Saturday, March 6, 2021

Câu hỏi: Thiền diệt khác với trạng thái niết bàn như thế nào? - HT Chánh Minh

 Câu hỏi: Thiền diệt khác với trạng thái niết bàn như thế nào

Minh Hạnh chuyển biên

HT Chánh Minh: Trạng thái Niết-bàn thì có hai là: 

- Thứ nhất là phiền não Niết-bàn tức là diệt tận mọi phiền não, công năng của Niết-bàn là diệt phiền não đây là một loại Niết-bàn thứ nhất. 

- Niết-bàn thứ hai là diệt đi danh sắc gọi là ngũ uẩn Niết-bàn.

Phiền não Niết-bàn còn gọi là Hữu-dư-y Niết-bàn tức là những phiền não sạch hết rồi nhưng còn dư sót quả luân hồi.  Nhân luân hồi được diệt tận hết, nhân để sinh tử luân hồi đều diệt tận hết còn sót một quả luân hồi.  Quả luân hồi chính là ngũ uẩn như trường hợp Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Mục Kiền Liên, Đức Phật Chánh Đẳng Giác tất cả trong tâm của các Ngài không còn một phiền não nào hết, nhưng các Ngài còn dư sót quả luân hồi tức là ngũ uẩn nên gọi là Hữu dư y Niết-bàn.  Hữu là có, còn dư sót lại sự nương tựa vào luân hồi, tức là quả luân hồi, nhưng nhân để tái sanh trong sinh tử luân hồi không còn nữa.  Đây là loại Niết-bàn thứ nhất.

Loại Niết-bàn thứ hai gọi là ngũ uẩn Niết-bàn, gọi là vô dư Niết-bàn tức là diệt luôn cả danh sắc không còn danh sắc nào để tái sanh trong tương lai nữa.  Đó là sự viên tịch của Đức Phật, sự viên tịch của Đức Xá Lợi Phất, hay sự viên tịch của Đức Mục Kiền Liên v.v… hay là của vị thánh A La Hán.

Như vậy thì trạng thái thiền diệt là trạng thái các Ngài không còn tâm.  Tại sao gọi là diệt thọ tưởng định, định này diệt luôn thọ tưởng mà thọ tưởng chính là ý hành.  Trong bài kinh Hữu Minh Tiểu Kinh thì  tỳ kheo ni Dhammadinna trả lời cho ông Visakha nam cư sĩ chứng quả A Na Hàm: thân hành là hơi thở, ngữ hành là tầm tứ, ý hành là thọ tưởng, ở giai đoạn nhị thiền thì người này diệt được ngữ hành, tức là diệt được tầm tứ, chúng ta nói là nhị thiền theo Tạng Kinh, nếu Tạng Diệu Pháp là tam thiền. 

Ở giai đoạn tứ thiền hoặc ngũ thiền theo Tạng Diệu Pháp, người hành giả này đã diệt được thân hành bởi vì hơi thở không còn nhưng mãi cho đến diệt thọ tưởng định mới diệt luôn cả ý hành.  Thì bây giờ thân hành, ý hành đều bị diệt hết, và thiền này lấy chủ yếu là ý hành cho nên diệt thọ tưởng định là chấm dứt đi ý hành, thì trường hợp này các Ngài dậy đó là Vô dư Niết-bàn tạm thời, tức là tạm thời không còn tâm ý gì hết nhưng sau 7 ngày phải xuất gia, mà xuất gia nên vẫn còn ngũ uẩn nên trạng thái Niết-bàn diệt thọ tưởng định đó không giống nhau mà cũng không khác nhau mấy, tức là không giống nhau trường hợp diệt tận ngũ uẩn, vô dư Niết bàn.  Nhưng trạng thái giống nhau còn tâm ý nữa và diệt thọ tưởng định là ngũ uẩn Niết-bàn tạm thời trong vòng 7 ngày đó là ở cõi nhân loại còn cõi phạm thiên theo bộ chú giải "Người và cõi" của TT Thiện Phúc ở cõi phạm thiên thì không hạn định thời gian. 

 Câu trả lời là như vậy

Friday, March 5, 2021

Câu hỏi: Định nghĩa tâm là gì? - TT Giác Nguyên giảng

 Câu hỏi: Định nghĩa tâm là gì? 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Nguyên:Trong kinh Đức Phật Ngài nói tâm là một cái rất khó thấy, bởi vì  chỉ trong một tiếng đồng hồ chúng ta có thể suy nghĩ rất nhiều chuyện. Trong một tiếng đồng hồ đó chúng ta có thể là thiên thần, cũng có thể là ác quỷ. Trong một tiếng đồng hồ đó, chúng ta có thể rất từ bi và cũng có thể rất hung bạo như một tướng cướp hoặc một kẻ sát nhân. Nội tâm của chúng ta khó thấy là như vậy. Đức Phật nói rằng không có thứ vật chất nào trên đời này có biến đổi nhanh chóng như nội tâm. Cho nên Đức Phật nói, hành giả tu tâm với các đề mục như đất, nước, lửa, gió hay các đề mục bất tịnh, từ bi, niệm hồng danh Phật, niệm về các tùy niệm. 

Dùng các đề mục đó giống như cây trụ hay cây cột để cột cái tâm mình lại. Chánh niệm hay sự tập trung tư tưởng tức là định, giống như sợi dây, ràng tâm vào đó. Tâm giống như con khỉ hay con bò, chạy lung tung, chạy hoang, nên mình phải cột tâm vào cây cột đó. 

Như Phật giáo bắc truyền cũng như Thiên chúa giáo có cách lần chuỗi, Phật giáo nguyên thủy không đặt nặng vấn đề lần chuỗi nhưng dùng những phương cách như niệm Phật hay theo dõi hơi thở ra vào, để cột tâm. Khi cột tâm như vậy, mình mới thấy rõ nó. Cũng giống như một mặt hồ khi có sóng to gió lớn hay có rác rến, cặn cáo nhiều quá mình không thấy được đáy hồ, không thấy được nước trong hồ, không thấy trong lòng hồ chứa gì trong đó. Nhưng khi sóng lặng gió yên hay được vớt bỏ những lá cây những cỏ rác bập bềnh trên mặt hồ, làm cho hồ được sạch sẽ và nếu có cách nào làm cho nước trong được, chúng ta có thể nhìn thấy trong lòng hồ đây là nhánh cây, đây là gốc cây, đây là sạn sỏi, cá bơi lội v.v….

Nội tâm cũng vậy, khi không tu học, mình cứ buông xuôi thả nổi nó, cho nó ra sao thì ra. Nhưng khi có tu học, có một đề mục để cột, để ràng tâm vào thì mình mới có dịp nhìn thấy được ít nhất ba điều:

1 -Điều thứ nhất, tâm chỉ biết cảnh, bản thân nó không ác kkhông thiện. Nhưng vấn đề là do cách mình nhìn ngắm, đánh giá ngoại cảnh, chứ bản thân tâm không phải là thiện, không phải là bất thiện. Thí dụ như cũng một người, hôm qua mình không thương không ghét, nhưng sáng nay người đó gây gỗ với mình. Thế là chiều nay khi gặp người đó, mình ghét. Đôi khi một người hôm qua không quen không biết nhưng chiều nay mình nhìn người đó như là một cái gì đó bực mình. Vấn đề chính ở tâm của mình. Cũng như một người láng giềng cách đây năm ba năm không liên hệ đến, nhưng hôm qua người láng giềng có giúp đỡ mình việc gì đó. Thế là từ đó khi gặp người láng giềng mình thấy có cảm tình. Như vậy do nghĩa rằng do tâm của mình ghi nhận, đánh giá đối tượng như thế nào, từ đó mới biến thành sân, tham, thiện, ác v.v… Vấn đề đầu tiên vị hành giả tu thiền thấy rằng, tự nhiên nếu để tâm chỉ biết cảnh thôi thì nó không thiện không ác, nhưng tùy thuộc vào sự đánh giá mà nó có thiện có ác

2 -Điều thứ hai hành giả khi tu thiền sẽ thấy sự vô thường của tâm cực kỳ mau lẹ. Chỉ trong một tiếng đồng hồ, chúng ta có thể trải qua rất, rất nhiều tâm  trạng, có thể thiện như một thiền sư, mà cũng có thể ác như một tướng cướp, cũng có thể thiện như một vị Bồ-tát, mà cũng có thể ác như một kẻ sát nhân. Chuyện đó không lạ vì tâm sanh diệt rất nhanh. 

Nói một cách tận cùng, dòng sanh tử luân hồi có hai hình thức phô diễn. Một là từ kiếp này đầu thai sang kiếp khác. Hình thức thứ hai là trong mỗi giờ đồng hồ mỗi phút, mỗi giây như vậy, chúng ta trải qua rất nhiều đời sống. Đời sống về nội tâm, đời sống về hình hài. Cái hình hài vật chất của chúng ta luôn luôn thay đổi. Những tế bào cũ phải bị đào thải rồi từ đó có những biến chuyển khác trong cơ thể vật chất của mình.

 Vì sao có chuyện đó? Vì nếu không có chuyện đó thì  làm sao chúng ta có thể từ trẻ đi qua già, từ một đứa bé đi qua hình hài của một thanh niên trưởng thành. Bắt buộc trong cơ thể chúng ta trong từng phút từng giây phải có sự biến chuyển dù rất chậm nhưng phải có biến chuyển để đưa một cậu bé trở thành một người thanh niên và, biến một người thanh niên thành một người trung niên và, biến một người trung niên thành một ông cụ. Thân thể hình hài vô thường đã đành, nhưng tâm cũng sanh diệt liên tục. Như vậy điều thứ hai hành giả tu tâm phải thấy là tâm vô thường một cách rất nhanh chóng.

3 -Điều thứ ba, hành giả thấy được  vạn pháp là vô ngã. Bởi nhiều khi không tu thiền không có chánh niệm, chúng ta không thấy được cái vô thường vô ngã. 

Xin lưu ý chúng tôi dùng chữ tu thiền tại đây không có nghĩa là chúng ta phải đi vào trong những thiền viện hay mình phải ngồi xếp bằng và con mắt phải nhắm lại, nói chung là phải chọn một tư thế nào đó mới gọi là thiền. 

Chúng tôi không nói như vậy. 

Bởi vì thiền là vấn đề nội tâm chớ không phải là vấn đề hình thức. Nếu chúng ta ngồi giữa thiền viện, ngồi ngay dưới chân thiền sư, mắt nhắm nghiền lại mà tâm chúng ta nghĩ chuyện trên trời dưới đất thì vẫn không gọi là thiền. 

Nhưng nếu chúng ta ngồi ngoài văn phòng nhưng làm gì biết nấy. Nghĩa là ông Boss đến nói chuyện, mình vẫn có thể trình bày mọi vấn đề ổng cần biết. Đến khi ổng đi mình vẫn ngồi làm việc bình thường nhưng vẫn luôn luôn biết rõ, khi nào mình có ý hại người mình biết rõ, “ Ồ, mình có ý hại người”. Khi nào mình có tâm tốt mình biết mình có tâm tốt. Chỉ như vậy thôi đã là tu thiền rồi.

Điều thứ ba khi tu tâm chúng ta sẽ thấy vạn pháp là vô ngã. Là vì sao? 

Vì đâu có ai muốn mình phải lo lắng, đâu có ai muốn mình phải buồn giận, phải sợ hãi nhưng thử hỏi chúng ta có thể nào chận đứng được tất cả những buồn lo, sợ hãi, giận hờn hay không? 

Dứt khoác trả lời rất khó khăn, thậm chí là không được. Chỉ trừ người tu thiền nhiều năm nhiều tháng, có căn cơ nhiều đời nhiều kiếp, may ra có một phần nào đó trong việc kiểm soát nội tâm bản thân của mình, còn ngoài ra phải nói rằng chúng ta chịu thua. Ngay các bậc Thánh nhân sự kiềm chế của các Ngài chỉ trong tinh thần giới học, tuệ học, định học mà thôi chứ còn tâm sanh diệt ngay cả Đức Phật Ngài cũng không thể nào ngăn chận được. Hết tâm này đến tâm khác, hết sát-na này đến sát-na khác.

 Nhưng sự vô thường vô ngã trong nội tâm Thánh nhân khác với sự vô thường vô ngã trong nội tâm phàm nhân ở chỗ, dầu có biến đổi từ tâm này sang tâm kia cũng không có bất thiện xen trong đó, tức là chỉ hết cái A nó sang cái B, hết cái B nó sang cái C v.v… cứ hết cái này nó sang cái kia nhưng trong sự thay đổi đó không có bất thiện. 

Còn sự thay đổi của mình có hai cách , một là thay đổi từ tâm A sang tâm B, tâm A diệt tâm B mới sanh, đó là cách vô ngã vô thường thứ nhất. Cái vô ngã vô thường thứ hai lúc nó thiện lúc nó bất thiện. Nói như vậy có nghĩa nội tâm của mình, nói là “của mình” nhưng thật ra mình phải có công phu thiền định thì mới thấy được nó một cách tương đối còn nếu không có công phu thiền định thì chịu thua, nó ra sao mình phải chịu vậy.

Nói tóm lại,

-Một là, bản chất của tâm không có thiện bất thiện, mà vấn đề là cách đánh giá ngoại cảnh.

-Hai là, tâm luôn luôn sanh diệt cực kỳ mau chóng.

-Ba là tâm vô ngã.

Hành giả có tu thiền mới thấy được ba điểm này, còn nếu không tu thiền mà mình cứ vừa cắm cúi đọc sách vừa nghe giảng thì có thể nói muôn đời không thấy được tâm của mình. 

Sau khi nghe chúng tôi nói quý vị hãy làm thử, không làm gì hết ngồi yên lắng nghe hơi thở của mình. Thở ra biết thở ra, thở vào biết thở vào tròng vòng 15 phút, nếu có đồng hồ reo để kế bên. Chúng tôi cam đoan với các vị rằng không biết bao nhiêu thứ vừa ngọc ngà vừa rác rến nảy sinh trong nội tâm của mình. Chúng ta mới thấy nội tâm của mình cực kỳ phức tạp, khi đó quý vị mới hiểu được tại sao Đức Thế Tôn nói tâm khó thấy và tế nhị.

Thursday, March 4, 2021

Tại sao đi chùa hoài mà không thấy phước trổ, mà toàn nhận được những sự xấu xảy ra? - HT Bửu Chánh giảng

 Câu Hỏi : Tại sao đi chùa hoài mà không thấy phước trổ, mà toàn nhận được những sự xấu xảy ra?

Minh Hạnh chuyển biên

HT Bửu Chánh: Mục đích của mình đi chùa là mong được điều đó cho nên mục đích của mình là không phải đi chùa để tạo một sự thanh thản ở trong tâm hồn, đúng không?

Mục đích qúi vị đến chùa không phải để sống được an lạc, phải không?

Nhưng qúi vị đến ngồi đây qúi vị thấy an lạc không? Ở đây không ai nói nặng nói nhẹ gì mình, không ai chửi chó đánh mèo, mình thấy khoẻ, nhưng về nhà mình hàng xóm đánh con bà, mình không thấy an lạc, bà cũng không đánh con mình bà đánh con bà thôi, nhưng vì mình ở xóm đó và xóm đó nhiều chuyện dữ lắm, cha đánh con, vợ đánh chồng, anh em đánh nhau, mình ở thì đâu có hạnh phúc. Do vậy mình đến chùa để tìm sự an lạc, tìm sự hạnh phúc, mình đến chùa ngồi thiền, mình nghe pháp, nghe kinh, mình hạnh phúc và an lạc. Vậy mục đích mình đến chùa là để được sự an lạc và hạnh phúc, chứ không phải đến đây để được cầu phước.

Như qúi vị đến đây mục đích để cầu công việc kia được thì không nên đến đây làm chi. Tại công việc kia thành tựu hay không thành tựu là do một điều kiện khác quyết định chứ không phải do thiện duyên hôm nay quyết định. Thí dụ như có một người kiếp này sanh ra ngồi xét duyệt hồ sơ người ta mà khó khăn dữ lắm, hồ sơ nào cũng không được, hồ sơ nào cũng không được, thì kiếp sau bị quả gì biết không? đó là tại tâm của mình không có tùy hỉ không có mát mẻ, không có hoan hỉ nhiều cho nên vì cái nhân đó trong kiếp này sanh ra thì khi mình xin đi làm gặp khó khăn dữ lắm, thí dụ vậy.

Có nhân thì có quả chứ không phải tự nhiên mà mình không được công việc mình muốn, không phải chuyện do đi chùa mà là do một nhân khác quyết định, và nhân đó thì ở một quá khứ ở một chỗ khác chứ không phải ở chỗ này, chứ không phải do nhân đi chùa mà mình không được cái kia. Cái nhân này không đẻ ra cái kia, mà cái kia là cái quả xấu, quả xấu đó là do một nhân xấu và nhân xấu đó mình đã tạo ở chỗ khác thì xin thí dụ như vậy.

Cho nên mình tạo một nhân lành thì không thể nào cho quả xấu được mà là nhân xấu cho quả xấu, còn nhân lành này là việc khác nữa cho quả lành. Trong khi mình tạo nhân lành này mình đòi được cái kia, mà cái kia là cái quả xấu mình phải trả do cái nhân mình đã tạo trong quá khứ. Quả đó do một cái nhân khác nó trổ quả. Còn nhân lành mình đi chùa nghe kinh nghe pháp mình được an lạc là quả trổ hiện tại. Mình có trí tuệ do nhờ mình đi chùa tụng kinh nghe pháp, tâm mình vui hoan hỉ mát mẻ đó là quả trổ ngay hiện tại rồi chứ đừng nói tới quá khứ, tới tương lai, còn cái vị lai nó còn trả nhiều hơn nữa. Chứ không thể mình lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia được. Người mình có câu thành ngữ là "lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia," tức là lấy cái này cắm vào cái kia, mình tự cắm mình tự hiểu vậy, mình tự lấy râu ông này cắm cằm bà kia tức là mình lấy nhân này để chỉ cái quả kia, nhân này nhân lành, quả kia là quả xấu, nghiệp đen kết quả đen, nghiệp trắng kết quả trắng, không thể nào nghiệp trắng mà kết quả đen được.

Nên vị Phật tử mà cảm thấy rằng đi chùa mà toàn nghe tin xấu rồi họ không đi chùa nữa, không đi chùa vậy tin xấu có đến không? nó có đến nữa chứ không phải là không. Mà nhiều khi không đi chùa mà tin tốt nó đến, đến thời kỳ mà tin tốt đến cùng lúc không đi chùa thành ra người này nói "oh, mình không đi chùa thì tin tốt nó đến còn đi chùa hoài tin xấu nó đến," tức là mình lấy cái này cắm vào cái kia nữa, lấy cái nắp này ốp vô cái nồi kia, không đúng. Như vậy mình không đi chùa tin xấu cũng có thể đến, mà đi chùa tin xấu đến thì mình đổ tại đi chùa.

Tin xấu là cái quả, cái quả của mình phải trả.

Còn đi chùa là cái nhân.

Tin xấu là cái quả xấu của một cái nhân xấu.

Còn đi chùa là một cái nhân tốt cho quả tốt.

Cho nên người vừa tạo nghiệp đen vừa tạo nghiệp trắng tốt hơn là người tạo nghiệp đen không, nếu so sánh ra thì cái người nghiệp đen kết quả đen - nhân xấu kết quả xấu và nhân tốt kết quả tốt, nhân vừa tốt vừa xấu kết quả vừa xấu vừa tốt v.v... Thì người tạo nhân tốt và bên cạnh cũng có tạo nhân xấu so với người chỉ tạo nhân xấu không, thì người vừa nhân tốt nhân xấu thì tốt hơn người chỉ có nhân xấu, đúng không?, nhưng mà ở đây không phải, đây là quả xấu còn đây là nhân tốt, nhân tốt là mình đi chùa nghe kinh nghe pháp là nhân tốt và nó chưa trổ quả chứ không phải nó trổ quả xấu này, quả xấu này là do một nhân xấu khác trổ, nghĩ như vậy thì tự nhiên mình mạnh dạn đi chùa, nó xấu tới đâu mình chấp nhận tới đó, quả xấu tới đâu mình chấp nhận tới đó, vì mình phải trả quả và mình hãy hoan hỉ trả quả chứ không thể nào mình nói tôi không chịu trả quả, quả này là do cái nghiệp của mình làm do cái nhân mình đã làm điều đó chứ không phải ai làm.

Nên chủ trương của Sư là khuyến khích các Phật tử ta tạo nhiều nhân tốt bên cạnh đó thì thỉnh thoảng mình cũng có nhân xấu, còn nếu mình không tạo được nhân tốt thì nhân xấu cứ xuất hiện thì mình không có gì để trợ duyên hết, một người mà tạo một nghiệp đen hay là tạo một nhân xấu. Giống như một người cầm cục đá lớn nặng đem liệng xuống nước thì chìm, nhưng nếu như có một chiếc thuyền mà liệng cục đá này lên chiếc thuyền đó dầu đá nặng cỡ nào mà nếu có chiếc thuyền thì đá vẫn còn nổi, trừ khi thuyền lủng nước tràn vào thì đá chìm. Như vậy nếu mình tạo nhân xấu nhưng bên cạnh đó mình tạo nhân tốt thì nhân tốt này cũng giúp cho mình một lúc nào đó chớ không phải không. Thậm trí một người không có nhân tốt nào chỉ có nhân xấu nhỏ như hạt sỏi nhỏ liệng xuống nước nó vẫn chìm như thường nếu không có nhân tốt.

Cho nên chúng tôi khuyến khích qúi vị phải tạo nhiều nhân tốt để chạy đua với nhân xấu, nhưng khi quả trổ rồi thì mình phải chịu thôi.

"Cho dù bay vút lưng trời

Cho dù đáy biển trốn thời được đâu

Cho dù núi thẳm hang sâu

Không nơi nào thoát quả sầu đã gieo."

Quả sầu đã gieo nhân, mình ở đâu cũng vậy, dù ở trên núi cao hay dưới đáy biển bất cứ ở đâu khi đã tạo nhân rồi thì khi nó trổ quả thì nó vẫn trổ quả. Trước đây mình làm công việc gì đó, mình khó khăn, ai đến xin việc làm mình chỉ là người xét việc thôi, nhưng mà rất là khó, đó là mình tạo nhân, kiếp này sanh lên mình đi xin chỗ nào người ta cũng không nhận mình, hồ sơ nộp chỗ này chỗ kia không ai nhận mình hết, nó có cái nhân của nó. Qúi vị thấy nhiều người tánh tình dễ thì hồ sơ thiếu chút đỉnh họ cũng nhận, có người thì họ quá khó, đủ họ cũng không nhận, chẳng hạn như vậy, tất cả đều là nhân là nghiệp, tất cả đều là nghiệp. Có người thi một lần đậu có người thi bốn lần chưa đậu, có nhiều người thi mặc dầu trình độ cũng khá nhưng thì không đậu, như có vị xuất gia đi tu rồi đi thi để học trường Phật học, có nhiều trường hợp thi ba lần mới đậu, vừa rồi trường Phật học Vạn Hạnh có tuyển sinh có người thi ba lần rồi không đậu, tội nghiệp quá nên Sư nói thôi bây giờ làm đơn đi rồi Sư trình cho học viện để nhờ người ta xét cho, Sư cũng làm ơn vậy đó, mà nhiều khi bài cũng không khó nhưng mình làm sao nó không trúng ý của người chấm, còn nếu qua tay người chấm mà trúng ý họ thì lại khác, cho nên bôn ba không qua thời vận là vậy, nhiều khi mình cũng làm bài cũng được mà qua người giám khảo này họ chấm thì chấm được điểm cao, điểm trên trung bình, nhưng qua một giám khảo khó tánh quá thì họ chấm mình dưới trung bình thì sẽ rớt. Ba lần như vậy người này đều rơi vào giám khảo khó tánh nên bị rớt. Nhận xét trình độ thì người này vẫn có khả năng đậu, nếu bài đó mà họ rơi vào người giám khảo dễ chấm thì họ sẽ đậu, cho họ 6 điểm hoặc 5 điểm thì người giám khảo khó cho có 3 điểm 4 điểm. Nên có những người cũng có trình độ có thể đậu nhưng mà rồi cũng không đậu tại họ đã tạo một nhân gì đó như gây trở ngại cho những người khác trên đường học tập chẳng hạn, họ chê bai những người đi học, học hành, đọc kinh sách họ chê bai họ nói đọc chi cho mệt, họ nói vậy đó, học cho nhiều cũng vậy, họ chê bai bằng khẩu nghiệp, họ chê bai bằng âm, họ chê bai bằng sự suy nghĩ thì đó là tạo nghiệp rồi, nên sanh ra việc học hành của họ gặp trở ngại.

Chẳng hạn qúi vị đi nghe pháp là phát sanh trí tuệ, nhưng có người nói đi nghe chi cho mệt vậy ở nhà tụng kinh cho rồi đi chi cho mệt, chỉ một câu nói vậy thôi cũng tạo nghiệp rồi. Đi nghe pháp thì phát sanh trí tuệ mà bây giờ mình nói vậy tức là mình ngăn cản trí tuệ người khác thì tự nhiên là mình sẽ tạo một cái nghiệp, nghiệp đó là ngăn cản trí tuệ người khác, đời sau mình sẽ gặp trở ngại đó, và có thể điều đó không làm cho mình sanh vào khổ cảnh hay sanh làm qủi atula hay địa ngục, nhưng khi sanh làm người mình sẽ gặp trở ngại cái đó, còn chuyện đi nghe pháp làm chi ở nhà cho rồi thì câu nói đó cũng không tạo nghiệp gì nặng lắm, trừ khi mình phỉ báng pháp thì mang nghiệp nặng. Còn nói thôi khỏi đi nghe làm chi, mình chỉ nói câu đó thôi thì đã tạo nghiệp rồi chứ không phải đơn giản. Mỗi lời nói phát ra đều có nghiệp, mỗi suy nghĩ đều có nghiệp, và nỗi hành động bằng thân đều có nghiệp, thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Và thí dụ như bây giờ người ta đi nghe pháp qúi vị cản thôi đừng có đi đó là nghiệp xấu, nghiệp này không đến độ phải sanh vào khổ cảnh, sanh vào địa ngục nhưng tạo một nghiệp khác ngăn trở trí tuệ người khác nên kiếp này sanh lên thi ba lần cũng không đậu là vậy, có nhiều người thi ba bốn lần mà cũng không đậu, nên những người nào chịu khó có công mài sắc có ngày lên kim tức là nếu cố gắng nhẫn nại thì có kết quả, chứ không phải nói như vậy rồi không làm gì hết, nếu người đó chuyển nghiệp được quả vậy nghiệp chuyển nghiệp bằng cách là mình tinh tấn cố gắng siêng năng ba lần không được thì bốn lần gọi là cần cù bù thông minh tức là mình chịu khó nhẫn nại cần cù thì bù cái thông minh, thì trước sau cũng đậu, qúi vị đi nghe pháp là qúi vị cũng hiểu, nghe nhiều hiểu nhiều./.


Wednesday, March 3, 2021

Câu Hỏi: Làm sao phân biệt được niềm tin và chánh tín? - TT Giác Nguyên giảng

 Câu Hỏi: Làm sao phân biệt được niềm tin và chánh tín

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Nguyên: Trước hết chỉ nên nói một cách vắn tắt về định nghĩa chữ chánh tín thôi, phần còn lại thì qúi vị tự hiểu lấy.

Chánh là đúng, chánh tín là niềm tin đúng. Ở trong Pali có hai chữ để chỉ cho niềm tin:

Một là chữ Saddha là niềm tin,

Một chữ nữa là pasàda là niềm tịnh tín.

Thì chữ Saddha có hai nghĩa: Một là tất cả niềm tin nào ở trong đời, chỉ cần mình có niềm tin thôi. Chữ Saddha này từ cái chữ tiếng Pali là Saddahati là sự tin tưởng.

Còn chữ pasada có nhiều nghĩa là niềm tịn tín, chữ pasada có nghĩa là trong sạch, làm cho tin tưởng, nó từ chữ Pali là pasàdeti có nghĩa là chọn ra để mà tin.

Ở đây chúng ta tạm thời dùng một khái niệm ở bên Khổng giáo họ có dùng chữ "Chiết Trung" có nghĩa là mình lựa chọn cái gì tinh hoa cốt lõi của vấn đề rồi mình chọn ra để mình giải quyết thì gọi là "Chiết Trung". Thì hiểu ở đây chữ pasàdeti này cũng gần giống nghĩa chữ "Chiết Trung" là mình lựa ra cái gì tinh yếu cốt lõi của vấn đề.

Chữ saddha có lúc nó được dùng ở nghĩa rộng ở bất cứ niềm tin nào đúng sai cũng gọi là saddha.

Còn pasada chẳng hạn như ở trong kinh nói về bốn pháp dự lưu phần thì thứ nhất là vị đó phải là niềm tin bất động vào Phật bảo, niềm tịnh tín bất động Pháp bảo và Tăng bảo, nghiệp lý nhân quả thì gọi là pasada là niềm tịnh tín.

Đó là nãy giờ chúng tôi nói về chữ nghĩa, bây giờ nói về nội dung.

Trong cuộc tu để tự mình làm Thầy cho mình, tự mình có khuôn thức để mà kiểm soát niềm tin của mình, mình chỉ dựa vào một bài kinh mà bà Kiều Đàm Di Mẫu hỏi Đức Phật làm sao mà chúng con có thể biết được đâu là lời Phật, đâu không phải là lời Phật. Thì Phật dạy rằng:

"Này Kiều Đàm Di Mẫu, cái pháp nào mà càng tu càng trau dồi thì người ta càng thấy an lạc, người ta càng tu càng trau dồi người ta càng thấy thích sống viễn ly một mình. Càng tu càng trau dồi người ta càng thấy nhàm chán đám đông ồn ào. Càng tu càng trau dồi thì người ta càng thấy mình trở nên dễ nuôi đời sống trở nên giản dị hơn. Càng tu càng trau dồi càng tinh tấn siêng năng hơn. Càng tu càng trau dồi càng thấy mình trở nên an lạc hơn. Thì đó chính là lời dạy của Như Lai."

Còn những pháp môn nào mình càng tu càng trau dồi mà nó lại không được những điều vừa nói, không nhàm chán đám đông, không thích sống viễn ly, mà càng tu càng đâm ra lười biếng bỏ rơi trách nhiệm bản thân, bỏ rơi trách nhiệm đối với người khác, càng tu càng thấy đau khổ về thân về tâm v.v.... thì tất cả những pháp môn đó không phải là lời dạy của Như Lai.

Cho nên chánh tín là ở đây nói gọi lại theo bài kinh mà nói, ở đây chúng tôi chỉ trích dẫn từ trong kinh mà thôi thì chánh tín là niềm tin vào điều gì có lợi cho mình, có lợi cho người, có lợi cho đời này, có lợi cho đời sau. Chẳng hạn như chuyện tái sanh luân hồi, chuyện luân hồi nghiệp báo kiếp trước kiếp sau hoặc là làm thiện được vui làm ác bị khổ, chuyện đó làm sao mà mình biết có luân hồi quả báo mà mình tin thì ít nhất người có trí tuệ cũng hiểu rằng nếu không có mà mình tin thì mình đâu bị hại gì đâu, tối thiểu cũng là như vậy, nếu bản thân mình không có điều kiện trau dồi Phật Pháp để hiểu sâu hiểu rộng về chuyện luân hồi nghiệp báo, tối thiểu mình cũng nên hiểu như vậy. Tức là nếu chuyện luân hồi quả báo có hay không mình chưa xác định được thì chỉ cần có niềm tin là trong đời sống hiện tại mình không có làm bậy, không nói bậy, không chửi bậy thì đối với pháp luật mình cũng ok, đối với bản thân mình cũng ok, đối với gia đình, đối với xã hội, đối với láng giềng bè bạn mình cũng ok. Còn nếu như mình không tin tưởng vào việc luân hồi nghiệp báo rồi mình tha hồ làm bậy, nói bậy, nghĩ bậy, thì luân hồi quả báo đó có không chưa biết mà ngay trong đời hiện tại một là bị chúng đánh chúng giết chúng bỏ tù.

Cho nên điều quan trọng đó là chánh tín là tin vào điều gì mà có lợi cho mình, cho người đời này, đời sau thì đó là chánh tín, không cần phải hỏi từng điều là tôi làm như vậy có tội hay không, tôi làm điều đó có phước hay không, tôi nói như vậy có tội hay không, tôi suy nghĩ như vậy có tội hay không, thì trong kinh cho mình cái mực thước rất là đơn giản.

Ngay cả Đức Dalai Lama Ngài cũng có một câu nói rất là thú vị:

"Thiện ác được đánh giá qua động lực của nó, điều gì mình nói, mình làm, mà do động lực bất thiện tham sân si có hại cho mình cho người đó là điều bất thiện"

Lời nói nào hành động nào mà được thúc đẩy bởi từ bi trí tuệ vị tha bác ái thì hành động đó lời nói đó là thiện, mình tin vào những điều như vậy đó được gọi là chánh tín, chứ mình không cần thiết phải hỏi thêm là tin ông Tư, bà Tám, đạo chìm, đạo nổi, đạo ớt, đạo khoai thì cái đó tốt hay không. Không cần thiết phải bàn vì trên đời này có biết bao nhiêu đạo để mà hỏi. Cho nên mình chỉ cần dựa vào Phật Pháp để mà hiểu vấn đề đó. Đó là điều nào mà có lợi cho mình cho người đời này sau.

Ngay cả Đức Phật trong một lần ở khu rừng sala Ngài nói với Chư Tăng:

"Này các tỳ kheo, nếu những cây sala này mà nó biết giữ giới thì nó cũng sanh vào cõi trời chứ đừng nói chi là con người.

Đó là câu trả lời của chúng tôi. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ./.


Tuesday, March 2, 2021

Câu hỏi: câu nói: Đường tu bố thí đứng đầu" có đúng lời Phật dạy không? - HT Chánh Minh giảng

 Câu hỏi: câu nói: Đường tu bố thí đứng đầu" có đúng lời Phật dạy không?

Trích đoạn trong bài giảng "1 pháp thấp kém, 1 pháp thù thắng" HT Chánh Minh giảng trong lớp Phật Pháp Nhiệm Màu

Minh Hạnh chuyển biên

HT Chánh Minh: Có những vị giảng sư giảng: "Đường tu bố thí đứng đầu". Xin thưa, không phải.

 Người Phật tử thường thực hiện 3 pháp, bố thí, trì giới và, tu thiền, đó là 3 điều căn bản của người Phật tử chúng ta, ngay cả những vị Sa Môn, nhưng, bố thí không phải đứng đầu, bởi vì cho dù bố thí như thế nào chăng nữa thì chỉ có áp chế được tâm tham mà thôi, hay là tạm thời xa lánh được tâm tham, chứ không hẳn là diệt trừ được tâm tham hay diệt trừ được tâm bỏn xẻn, mà chỉ một phút giây nào đó, ở một thời điểm nào đó thì áp chế được tâm tham, buông bỏ được tâm bỏn xẻn.

Cho nên, pháp bố thí không phải là pháp đứng đầu, mà pháp bố thí là pháp trước tiên, điều căn bản này dẫn dắt tới sự giữ giới.

 Bởi vì, bố thí là kết hợp bởi đức tin với sự buông bỏ và, để làm cho tăng trưởng sự buông bỏ này thì phải giữ gìn, thân, ngữ, ý không cho rơi vào bất thiện, đó là giữ giới.

Nhưng chưa đủ, nó chỉ áp chế được phần thô bên ngoài về thân với ngữ mà thôi, tức là ở bên ngoài thôi, cho nên phải đào bứng tận bên trong bởi sự tu thiền.

Nhưng, người ta nói bố thí là pháp đứng đầu, xin thưa, chính vì văn cú này bị đảo ngược.

- Trước tiên khác với đứng đầu. Mình không thể nói lớp một là lớp đứng đầu của thạc sĩ hay tiến sĩ được, không thể nói như vậy, nhưng, lớp một là năm đầu tiên để từ đó lên lớp hai, lớp ba, rồi lớp 12, rồi tiếp theo những năm đại học. Nhưng phải có học lớp một, mà lớp một được xếp đầu, xếp trước tiên chứ không phải là lớp đứng đầu, gọi là năm trước tiên thì được, không thể nói là đứng đầu, cái đứng đầu là cái rất quan trọng. 

Một người đứng đầu là người quan trọng, người trước tiên không phải là người quan trọng, thí dụ, trong một buổi họp, có thể người tới phòng họp trước nhưng người đó không phải là người quan trọng, có thể ông A hay ông B là người tới trước tiên, nhưng người đứng đầu cuộc họp đó thí dụ như vị chủ tịch, hay vị được ủy nhiệm bởi vị chủ tịch hội đồng quản trị, người đó mới là quan trọng. 

Cho nên, khi nói tới văn cú đảo ngược thì ý nghĩa bị sai lệch, trong pháp học chúng ta có rất nhiều trường hợp như vậy. 

Tại sao, bởi vì không khéo tác ý, chúng ta không nghiệm suy được chi tiết phát hiện trong lời dạy của Đức Phật, chứ hành trình từ người phàm nhân cho đến chứng đắc được đạo quả, trước tiên là pháp bố thí, tiếp theo là trì giới, tiếp theo là pháp buông bỏ tức là nekkhamma là pháp xuất gia, tiếp theo là pháp khổ hành, điều này ở đâu, chính Đức Bồ Tát của chúng ta, khi Bồ Tát Sumedha được Đức Phật Nhiên Đăng (Dipanikara) thọ ký rằng còn 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất nữa thì vị thiện nam tử này sẽ trở thành vị Chánh Đảng Chánh Giác với hồng danh là Gotama, tộc họ là Sakya. Khi được Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký thì quả địa cầu rung chuyển. 

Sau khi Đức Phật Nhiên Đăng (Dipanikara) cùng Chư Tăng ra đi, Đức Bồ Tát Sumedha ngồi lại và Ngài ngồi trên đống hoa, Ngài tự tìm hiểu rằng: nếu ta muốn thành vị Chánh Đẳng Chánh Giác trước tiên ta nên thực hiện pháp nào và Ngài thấy rằng pháp bố thí trước tiên, mà thành tựu được đạo quả Chánh Đẳng Chánh Giác không phải chỉ là pháp bố thí không thôi, mà phải là thêm pháp trì giới, rồi Ngài tìm ra 10 pháp độ.

Thì khi nói pháp bố thí trước tiên chúng ta phải hiểu trước tiên chứ không phải là đứng đầu, nhưng, người ta thường bẻ cong bởi vì bố thí có lợi cho người nhận, cho nên thường cổ súy như vậy.

Họ có thể biện luận là, do kiếp chót của Bồ Tát là Bồ Tát Vessantara thực hiện pháp bố thí để tròn đủ pháp Balamật.

Xin thưa, lại là một vấn đề không khéo tác ý ở điểm này. Mặc dầu trong câu chuyện bổn sanh kiếp cuối còn nhân loại của Ngài gọi là Bồ Tát Vessantara, Ngài đã bố thí vợ, bố thí con, bố thí tài sản, sự kiện này người ta cho rằng pháp bố thí là pháp rất quan trọng, là pháp đứng đầu. 

Thật ra không phải, khi người ta nói Ngài tu tập cho nó hoàn mãn được 10 pháp độ, tức là vòng đai 10 pháp độ đó được khép kín lại không còn kẽ hở nữa. 

Thí dụ, chúng ta đi từ điểm A đến điểm B thì nó còn một khoản cách, để làm cho nó trọn vẹn chúng ta đi lại cho đến đầu điểm A, như chúng ta vẽ vòng tròn tới điểm áp chót rồi cái điểm áp chót vẫn còn khoản cách nhỏ, nó phải đi tới điểm ban đầu, khi nào chạm điểm ban đầu thì vòng tròn đó được khép kín.

Hoặc giả, trong những cuộc làm lễ kiết giới Sima, những vị chư tăng đi từ dấu hiệu của Sima là một tảng đá chẳng hạn ở hướng đông, từ đó đi tới hướng nam, rồi tới hướng tây, rồi tới hướng bắc, tới đó chưa xong vòng đai của kiết giới sima chưa được khép kín, nó còn bị hở từ hướng bắc cho tới hướng đông, nên các Ngài phải đi tới hướng đông lần nữa thì như vậy vòng đai được khép kín. 

Cũng vậy. Nếu nói về lục độ, pháp bố thí trước tiên, rồi tới trì giới, tới tinh tấn, tới thiền định, rồi tới nhẫn nại, rồi tới trí tuệ, nhưng tới đó chưa, vòng đai của lục độ chưa được khép kín, mình phải đi trở lại pháp bố thí nữa. Chúng ta phải hiểu như vậy, chứ không phải pháp bố thí là pháp đứng đầu mà nó là pháp trước tiên và, cũng là pháp cuối cùng, cũng giống như điểm đầu tiên cũng chính là điểm cuối cùng, thì vòng đai đó phải được khép kín. 

 Thì trong bố thí chúng ta thấy mục tiêu của pháp bố thí là, mình áp chế lòng bỏn xẻn, áp chế được tâm tham, nhưng vì không khéo tác ý cho nên bố thí nhiều khi do tâm tham dẫn tới bố thí chứ không phải là thứ bố thí được loại trừ được tâm tham. Muốn áp chế được tâm tham chính là do tâm tác ý khéo. Thí dụ, một người cúng dường bông hoa đến Đức Phật nguyện rằng:  

- "Xin cho con được tái sanh làm chư thiên, được tái sanh làm người giàu sang." 

Như vậy rõ ràng là không áp chế được tâm tham.

Pháp bố thí có nhiều cách, cách tốt nhất vẫn cứ làm phải có tác ý khéo. Ta thực hiện pháp này nhằm mục đích không cho tâm tham dính mắc. Nhưng khi ước nguyện thì ước nguyện như thế nào cho phù hợp với ý ban đầu. Nơi nào tham không thể có mặt, nơi nào sân không thể có mặt được, nơi nào si không thể có mặt được, xin thưa, nơi nào trong tam giới này cũng có mặt tham sân si hết, không nơi nào mà không có mặt tham sân si, cho dù rằng cảnh giới phi tưởng phi phi tưởng, cảnh giới cao nhất ở trong tam giới này thì vẫn cứ có mặt tham và si trong đó, mặt dù cảnh giới không có sân trong đó nhưng vẫn có tham và si trong đó, chính vì còn có tham có si nên phải còn trở lại luân hồi, cho nên nơi nào không có tham không có si không có sân, xin thưa, chính là Niết-bàn, những gì thuộc về hữu vi, những gì thuộc về còn dính mắc tới luân hồi, có tác ý khéo chúng ta mới loại trừ được cái tác ý không khéo này, còn không thôi chúng ta sẽ bị lòng tham dính mắc. 

Bây giờ chúng ta nói: Pháp bố thí là pháp bố thí, pháp tri ân là pháp tri ân, hai pháp này không dính dáng gì với nhau.

Mình muốn tri ân nhớ ơn người hướng dẫn mình, mình phải cúng dường, không phải như vậy, sự tri ân nhớ ơn là khác sự cúng dường là khác, hai pháp này khác nhau, cho dù không có cơ hội cúng dường mình vẫn tri ân được, còn cúng dường mình chỉ biểu thị bằng tâm mình được rồi, cái quả của tri ân khác với cái quả của bố thí.

Có hai hạng người khó tìm trên đời:

- Hạng người thứ nhất là người ra ân mà không cần báo đáp.

- Hạng người thứ hai là hạng người tri ân, nhớ ân.

Hai hạng người này khó tìm trên đời. Nhưng người để mình bố thí không phải là hạng người khó tìm trên đời, đưa tay ra là hốt được một nắm những người để bố thí, chứ không phải là khó tìm.

Thì rõ ràng như vậy nhưng vì văn cú bị đảo lộn nên ý nghĩa này bị đảo lộn, để thể hiện pháp tri ân mình phải cúng dường bố thí, xin thưa, Đức Phật không dạy như vậy. Đức Phật Ngài dạy người nào tri ơn, biết ơn Như Lai, thành kính đối với Như Lai thì người đó nên tu tập theo lời dạy của Như Lai, người cung kính Như Lai là người biết ơn Như Lai.

Trong Phật Giáo Nam Truyền có những buổi lễ như thọ đầu đà Rằm Tháng Giêng hay Rằm tháng Tư, trong đó có một ý nghĩa là mình tri ân Đức Phật, bởi Đức Phật dạy cho mình những giáo pháp biết lánh xa những tội lỗi, thực hiện những hạnh lành, tu tập những điều tốt đẹp để thoát khỏi cõi khổ. Pháp Dhutaṅgakathā là pháp Đầu Đà, nhằm bứng đi những phiền não, những ô nhiễm, những điều ác xấu, mình thực hành có lợi cho mình và, đồng thời thể hiện pháp tri ân. 

Như vậy, trong đêm đầu đà có thể có những Phật tử cúng dường và, có những Phật tử không cúng dường nhưng có thực hành pháp. Câu chuyện này của chính Đức Phật:

Khi nghe tin Đức Phật còn 3 tháng nữa viên tịch, các vị tỳ khưu ngồi than thở: "Ánh sáng của thế gian sắp tắt, bóng tối sẽ tràn ngập trên thế gian này, vị cứu tinh của nhân loại và chư thiên sắp viên tịch". Ngồi than thở, than vắn than dài, đó chính là tác ý không khéo.

Có một vị tỳ kheo tên là Tissa nghĩ rằng:

- Đức Phật sắp tịch diệt Niết Bàn, ta vẫn còn phàm nhân, tham ái chưa diệt đoạn tuyệt được. Vậy ta nên cố gắng tinh tấn thực hành thiền tuệ để chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán, khi Đức Phật hiện đang còn trên thế gian”.

Cho nên thay vì ở một chỗ cùng với Chư Tăng bàn luận, vị Tỳ Khưu Tissa tìm nơi thanh vắng ngồi tu tập thiền định, các vị tỳ khưu khác trình lên Đức Phật: 

- Bạch Đức Thế Tôn, Tỳ Khưu Tissa nghe tin Đức Thế Tôn sắp viên tịch, ông lánh xa chỗ Đức Thế Tôn, thong dong tự tại không có đau buồn.

 Đức Thế Tôn Ngài muốn dạy các Tỳ Khưu, nên cho gọi Ngài Tissa đến hỏi:

-   Này Tissa, tại sao con làm như vậy?

- Bạch Đức Thế Tôn, con nghĩ rằng còn 3 tháng nữa Đức Thế Tôn Ngài viên tịch, nhưng một đạo quả con không có, con nhủ rằng con phải chứng đắc trước khi Đức Thế Tôn viên tịch, cho nên con không có tham dự vào trong những cuộc than khóc, con tìm nơi thanh vắng để con tu thiền định.

Đức Thế Tôn tán thán: "Lành thay, lành thay, này các Tỳ Khưu, người nào mà tôn kính Như Lai, nên noi gương như Tissa. Tôn kính Như Lai không phải là cúng dường bằng hương thơm, tràng hoa, mà thực hành tu tập pháp của Như Lai là cúng dường Như Lai, người nào thực hành pháp của Như Lai là tri ân Như Lai."

Thì rõ ràng Đức Phật Ngài dạy như vậy, đâu phải cúng dường bằng hương thơm, tràng hoa là thể hiện sự tri ân, mà là tu tập thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn một cách đúng đắn là tri ân Đức Phật. Đó là người tri ân.

Người hành pháp là người khó tìm trên đời, mà người hành pháp chứng đắc đạo quả càng khó tìm trên đời, vào thời Đức Thế Tôn, Chư Thiên và nhân loại chứng đắc đạo quả rất nhiều, nhưng số lượng nhiều đó so với thời bây giờ, nhưng so với số lượng chúng sanh số lượng không có nhiều chút nào, trong suốt cuộc đời của Đức Phật chỉ có các vị Thánh đại để tử thôi mà nhân loại nhiều biết bao nhiêu, cả tỉ người mà chỉ có 80 đại đệ tử, thành ra số lượng những vị Thánh từ Anahàm trở xuống cũng không có bao nhiêu, nhiều thì nhiều thật nhưng so với tỉ lệ nhân loại thì ít, cho nên khó tìm, như thời đại này chúng ta thấy rằng trên thế gian này có trên 4 tỉ người có thể lên tới gần 5 tỉ người, tìm một vị Thánh Alahán rất khó, mà vị Thánh Alahán là người tri ân Đức Phật, tìm được vị Thánh Anahàm là người tri ân Đức Phật, tìm một vị Thánh đắc quả Dự Lưu thôi, là người tri ân Đức Phật, đâu có dễ, cho nên cứ bẻ cong giáo pháp của Đức Phật, mục đích là gì, mục đích là thể hiện tâm tham, mà tâm tham đó do tác ý không khéo, như vậy trở thành phỉ báng giáo pháp, nó cực kỳ nguy hiểm. 

Thành ra pháp bố thí người học Phật là phải khéo tác ý.  Đôi khi bố thí nhờ khéo tác ý đi chung với trí tuệ, một khi đi chung với trí tuệ thì thấy rõ được nhân, thấy được quả.

Nói tới trí tuệ là thấy được nhân này cho quả này, và quả này lớn hay nhỏ do tùy theo đối tượng, rồi quả lớn hay nhỏ do tùy tâm thí trong sạch hay không trong sạch, những người có tâm ý trong sạch cúng dường đến Đức Thế Tôn vào buổi tối buổi sáng trở thành vị trưởng giả, không phải may mắn mà là do phước trổ, nó trổ là do tâm ý trong sạch, đối tượng được trong sạch được tốt đẹp, như câu chuyện của balamôn Culekasataka muốn cúng dường tấm khăn choàng đầu hôm nhưng lòng bỏn xẻn ngăn lại, giữa đêm muốn cúng dường lòng bỏn xẻn nổi lên ngăn cản lại, buổi gần sáng áp chế được lòng bỏn xẻn cúng dường mảnh khăn choàng là phát sanh ngay giàu có, được vua ban thưởng coi bốn ngôi làng.

Muốn áp chế được tâm tham tâm bỏn xẻn là tâm phải có trí tuệ để nhận thức được, tâm đó rất trong sạch không ao ước cái gì hết vẫn có quả. Đó là những câu chuyện cho chúng ta suy ngẫm,vì khi có kết quả là do pháp buông xả, do pháp bố thí, dĩ nhiên phát sanh tài sản. Nhưng tài sản đó có đáng hài lòng hay không, đó là vấn đề khác. 

Còn tác ý khéo sự bố thí cúng dường dẫn tới kết quả đáng hài lòng, đáng mong mỏi.

 Giống như người gieo hạt giống nhờ có tác ý khéo đi chung với trí quan sát mảnh ruộng có màu mỡ hay không, có bị chướng ngại gì hay không, có những cỏ dại hay không, khi thấy mảnh ruộng này không có cỏ dại, có nhiều chất bùn phù sa, chúng ta gieo hạt giống lên đó dù ít nhưng kết quả đáng hài lòng, đáng mong mỏi. Nếu mảnh ruộng xấu, đầy cỏ dại, nhiều chất phèn chua, gieo hạt giống xuống thì sẽ thất bại, đó là pháp căn bản./.


Monday, March 1, 2021

Câu hỏi: Sự cúng dường như thế nào thì có phước?

 Câu hỏi: Sự cúng dường như thế nào thì có phước?

Minh Hạnh chuyển biên 

HT Bửu Chánh: sự cúng dường bằng cách giết thú để tế thần điều đó không mang lại kết quả lợi ích nào trong khi chỉ cần đảnh lễ một vị đă đắc Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán phước báu vô cùng to lớn. Như vậy ở đây sự so sánh giữa một người tin theo thần quyền phải dùng tới những lễ vật như thú vật và những lễ vật này mang tính phải giết hại với niềm tin như vậy chúng ta tạo thêm tội không giữ giới sát sanh.

Trong 5 giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, và không dùng các chất say. Thì giới đầu tiên là sát sanh . Và nếu như một người dùng lễ vật bằng hành động sát sanh giết hại chúng sanh để tế thần như vậy không những không có phước mà lại có tội và mang cái nghiệp sát sanh. Và nếu người nào mong cầu phước báu thì chỉ cần đảnh lễ bậc Thánh nhân bậc đã thành tựu giải thoát đã đắc Tu Đà Hoàn đã diệt trừ phiền não, Tư Đà Hàm đã làm giảm nhẹ dục ái và sân đắc. A Na Hàm đã dứt trừ dục ái và sân. Và đắc A La Hán là đã diệt tận ái sắc ái vô sắc ngã mạn phóng dật và vô minh.

Thì đãnh lễ cúng dường suốt năm cúng tế thú vật để cầu phước cả đời cũng không bằng 1/4 kính lễ bậc chánh trực. Bậc chánh trực ở đây hay là bậc chánh hạnh, là các vị Thánh nhân Tư Đà Hàm hay A Na Hàm, A La Hán.

Đề cập đến vấn đề cúng dường trong Trung Bộ kinh, bài kinh Cúng Dường Phân Biệt (Dakkhinàvibhanga sutta) Đức Phật Ngài dạy: Bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có trăm phần công đức. Bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có ngàn phần công đức. Bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có đem lại trăm ngàn lần công đức. Bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức. Bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có đem lại vô số vô lượng công đức. Và bố thí cho một vị trên đường để chứng Tu Đà Hườn to lớn nhưng cũng không bằng bố thí cúng dường cho vị đã đắc Tư Đà Hàm. Vị đã đắc Tu Đà Hườn phước báu to lớn rồi nhưng cũng không bằng bố thí cho vị trên đường đắc Tu Đà hàm. Bố thí cho người trên đường đắc Tư Đà Hàm phước báu to lớn không bằng Tư Đà hàm. Bố thí cho người trên đường đắc Tư Đà Hàm phước báu không bằng bố thí cho người trên đường đắc A Na Hàm. Bố thí cho người trên đường đắc A Na Hàm phước báu to lớn cũng không bằng người đã đắc A Na Hàm. Bố thí cho người đắc A Na Hàm phước báu đó to lớn rồi cũng không bằng cho người trên đường đắc A La Hán. Bố thí cho người trên đường đắc A La Hán cũng không bằng bố thí cho các bậc A La Hán phước lớn không bằng bố thí cho Phật Độc Giác Bích Chi Phật. Bố thí cho vị Phật Độc Giác phước báu to lớn rồi cũng không bằng bố thí cho cúng dường đến Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Cúng dường đến Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác to lớn rồi nhưng cũng không bằng cúng dường đến Tăng Chúng.

Như vậy phước báu chúng ta cúng dường chúng tôi đã nhắc lại kinh Trung Bộ Đức Phật Ngài theo thứ tự 14 đối tượng để cúng dường và theo thứ tự từ thấp lên cao.

Đảnh lễ đến các vị bậc Thánh nhân, các bậc Alahán Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác. Bậc chánh hạnh hay bậc chánh trực hay bậc Thánh nhân ở đây ám chỉ các vị đắc các quả Thánh. Ví như mình gieo một hạt giống trên một mảnh đất màu mỡ đầy chất phân chất nước trên một mảnh đất tươi tốt thì quả phúc vô cùng to lớn. Còn nếu mình gieo trên mảnh đất khô cằn chắc chắn nó không lên được nhiều khi nó chết. Muốn có sự phước báu thì mình phải gieo trên một mảnh đất màu mở tươi tốt thì chúng ta sẽ gặt hái được.

Đức Phật Ngài dạy trong kinh Đại Bát Niết Bàn trên cõi trời có nhiều vị Chư Thiên dâng hoa trời cúng dường Ngài, cũng có nhiều người đến đảnh lễ Ngài nhưng Đức Phật Ngài nói sự cúng dường đó không bằng giới hạnh của sự tu tập của chính mình. Như vậy một vấn đề khác chúng tôi muốn nói sự cúng dường bằng tâm của mình, bằng tâm định. Sự cúng dường đến một cách cao thượng đó là sự cúng dường bằng sự tu tập giới định tuệ của mỗi người chúng ta./.

Sunday, February 28, 2021

Câu Hỏi: Nguồn gốc của ba pháp vô thường khổ não vô ngã là gì? - HT Chánh Minh giảng

 Câu Hỏi: Nguồn gốc của ba pháp vô thường khổ não vô ngã là gì?


Chánh Hạnh chuyển biên

HT Chánh Minh: Nguồn gốc của ba pháp vô thường khổ vô ngã chính là nương sinh hay nói một cách khác là hiện tượng của pháp hữu vi. Pháp hữu vi nào cũng có hiện tượng luôn luôn sinh diệt. Một khi luôn sinh diệt như vậy, Phạn ngữ gọi là anicca là vô thường, không thường hằng, không phải là bất biến. Một khi sanh diệt sẽ dẫn đến cái khổ, cái sinh lên đã là khổ rồi đến cái diệt cũng khổ. Chính cái diệt là cái khổ.

Có đôi khi chúng ta đừng hiểu lầm diệt cái xấu là tốt, tức là cái đau khổ bị diệt đi là hạnh phúc, pháp hữu vi không baogiờ có chuyện như vậy. Chẳng qua chỉ có một cái khổ hiện bày một cách rõ rệt và có cái khổ tiềm ẩn bên trong. Có vị vẫn vui vẻ, vẫn thuyết Pháp, vẫn nói đạo bình thường ai biết được trong tâm người đó có những nổi buồn, cái khổ tiềm ẩn trong đó. Một pháp khác sanh lên đã có cái khổ tiềm ẩn trong đó, nó hiện bày ra lúc nó diệt. Người ta lầm lẫn ở chỗ này. Ví dụ nói bây giờ tôi đau khổ , khi cái đau khổ diệt, pháp khác sanh lên tức là sẽ được an lạc. Nhưng người đó không thấy được trong sự an lạc có cái khổ tiềm ẩn trong đó. Có sinh tức có diệt một khi sự an lạc đó diệt đi sẽ thấy khổ.Khổ diệt đi có an lạc, an lạc diệt đi sẽ có khổ. Người này phải thấy nhưvậy.

Đức Phật Ngài có dạy, “Cái gì vô thường dẫn đến khổ”. Mình muốn an lạc hoài không thể được, mình muốn chấm dứt khổ cũng không thể được. Bởi vì một khi quả của nghiệp đã trổ, thì ngay cả đức Phật cũng đành chịu.
Các nghiệp của dòng Thích-Ca trổ rồi, Đức Phật cũng chỉ ngăn được ba lần mà thôi.
Ác nghịêp ngày xưa Ngài vô tình bốc thuốc cho người ta mắc bệnh kiết lỵ , Ngài cũng bị kiết lỵ do ăn miếng thịt của ông thợ rèn Cunda. Không ai có quyền ngăn cản nghiệp quả khi nó đã trổ, người ta có thể cản,chận khi nó chưa trổ. Cũng giống như trái cây đã đến lúc chín muồi, không ai bảo được rằng trái cây này đừng chín nữa.

Người ta có thể làm cho cây không trổ quả bằng cách ngắt bỏ bông của nó. Chứ một khi kết trái và trái chín rồi thì không ai cản nổi. Chữ Vipaka có nghĩa là Dị thục, nghĩa là khác thời kỳ vẫn chín muồi. Chữ Thục có nghĩa là Chín muồi, Dị có nghĩa là Khác. Một khi Vipaka này chín muồi rồi không ai có thể cản trở nổi. Đức Phật Ngài dạy,
Cho dù bay vút lưng trời
Cho dù đáy biển trốn thời đặng đâu
Cho dù thăm thẳm hang sâu
Cũng không thoát khỏi quả sầu đã gieo.

Không cách nào thoát khỏi. Đây là lý vô ngã tức là không chịu sự điều khiển của ai hết, nó vận chuyển theo nguyên tắc của nó, vận hành của các pháp. Như vậy vô thường khổ vô ngã chính là tướng trạng của pháp hữu vi, vận hành của pháp hữu vi, chứ không là gì khác cả. Hãy có pháp hữu vi tức là phải có các tướng trạng này, ngoại trừ Niết-Bàn thoát khỏi cái vô thường, khổ nhưng chính Niết-Bàn cũng là vô ngã. Một tướng trạng trống rỗng không ai điều khiển được.

Xin trả lời như vậy,
Namo Buddhaya