaṃ vihāya matisaccakavādaketuṃ
vādābhiropitamanaṃ atiandhabhūtaṃ
paññāpadīpajalito jitavā munindo
tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni
7. Nandopanandabhujagaṃ vibudhaṃ
mahiddhiṃ puttena thera bhujagena damāpayanto
iddhūpadesavidhinā jitavā munindo
tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni
8. Duggāhadiṭṭhibhujagena sudaṭṭhahatthaṃ
brahmaṃ visuddhijutimiddhiba kābhidhānaṃ
ñāṇāgadena vidhinā jitavā munindo
tantejasā bhavatu te jayamaṅgalāni
Etāpi buddhajayamaṅgalāṭṭhagāṭhā
yo vācano dinadine sarate matandī
hitvānanekavividhāni cupaddavāni
mokkhaṃ sukhaṃ adhigameyya naro sapañño
----------------------------------
TIẾNG VIỆT:
KINH PHẬT LỰC
1. Ðức Phật cao thượng hơn các bậc trí tuệ, ngài đã cảm thắng Ma Vương, Ma Vương biến ngàn cánh tay đều cầm khí giới; cỡi voi Gri-mê-khá-lá đủ cả binh ma, tiếng hét la vang rền. Nhờ Phép Thập độ, nhất là Phép Bố thí mà đức Phật cảm thắng được Ma Vương. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
2. Ðức Phật đã cảm thắng được Dạ Xoa A-la-quá-cá rất cang ngạnh, không lòng nhẫn nhục, khoe tài trọn đêm cùng đức Phật. Dạ Xoa rất hung ác, cảm dõng hơn Ma Vương đã bị Ðức Chánh Biến Tri dùng Phép Nhẫn nhục thâu phục rồi. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
3. Ðức Phật đã cảm thắng voi Na-la-gi-ri đến cơn hung ác, dữ tợn như lửa rừng, như sấm sét, nhờ rải lòng Từ bi mà Ðức Chánh Biến Tri đã cảm thắng được voi ấy. Do nhờ Phật lực này, xin cho hạnh phúc phát sanh đến người.
4. Ðức Phật dùng Phép Thần thông cảm thắng Ăn-gú-lí-má-lá, kẻ cướp sát nhân, cắt ngón tay người xỏ làm tràng hoa, kẻ quá hung bạo, nhưng rất tinh nhuệ, cầm gươm rượt Ðức Chánh Biến Tri xa ba do tuần. Do nhờ Phật lực này xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
5. Ðức Phật đã khử trừ lời dữ của nàng Chinh Cha, nàng dùng cây tròn giống dạng dứa bé trong thai, giả làm phụ nữ mang thai. Nhờ dùng Phép Chánh định mà đức Chánh Biến Tri cảm thắng nàng giữa chốn đông người. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
6. Ðức Phật sáng suốt nhờ ngọn đèn tuệ, Ngài đã cảm thắng kẻ ngoại đạo Sách-chá-cá là kẻ không ngay thật, chỉ ưa thích sự nâng cao lời nói mình như người dựng cột phuuớng, kẻ rất si mê, chẳng khác người mù. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
7. Ðức Phật dạy Ðại đức Mục Kiền Liên biến làm Long Vương để thâu phục rồng chúa Nan-đô-bá-nanh-đa, là rồng tà kiến có nhiều thần thông. Nhờ dạy Ðại đức Mục Kiền Liên mà Ðức Chánh Biến Tri thâu phục được rồng chúa ấy. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
8. Ðức Phật đã cảm thắng Ðại-Phạm-Thiên Bá-ká tự cho mình là cao thượng vì đức trong sạch, có thần thông và chấp hẳn tà kiến. Nhờ Giác tuệ mà Ðức Chánh Biến Tri đã cảm thắng được Ðại Phạm Thiên ấy. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sanh đến người.
Những người có trí tuệ, không biếng nhác, thường ngày hằng tụng hoặc niệm, tám kệ ngôn, tán dương oai lực của Ðức Chánh Biến Tri, thì sẽ tránh khỏi vô số nạn tai, và sẽ chứng quả Niết Bàn là nơi yên vui độc nhất.