Sunday, July 19, 2026

082 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 25 tháng 11, 2023

  082 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 25 tháng 11, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 082 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Obligatory of the Buddhas = Tập quán của Chư Phật là quá khứ, hiện tại, vị lai.

Hai tập quán của Phật  quá khứ, hiện tại, vị lai cho Đạo Quả vị Phật là:  Phải ngồi kiết giả / dưới cội cây. Hai cái này không thay đổi, nhưng không bắt buột, mà là truyền thống hay là tập quán của Chư Phật. Bất cứ vị Phật nào cũng vậy, luôn luôn là phải ngồi kiết già, và thứ hai là ngồi dưới cội cây.

 The navel of the earth dịch là trung tâm điểm địa cầu, nếu nói trung tâm thì chưa đủ, dịch là trung tâm điểm tức là ngay đường xích đạo. Các vị Phật mà thành đạt vị quả Phật phải ở ngay trung tâm điểm của quả địa cầu, chứ không ở chỗ nào khác.

Đọc bộ Hệ Tộc Chư Phật thấy thương các vị Phật, nếu các Ngài không có tâm đại từ đại bi thì các Ngài không làm nổi Ba-la-mật (Pārami). Quí Phật tử đọc lại lịch sử của Đức Phật Gotama kiếp chót, trong 45 năm Ngài không bao giờ dùng một phương tiện nào để đưa Ngài đi, mà Ngài chỉ đi bộ, từ khi đắc quả vị Phật nhận lời với Đại Phạm Thiên  Sahampati là Ngài đi thuyết giảng cho tới 85 tuổi, Ngài đi bộ về thành phố Kushinagar thuộc vương quốc Malla nơi Ngài nhập diệt.

Đức Phật Ngài có 3 căn bệnh; 1) nhức đầu, 2) vọp bẻ, 3) rối loạn tiêu hóa. Ba căn bệnh đó là mãn tính.

Thiền sinh hỏi:  Ngài Mingun giải thích mấy vị Phật Độc Giác có 2 cái mà mấy vị đó không thành tựu là Thập Lực Trí (Dasabalañāṇa) và Toàn Giác Trí (Sammā-ñāna) mà tác giả không có nói là tại vì Ngài không có chú nguyện cứu độ chúng sinh, vì thiếu hai phần đó cho nên không có khả năng để mà đi tới.

HT trả lời: Thập Lực Trí (Dasabalañāṇa) chỉ có 2 người có là Bậc Chánh Đẳng Giác và Thinh Văn Giác, mà Thinh Văn Giác trong thời của Đức Phật này giáo pháp Đức Phật mới có. Tức là học theo, hay là mình nói theo, hành theo.

Còn Độc Giác không có, các Ngài không cần cái đó, chứ thật ra là các Ngài muốn có là có, các Ngài không muốn mà chỉ lo tu giải thoát. Hành nguyện của Độc Giác Phật (Paccekabuddha) là như vậy, sống yên lặng tĩnh lặng, sống một mình, tự tu tự giải thoát, Các Ngài không liên hệ với ai hết.

Bậc Thinh Văn Giác còn liên hệ, bậc Chánh Đẳng Giác còn liên hệ. Do đó các Ngài mới khai triển Thập Lực Trí (Dasabalañāṇa) mà Thinh Văn Giác noi theo bậc toàn giác mới có.

Tức là hạnh nguyện Thinh Văn Giác từ Trí Thượng Thinh Văn cho tới Thinh Văn thường. Trí Thượng Thinh Văn như Xá-Lợi-Phất, Mục Kiền Liên. Thinh Văn thường là các vị Thinh Văn bây giờ thì có cái đó. Nhưng có người có, có người không, không có xác xuất hết 100%. Còn đối với bậc Chánh Đẳng Giác thì 100%.

Thời kỳ Đức Phật Gotama, Ngài nguyện 2 loại cho Thinh Văn của Ngài, tức là đệ tử của Ngài, là Lục Thắng Trí hay lục thông (Chaḷabhiññā), và Tứ Tuệ Phân Tích (Paṭisambhidā Ñāṇa) là Tứ Vô Ngại Giải. 

 Thời của Đức Phật Gotama còn tức là sau khi Đức Phật Ngài viên tịch thì đời sau này tới thời của Sư và sau này nữa thì không có xác định là có Lục Thắng Trí (Chaḷabhiññā), hay có Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā Ñāṇa), vì không bắt buộc, nhưng thời của Đức Phật còn, tức là trong 45 năm Ngài hoằng pháp vì Đức Phật Ngài nguyện, lời nguyện của vị Phật làm cho các vị Thinh Văn hội tụ lại mới có được cái phước đó.

 Trí tuệ phân tích,  Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā), tuệ phân tích, tuệ vô ngại giải:

1. Biện Vô Ngại Giải (Paṭibhānapaṭisambhidā), là trí thiện xảo ứng đối, biết rõ cách lý luận, phân tích pháp.

2. Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaṭisambhidā), là trí hiểu rõ pháp, biết rõ các nguyên lý của ý nghĩa; tuệ có khả năng tổng trì pháp đề.

3. Từ Vô Ngại Giải (Niruttipaṭisambhidā), là trí biết ngôn ngữ, dùng để trình bày pháp và nghĩa pháp.

4. Lý Vô Ngại Giải (Atthapaṭisambhidā), là trí hiểu thấu đáo nghĩa lý của pháp đế; trí có khả năng phân giải chi tiết những điều được nói tóm tắt.

Thì Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā) Đức Phật Gotama Ngài đã nguyện trong thời của Ngài. Cũng như Sư nguyện Chánh Đẳng Giác, ngày mà Sư đắc Đạo Quả thì các hàng đệ tử của Sư đều có Lục Thắng Trí và Tứ Vô Ngại Giải, giống như Đức Phật Gotama, thì lúc đó mới có.

 Tại vì có những bậc Thinh Văn Giác hạng thường có người muốn Tứ Vô Ngại Giải, có người không muốn, vì có người tự tu tự giải thoát như Phật Độc Giác, nhưng mà thời các Ngài đang hưởng giáo pháp mà họ đi cái hạnh đó thì họ đi nhưng họ không muốn tiếp xúc, không muốn độ ai, và không muốn phát triển pháp Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā) .

Bộ Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā) , thì bộ đó nó đòi hỏi là người muốn có Vô Ngại Giải Đạo tức là cái gì cũng giải đáp được hết, từ ngữ, pháp lý, hay biện luận, bất cứ đề tài nào, hiệp thế hay là siêu thế, chế định hay là siêu lý đều thông suốt, thì phải thông suốt Abhidhamma mới giải đáp các Pháp được.

Thì bây giờ, số Chư Tăng có bao nhiêu người biết Abhidhamma, các quí Ngài vô Abhidhamma không được, thấy khó quá, thấy không cần Vô Ngại Giải, tôi tự tu để giải thoát, thì bắt đầu mất luôn.

Trong Thuyết Tiến Hóa của Darwwin tức là khi cơ năng nào trong cơ thể có các đặc điểm thích nghi tốt hơn với môi trường sẽ có khả năng sống sót và sinh sản cao, còn nếu cơ năng nào không hoạt động thì nó sẽ mất đi. 

Như hồi xưa con ngựa móng chân của nó là 4 móng, nhưng về sau này nó phát triển vì trên con đường nó chạy càng nhanh vì nó không đi. Khi chân nó đi nó có 4 móng, nhưng khi nó bắt đầu chạy nhanh thì 2 móng chân trước bắt đầu nó búng, nó sải gió, nó phi, thì 2 móng chân sau bắt đầu bị teo, nó không phát triển được nữa vì nó không sài nên bắt đầu nó teo.

Thành ra, nếu như trong trí não của mình không phát triển con đường Vô Ngại Giải, thì mình bắt đầu mất nó, rồi pháp bắt đầu đóng lại, không có người phát triển, và không có người để mà mở ra nữa thì mất dần. Tới thời thế hệ sau của Sư, thì coi như là không có, nếu mà người ta không có một  có sự thích thú hay đam mê hoan hỉ Tứ Vô Ngại Giải, mà cái cốt lõi là Abhidhamma. 

 Từ Vô Ngại Giải (Niruttipaṭisambhidā) đi qua tới biện giải Biện Vô Ngại Giải (Paṭibhānapaṭisambhidā) là đụng vô các tôn giáo là cũng kẹt nữa.

Mà đối với Sư là Sư giải đáp được hết, tại vì Sư cũng như một cái cơ duyên, một cái phước báu của Sư, nên bất cứ lãnh vực nào của các tôn giáo từ ngữ hay là lý thuyết hay là biện luận Sư đều diễn giải nó, Sư nắm bắt được hết.

 Khi Sư vô học Abhidhamma coi qua bộ Tứ Vô Giải Ngại Paṭisambhidā thì Sư hoan hỉ lắm.

Diệt Trừ Thân Kiến

Thiền sinh hỏi: Trong phần nói về mấy vị Thinh Văn, thì nói về mấy vị Thinh Văn sự thành tựu của họ lúc nào cũng phải có người hướng dẫn là một vị Phật. Câu hỏi là: Phải chăng thời gian từ bây giờ cho tới khi Đức Phật Maitreya (Phật Di Lặc) thì không có vị Phật nào thì không có Thinh Văn.

HT trả lời:  Trong tích truyện tiền thân của tín Nữ Visakha,  thấy người bạn cúng dường vị Phật thời đó mà được hưởng phước đầy đủ, thì bà tiền thân Visakha hỏi Đức Phật. vị Phật nói tại bà này đã gieo trồng, tiền thân của tín Nữ Visakhai bà nghe vậy cũng hoan hỉ cúng dường và bà xin nguyện, Đức Phật nói được, sau này thời Đức Phật Gotama con là đại tín nữ có phước báu đầy đủ, thì khi bà sinh ra lúc được 7 tuổi gặp Đức Phật Gotama, bà đắc Sơ Quả Thất Lai nhưng là cư sĩ bà cũng có gia đình, có chồng, sống 120 tuổi, có 20 đứa con. Từ ngày bà sống cho đến chết tóc đen nhánh dài đến chân không có tóc bạc.

 Phiền não đưa tới Dị Thục Quả, rồi đưa tới Nghiệp Báo

Đức Phật Ngài nói; Đệ tử của Như Lai hành Ba-la-mật (Pārami). Đệ tử của Ác Ma sống trong phiền não. Người đệ tử của Đức Phật mà không hành Ba-la-mật (Pārami) là đệ tử của Ác Ma.

 Nên cốt lõi hành Ba-la-mật (Pārami) này là phải hạ thủ công phu, nó không phải là Thập Thiện, nó phải là Pháp Toàn Thiện, do đó mình phải hạ thủ công phu tức là mình phải kiên trì nỗ lực và phấn đấu ghê lắm mới được, đó chỉ là giải cứu cho mình thôi, chứ đừng nói là độ chúng sinh.

Thí dụ như mình muốn làm Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) là mình phải hạ thủ công phu sửa cái tánh bỏn xẻn của mình chứ không phải là mình xả thí để tạo phước. Trì giới Ba-la-mật (Pārami) là mình phải hạ thủ công phu sửa tánh hư tật xấu của mình để mình giữ được giới hạnh.

Trì giới  Ba-la-mật (Pārami) khác với trì giới thiện. Trì giới thiện là mình giữ giới nếu đứt giới thì mình trì giới lại. Còn trì giới Ba-la-mật (Pārami) là sửa tánh hư tật xấu của mình. 

Cũng như Ly Dục Nekkhamma tức là mình phải ra khỏi Kāma, giống như Nirvana là không có phiền não thì mới là Níp-bàn

Ni + Kāma

Nỉ = không có

Vana = sự thèm khát nhục dục

Thì Nekkhamma tức là Ni + Kāma, Dục này là tham dục, còn Dục kia là mong cầu, mong muốn, là dục vọng. 

Còn Kāma là tham dục này nặng hơn. Kāma là dục vọng, tham dục, như ái luyến dính mắc ở trong ngũ dục. Ly dục này là mình phải rời khỏi  Kāma trong cái giặc lòng của mình. 

 Chanda là dục có 3 là: Tác Dục, Pháp Dục, Tham Dục.

Thành ra hồi xưa các quí Ngài dịch là xuất gia độ Nekkhamma Pāramitā xuất gia Ba-la-mật (Pārami), chữ xuất gia là pabbajita dịch là xuất gia độ hay xuất gia Ba-la-mật (Pārami)

Nên phải hiểu Trí Tuệ Ba-la-mật (Pārami) , là mình lấy trí tuệ hành Ba-la-mật (Pārami), là mình phải cố gắng diệt vô minh của mình, mình mới hành Trí Tuệ Ba-la-mật (Pārami).

Trí tuệ Ba-la-mật (Pārami) là mình phải dùng cái trí để diệt cái vô minh của mình.

 Thí dụ như Tinh Tấn Ba-la-mật (Pārami) là mình phải cố gắng diệt trừ sự làm biếng cái tính xấu của mình, thì Ba-la-mật (Pārami) mới toàn thiện được. Tinh tấn thường thì mình siêng là được rồi, nhưng trong cái siêng đó còn có tính xấu chưa sửa. Vậy thì mình lấy cái gì để sửa, mình lấy cái của người ta để mình diệt cái xấu của mình, mình phải có đối tượng.

Nên Ba-la-mật (Pārami) có 2 vế; 

- Một là cái gốc phải sửa tánh hư tật xấu của mình.

- Hai là mình phải tìm, phải quán cái tánh của mình xem áp dụng Ba-la-mật (Pārami), trường hợp nào mình lộ ra tánh nào thì mình quán cái đó.

Thí dụ, một người nói:  "Tôi không vô chùa, nhưng nếu tôi vô chùa tôi  thấy tu tập cái gì thi tôi mới vô chùa."

Cũng như Nhẫn Nại Ba-la-mật (Pārami) là mình lấy cái  nhẫn nại để diệt tánh xấu của mình.

Ba-la-mật (Pārami) là pháp tu tập, là pháp trau dồi, là pháp hành, chứ không phải có sẵn. Xả thí là nó có, còn Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) là phải tu tập, phải hành pháp xả thí này để diệt để trị tánh bỏn xẻn của mình.

Đức Phật, Ngài không nói dư, Ngài không nói thừa, Ngài không nói thiếu, Ngài nói chánh xác.

Ông Bà-la-môn bá hộ đang phát thực phẩm cho những người tá điền của ông, thì Đức Phật Ngài đi tới để độ ông Bà-la-môn bá hộ đó, thì ông nói: đi cày đi thì có ăn. Đức Phật nói: "Như Lai đi cày rồi, bây giờ Như Lai chỉ gặt hái thôi". Thì ông Bà-la-môn nói: "Sa-môm đừng nói láo, đi cày sao không có cái cày ?" 

Và Đức Phật nói pháp: Đức tin của Như Lai là hạt giống, nhẫn nại của Như Lai là cái cày, tinh tấn của Như Lai là cái năng lực."

Câu nói pháp của Đức Phật đã độ được ông Bà-la-môn bá hộ, và ông đã dâng cúng dường thực phẩm cho Ngài.

 Đức Phật nói: "Như Lai không thuyết pháp vì vật thực."

Như vậy thì Đức Phật Ngài sống với Ba-la-mật (Pārami). Ngài mới dạy ông Bà-la-môn là Như Lai có cày rồi chứ không phải chưa cày.

Như vậy mình phải cẩn thận, không phân biệt người tại gia, không phân biệt người xuất gia, mà mình phải cẩn thận, mình phải phân biệt người có hành Ba-la-mật (Pārami). người không hành Ba-la-mật (Pārami). 

Người hành Ba-la-mật (Pārami). là người ta đã có, còn mình chưa hành Ba-la-mật (Pārami), mình chưa có, mình đụng người này không nổi.

Bà thí chủ ở làng Màtika đắc Nhị Quả, tức là hành Ba-la-mật (Pārami) bà có, các vị Sư chưa đắc quả đi tới đó Đức Phật kêu phải cẩn thận bà đó đắc Nhị Quả. 

Thế thì khi Đức Phật nói bà đó đắc Nhị Quả

Sơ Quả :  Thân Kiến (tham)

                Hoài Nghi (si)

                Giới Cấm Thủ (tham)

Nhị Quả:  Thân Thô

                Sân Thô

Tam Quả:  Tham Tế

                  Sân Tế

Nhị Quả là những người đã tu và đắc Nhị Quả. Còn các vị tỳ khưu chưa đắc được quả nào hết. Nên Đức Phật nói các vị Tỳ Khưu phải cẩn thận với bà thí chủ này bà đã đắc Nhị Quả. 

Tức là Ba-la-mật (Pārami) của bà đã thành tới tầng thứ hai rồi, vì Ba-la-mật (Pārami) đưa đến Đạo Quả.

Vậy thì khi muốn tu diệt 3 hạ phần kiết sử (thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ)  này thì lấy Ba-la-mật (Pārami) nào để diệt nó ?

Đây là bài toán để tu tập muốn đắc Sơ Quả thì phải qua những giai đoạn này, thì phải lấy pháp Ba-la-mật (Pārami) mà diệt trừ nó, pháp Thiện không làm nồi, phải là Ba-la-mật (Pārami

Sơ Quả :  Thân Kiến (tham)

                Hoài Nghi (si)

                Giới Cấm Thủ (tham)

Thì trong 3 pháp này thì Thân Kiến, không bao giờ đặt cái nào là chính, mà mình phải bắt Kiến là chính, còn Thân là phụ, thì kiến chấp, mà kiến chấp này có 2 loại;

- tri kiến và cái hiểu biết của minh là kiến chấp. Tri kiến là kiến chấp, 

- mà kiến thủ là trạng thái đưa đến tri kiến, kiến thủ là cố chấp.

 Cũng như Giới Cấm Thủ, thì Thủ là chính

 Còn  Hoài Nghi, thì Nghi là chính.

Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ, mình lấy Ba-la-mật (Pārami) mà diệt trừ nó ?

Mình chia làm  vế: Ta và Người, hành Ba-la-mật (Pārami) .

Ta hành cái Ba-la-mật (Pārami) gì cho ta để diệt cái Thân Kiến này

Ta hành cái Ba-la-mật (Pārami) gì cho người để diệt cái Thân Kiến này

Thí dụ: Hoàng Hậu Malika không muốn nghe nói đến chữ "Vô Thường", các cung nữ đi nghe Pháp Đức Phật thuyết về xì xào nói chuyện nhỏ to với nhau: "sắc là vô thường, thân này là vô thường", bà cấm các cung nữ không được nói. 

Nhưng Đức Phật Ngài muốn độ, tức là Ngài đi qua vế Người.

 Ngài độ bà Hoàng Hậu Malika khỏi Thân Kiến, bà không nghĩ thân này là Vô Thường, bà muốn lúc nào cũng là thường.

Thì Đức Phật Ngài độ bằng cách hóa phép có 2 người nữ đứng hầu quạt cho Ngài. Thị hiếu của bà bị hút vô cảnh tượng này, bà nghĩ rằng sao Đức Phật nói Vô Thường mà dùng 2 người nữ đẹp đứng quạt, và bà bắt đầu đi tới gần để nhìn, thì Đức Phật Ngài hóa phép cho 2 người phụ nữ có sự thay đổi từ trẻ sang  già nua, khi bà bước tới gần hơn thì 2 người phụ nữ ngã xuống và tan biến thành tro bụi, cảnh tượng này làm bà bừng tỉnh. 

 Đức Phật Ngài độ Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên đắc đạo quả ngay vì 2 Ngài đã có sắn.

Khi mình nói anh này có Thân Kiến, bà này có Thân Kiến, trời nắng không ưa, trời mưa không chịu.

 Khi gặp người có Thân Kiến. 

Người có Thân Kiến có tánh tham, mình đánh bể cái tham thì kiến rớt ra

Người Hoài Nghi có tánh si. Vì không biết nên mới nghi, mình đánh bể cái si thì nghi rớt ra

Người có Giới Cấm Thủ. Thủ là tham, mình đánh bể cái tham thì giới cấm thủ rớt ra

Trong 10 Ba-la-mật (Pārami) :

1. Xả Thí Ba la mật (Dānapāramī), Bồ tát xả tài với tâm nguyện giải thoát.

2. Trì Giới Ba la mật (Sīlapāramī), Bồ tát thu thúc thân hành, khẩu hành trong sạch với tâm nguyện giải thoát.

3. Ly Dục Ba la mật (Nekkhammapāramī), Bồ tát tâm lìa bỏ sự tham muốn trong trần thế, chỉ hướng tâm đến mục đích giải thoát.

4. Trí Tuệ Ba la mật (Paññāpāramī), Bồ tát rèn luyện trí sáng suốt, trau giồi sự hiểu biết đúng chân lý nhân quả, với mục đích chứng đắc quả giải thoát.

5. Tinh Tấn Ba la mật (Viriyapāramī), Bồ tát năng nỗ lực trong mọi việc, bỏ tâm lười biếng, với mục đích chứng đắc quả giải thoát.

6. Nhẫn Nại Ba la mật (Khantipāramī), Bồ tát kham nhẫn với mọi nghịch cảnh, chịu đựng, không nổi giận oán thù, làm như vậy với mục đích đạt đến giải thoát.

7. Chân Thật Ba la mật (Saccapāramī,) vì mục đích giải thoát, Bồ tát tôn trọng sự thật, nói lời chân thật không giả dối.

8. Chí Nguyện Ba la mật (Adhiṭṭhānapāramī), Bồ tát có ý tưởng giải thoát luôn giữ vững, tâm nguyện giải thoát luôn kiên định, không xao lãng.

9. Từ Ái Ba la mật (Mettāpāramī), với mục đích giải thoát, Bồ tát nhiếp phục sân hận, luôn an trú từ tâm đối với mọi loài.

10. Hành Xả Ba la mật (Upekkhāpāramī), Bồ tát với mục đích giải thoát giữ tâm bình thản, không dao động trước sự đời khen, chê, vui, khổ, được, mất, vinh, nhục.

Trong 10 Ba-la-mật (Pārami) thì Pháp nào trị tham về Kiến Chấp về Tri Kiến, đó là tham bên ngoài, là tham thô. 

Còn tham tầng thứ hai là Nhị Quả, Tam Quả là cốt lõi của tham rồi, là tham tế.

Hai phần tham tế và tham thô là Ái Dục là gốc. Khi mình có kinh nghiệm đánh được Nhị Quả và Tam Quả ái dục này thì Tam Quả mình mới bứt được phần Ái Dục, lấy cái đó là nền tảng mình mới đi được, nên Đức Phật nói trong sự tu tập đi 4 bước, đi tới Vô Sinh.

Do đó, trong mấy phần này thì tham này mới là tri kiến thôi, kêu là kiến chấp khởi lên thôi, mình đánh phá bỏ nó đi,

 Mình đi qua Thân Kiến này:

- Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức  - Thân Kiến, kiến chấp vô sắc thân này mà họ dính mắc vô không chịu buông

Có người hỏi: con không hiểu Sắc Thân Kiến là gì, mà con không có cái Sắc Thân Kiến ?

Sư nghe vậy Sư hỏi bà sao lúc này mặt bà xanh quá vậy ?

Bà giựt mình và nói, Sư thấy mặt con xanh hả, cả tuần lễ con không có ngủ được.

 Bà trả lời như vậy là bà lọt vô Thân Kiến liền

Sáng thức dậy mình thấy trong người mệt mỏi đau nhức ngồi dậy không nổi. Như vậy mình có bị Sắc Thân Kiến không. 

 Trong trạng thái mình mong muốn độ người ta, thì người ta có trong đó là mình thấy rồi.

Sắc Thân Kiến, là kiến thôi thi lấy pháp nào trị cho mình thì bỏ vô. Còn gặp người có Thân Kiến này về sắc và thân của họ dính vô thọ và tưởng, hành, pháp họ dính vô thì mình lấy Ba-la-mật (Pārami) nào để độ họ.

Người có Thân Kiến là tham trong kiến chấp, trong kiến thủ trong tri kiến của họ dính mắc vô thọ, hành, tưởng, của họ thì mình lấy pháp Ba-la-mật (Pārami) nào để độ mình trước và độ người.

Bây giờ mình nói về sắc thân, nắng không ưa, mưa không chịu, thì đầu tiên mình phải diệt kiến chấp đó, chứ không phải ta lấy trí tuệ ta coi. Thì như vậy, mỗi người đều biết kiến chấp về sắc thân này, ta chưa nói về Danh Pháp, chỉ nói về Sắc Pháp thôi.

Khi mình muốn thì mình phải hành Ba-la-mật (Pārami) nào ?

Hành Xả Ba-la-mật (Pārami) .  Để bỏ thân kiến này mình phải Hành Xả Ba-la-mật (Pārami) . Chữ Hành Xả cái cốt lõi, cái nền tảng, giống mặt đất mình xả đồ dơ nó cũng không thay đổi, xả đồ tốt nó cũng không thay đổi mặt đất, người Hành Xả cũng vậy phải giữ tâm kiên cố. Xả thí dễ chứ Hành Xả thì rất khó.

Chữ Hành Xả nói nôm na là phá chấp, mình không chấp gì hết đối với sắc thân này, mình không còn ái luyến gì hết. 

Hành Xả là diệt trừ Tham. Thân Kiến này là vì Tham, mình Hành Xả là để diệt trừ Tham, là mình buông ra không tham chấp cái thân này nữa.

Thế thì khi mình đi Trí Tuệ lấy trí để suy nghĩ. Cái Trí của mình mà có đủ trong Ngũ Quyền; Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ, còn không mà trí tuệ nhiều quá thì mình sinh nghi.

Thì với Trí Tuệ mình diệt trừ cái tham, mình không dính mắc vô cái tham này, mình diệt kiến chấp này với cái tham thân kiến này về sắc thân này, mình làm được. Nhưng tới khi bên ngoài người ta nói vô mình không đủ khả năng ứng phó được, cái trí của mình không đủ để đánh bạt những gì người ta nói về thân kiến của mình.

Cũng như nói Hành Xả, mình không còn bận tâm lo lắng dính mắc gì nữa cho sắc thân này, nó đến nó đi theo pháp hoại diệt tiến trình của nó với sắc thân này. Mình chỉ theo dõi bình thường sự hoại diệt của nó chứ không bận bịu lo lắng dính mắc tới nó.

Cái đó thì được, nhưng chỉ nhìn với cái pháp nó đang có thôi chứ không thấy được cái nghiệp chủ Kammassakatā nó đánh vô cái thân kiến của mình khi mình đang Hành Xả Ba-la-mật (Pārami) .  Cái đau của sắc thân này.

Cốt lõi Ba-la-mật (Pārami) của mình là cái gì để mình tu để mình diệt trừ Thân Kiến đi.

Chú nguyện của mình làm sao, mình chú nguyện để diệt Thân Kiến

Một bà cư sĩ đắc Nhị Quả, nghe lời chồng, buổi sáng bà cầm cung tên đưa cho người chồng đi săn. Thì Thân Kiến tham thô và sân thô bà diệt khi bà đắc Nhị Quả, hoài nghi và giới cấm thủ bà diệt trừ hết.

Trong khi đó với một nghiệp thiện mình làm một thành bốn, như mình làm phước như xả thí, hoan hỉ, phục vụ. 

Mười nghiệp thiện:

1- Bố thí (Dānamagga), là tạo phước bằng cách bố thí xả tài.

2- Trì giới (Sīlamaya), là tạo phước, bằng cách giữ giới, thọ trì những giới cấm.

3- Tu tiến (Bhāvanāmaya), là tạo phước bằng cách tu tập thiền định, chỉ và quán.

4- Cung kính (Apacāyanamaya), là tạo phước bằng cách kính lễ bậc trưởng thượng.

5- Phục vụ (Veyyāvaccamaya), là tạo phước bằng cách làm lợi ích cho người khác với công sức của mình.

6- Hồi hướng (Pattidānamaya), là tạo phước bằng cách hướng nguyện công đức đã làm, để tạo điều kiện cho người khác sanh tâm thiện.

7- Tùy hỷ (Pattānumodanāmaya), là tạo phước bằng cách vui thích theo công đức của người khác đã làm.

8- Thính pháp (Dhammassavanamaya), là tạo phước bằng cách nghe pháp của Đức Phật thuyết, hay các đệ tử của Ngài thuyết, thậm chí là nghe những bậc thiện trí dạy bảo.

9- Thuyết pháp (Dhammadesanāmaya), là tạo phước bằng cách nói pháp chân chánh cho người khác nghe, thậm chí chỉ là bàn luận Phật pháp, hoặc nói những lời hay lẽ phải.

10- Cải chánh kiến thức - Chân Tri Trước Kiến (Diṭṭhujukamma), là tạo phước bằng cách trau dồi kiến thức, làm cho tri kiến được ngay thẳng, chánh kiến.

Thì bà cư sĩ đắc Nhị Quả, nghe lời chồng, buổi sáng bà cầm cung tên đưa cho người chồng đi săn, bà có phạm tội gì không ? Bà lên tới tầng thứ hai là Nhị Quả Thân Kiến tham thô và sân thô bà diệt khi bà đắc Nhị Quả,

Quí Phật tử với 3 pháp hạ phần kiết sử: Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ mà quí Phật tử có.

Giờ trở lại thanh niên Upatiṣya nghe ĐĐ Assaji nói: 

Mỗi pháp sinh lên bởi nhân

Bởi các nhân duyên hiện bày các pháp.

Ngài đắc Sơ Quả, Ngài diệt trừ Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ.

Vishakha 7 tuổi để bát cho Đức Phật, Đức Phật thuyết pháp bà nghe và bà đắc Sơ Quả.

Upatiṣya đắc Sơ Quả,  Vishakha 7 tuổi, ông Cấp Cô Độc vô gặp Đức Phật đắc Sơ Quả diệt Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ.

Giờ quí Phật tử cũng muốn đi tới đó,  muốn diệt Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ, để đắc Sơ Quả trong kiếp này giống như các Ngài thì mình làm sao ?

Có 2 cách.

- Thứ nhất, người ta đầy đủ Ba-la-mật (Pārami) thì người ta dễ đắc Đạo Quả.

- Thứ hai, pháp mà mình đang tu  lấy pháp nào diệt được 3 hạ phần kiết sử này.

Đó là 2 cách. Vậy thì vế thứ nhất mình có Ba-la-mật (Pārami) chưa. Vế thứ hai mình lấy pháp nào mình tu để diệt 3 hạ phần kiết sử mà mình đã có.

Tại vì Sư muốn các quí Phật tử trong kiếp này còn giáo pháp Đức Phật, còn có người đắc đạo quả được, chứ tới thời kỳ sau sẽ hết, qua khỏi Tạng Abhidhamma 3,000 năm xác xuất đắc Đạo Quả rất là ít, là khó hơn nữa, nên  bây giờ quí Phật tử phải hết tốc lực lên, ở nhà cũng vậy, tới chùa cũng vậy, trong mỗi phút giây nào trong mọi trường hợp phải diệt trừ 3 hạ phần kiết sử; Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ.

Đức Phật Ngài nói :

Sabbe saṅkhārā aniccāti; Chư Hành saṅkhāra đều vô thường;

Sabbe saṅkhārā dukkhāti; Chư Hành saṅkhāra đều khổ đau;

Sabbe dhammā anattāti. Chư Pháp dhammā đều vô ngã.

Thì rớt Thân Kiến, rớt Hoài Nghi, rớt Giới Cấm Thủ, và nó không còn trở lại.  Khi mà Đạo Quả tức là không còn trở lại.

Các Pháp Hữu Vi là Vô Thường.

 Các Pháp Hữu Vi là Khổ Đau.

 Các Pháp là Vô Ngã.

Bây giờ 3 câu đó là Thân Kiến thì; Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức nó nằm đúng trong 3 câu đó.

Hoài Nghi, mình cứ bám vô Hoài Nghi đúng ở trong 3 pháp đó.

Các Pháp đều là Vô Ngã 

Bây giờ mình tách theo kiểu kiết Sử:

"Tất cả các pháp hữu vi là Vô Thường" thì còn Thân Kiến không ? Hồi giờ mình tưởng nó là Thường Tồn. Thân Kiến của mình là kiến chấp về xác thân này là Thường Tồn, thì vô bài pháp này với câu đầu tiên "Tất cả các pháp hữu vi là Vô Thường" thì mình nhìn trở lại, trí mình nhìn lại  Dassanena kiến giải mình nhìn lại  xác thân này nó là vô thường hay là thường, thì mình thấy thân này của mình là Vô Thường thì mình phá Thân Kiến thiệt hay chỉ là phá bởi khái niệm thôi. Là phá thiệt, tức là không còn trạng thái chỗ kia khác, chỗ này khác, ở nhà khác, ra đường khác, vô chùa khác.

Thì Pháp mà quí Phật tử muốn đạt tới được pháp:

 "Tất cả các pháp hữu vi là Vô Thường. Các pháp hữu vi là Khổ Đau. Các pháp là Vô Ngã." 

Thì quí Phật tử phải sống với Pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) . 

Nếu như không có pháp Chân Thật Ba-la-mật ((Saccapāramī) này coi như rớt. Chân Lý là nằm trong pháp Chân Thật, mà mình không có pháp Chân Thật này thì mình không đón nhận được.

 Nên khi Ngài Upatiṣya với pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) tới gặp ĐĐ Assaji, thì ngài Assaji nói một  pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) thì hai bên ăn khớp. Mà mình sống trong đời này với pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) này là nền tảng để có Chân Lý, còn nếu không có pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) thì Chân Lý không có cửa đi vô được.

Từ đó quí Phật tử đi tới đâu mặc ai nói ra nói vô mình với pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) này, với chân lý này mình đã có thì tri kiến của mình không lung lay.

Do đó, khi Đức Phật nói "Tất cả các pháp hữu vi là Vô Thường" là đúng cái Chân Thật bắt được liền. 

Thí dụ. ĐĐ Assaji nói với Ngài Upatiṣya : "Mỗi pháp sinh lên bởi duyên" là đúng, không có cái gì nghi ngờ (Hoài Nghi) tại vì mình thủ mình chấp (Thân Kiến) nên mình không thấy được sự thật.

Trong pháp Tham là nó che cái Vô Thường, Tham nên muốn Thường. Thì do đó, cái Tham mà có thì tính Vô Thường mất. Mà Vô Thường có thì Tham tan biến.

Bây giờ mình nói cái gì sinh kiến chấp; Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này là tại vì mình không thấy pháp Chân Thật, mình không thấy pháp Chân Lý, hay là mình không thấy pháp Siêu Lý, hay là Chân Đế.

Đi tới 2 vế  Tham Thô, Sân Thô và Tham Tế, Sân tế, quí Phật tử thấy ra được, nó là gốc Chân Thật của nó là Tập Đế

Nhị Quả:  Thân Thô

                Sân Thô

Tam Quả:  Tham Tế

                  Sân Tế

Nên khi đi qua cái góc của Thân Kiến (Tham) Hoài Nghi (Si), Giới Cấm Thủ (Tham)

Sơ Quả :  Thân Kiến (tham)

                Hoài Nghi (si)

                Giới Cấm Thủ (tham)

Mới là đi cửa ngõ ngoài thôi: Khổ Đế.

Đi vô góc độ bên trong của Khổ Đế là Tập Đế.

Do đó, khi qua được 2 cửa Khổ Đế và tới Tập Đế rồi thì mới đi tới con đường Diệt Đế rốt ráo luôn.

Sabbe saṅkhārā aniccāti; Chư Hành saṅkhāra đều vô thường. Không có Thân Kiến. Không có Hoài Nghi. Không có Giới Cấm Thủ.

Sabbe saṅkhārā dukkhāti; Chư Hành saṅkhāra đều khổ đau. Không có Thân Kiến. Không có Hoài Nghi. Không có Giới Cấm Thủ.

Sabbe dhammā anattāti. Chư Pháp dhammā đều vô ngã. Không có Thân Kiến. Không có Hoài Nghi. Không có Giới Cấm Thủ.

Sự hiểu biết của mình rõ ràng như một, không còn gì thắc mắc nữa, không còn nghi ngờ.

Không có gì mà còn giới cấm thủ, về cầu nguyện, khấn vái, cũng nằm trong Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, cũng nằm trong tham, sân, si của con người, vì mình không thấy Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã nên mình mới cầu xin cái này cái kia.

Khi Nghiệp Chủ Kammassakatā đến thì cái đó qua khỏi Giới Cấm Thủ, đa phần con người mà không thấy Pháp Chân Thật thì họ nói tại vì nghiệp của tôi nặng do tôi không có tu, bây giờ tôi phải chịu trả. Nếu mình nhìn vô Pháp Chân Thật này thì mình nhìn thấy Pháp Chân Lý hiện bày.

Do đó, bà cư sĩ đắc Nhị Quả, đưa cung tên cho người chồng đi săn,  bà nhìn vô 3 Pháp đó bà diệt được 3 hạ phần kiết sử này, thì bây giờ đối với mọi hành động thân, ngữ, ý của bà từ đó cho tới về sau bà sống trong Pháp Chân Thật, bà không còn chấp giữ những cái gì của mình.

Pháp Chân Thật làm cho mình thức tỉnh

Bà Hoàng Hậu Malika Đức Phật làm cho bà thức tỉnh bằng Pháp "Sabbe saṅkhārā aniccāti; Tất cả các pháp hữu vi saṅkhāra đều vô thường" thì bà thức tỉnh, tại bà không muốn nghe tiếng Vô Thường, thì Đức Phật cho bà thấy cái Vô Thường.

Trong đời này mình thiếu một cái Niệm và Tỉnh Giác là 2 pháp bảo hộ của mình, thì mình sẽ rớt. 

Câu chuyện 2 cha con đem lừa ra chợ bán, trên đường đi người nào nói cái gì thì 2 cha con làm theo, rốt cuộc mất con lừa tại vì họ không biết Pháp Chân Thật mà chạy theo lời của người ta thị phi.

Do đó, quí Phật tử phải nhớ khi Thân Kiến là kiến chấp của người ta nhưng mình không có Pháp Chân Thật thì kiến chấp của mình dễ lung lay lắm, người ta nói ra nói vô một hồi mình cũng ngã nghiêng.

Thiền sinh hỏi: Mỗi pháp có 4 phần ý nghĩa trong một Pháp: Trạng thái, phận sự, sự thành tụ, nhân cần thiết. Thì trong Pháp Chân Thật này thì mình mổ xẻ 4 ý nghĩa của 4 thành phần như thế nào ?

HT trả lời: Mình đối chiếu mấy pháp, nếu là thật thì nó thật và không có kiến chấp kiến thủ gì hết đó, kiến chấp kiến thủ mình coi như ngã, nó không có xác định, nếu không có pháp Chân Thật thì kiến nó nghiêng ngã. Người mà không có Pháp Chân Thật, dễ bị lung lay, dễ sinh ra hoài nghi, sinh kiến thủ theo.

Quí Phật tử giải đáp được tại sao bà vợ đưa cung tên cho người chồng, bà sống với Pháp nào ?

Thiền sinh hỏi: Mẹ của Ngài Siêu Việt biết ông chồng thích ăn thịt rùa, ngày nào bà cũng giết một con rùa cho chồng ăn và bà bị quả nghiệp rất nặng.

HT trả lời: Bà cư sĩ này đắc Đạo Quả với Đức Phật. Đức Phật tuyên bố bà đắc Đạo Quả rồi bà trở về sống với ông chồng với Đạo Quả bà có. Còn mẹ của Ngài Siêu Việt chưa đắc Đạo Quả, bà làm theo lời ông chồng trong đó bà còn nhiều tạp nhiễm.

Bà cư sĩ đắc Nhị Đạo, bà tu với Đức Phật bà đắc Đạo Quả xong bà trở về, giống như ông Cấp Cô Độc và con trai sống với Đức Phật, cả hai đắc Đạo Quả xong thì trở về, thì gia đình không còn chi phối nữa. Khi đứa con trai của ông Cấp Cô Độc tới chùa vì được ông Cấp Cô Độc mướn chứ không phải với thiện ý của người con trai, không phải Ba-la-mật. Ông Cấp Cô Độc nói với người con trai: "Con tới chùa cha trả tiền cho con" và người con trai đã làm theo, không phải thập phúc hành tông hay toàn thiện Ba-la-mật, mỗi ngày người con trai làm theo lòng tham cho tới khi Đức Phật Ngài độ. Ngài thuyết "Mỗi Pháp là Vô Thường. Mỗi Pháp là Khổ Đau. Mỗi Pháp là Vô Ngã". Ông nghe mà buồn ngủ Đức Phật Ngài thuyết pháp vào tai ông, ông lắng nghe và đắc Đạo Quả.

Với giáo pháp: "Mỗi Pháp là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã". Đức Phật Ngài thuyết và người con đắc Đạo Quả. Rồi mọi người về và người con cũng về nhà và vô phòng, rồi sáng Đức Phật Ngài đi tới để bát của ông Cấp Cô Độc, Đức Phật nói: "Này Cấp Cô Độc, con trai của ông về tới nhà rồi." Ông Cấp Cô Độc nói "Con chưa thấy, mọi khi về nó đến gặp con để lấy tiền, sao hôm nay nó không đến gặp con để lấy tiền." Ông gọi người con ra gặp mình, ông nói: "Này con, đây là tiền cha thưởng cho con." Người con nói: "Thưa cha, con không lấy."

Thì lúc đó người con trai không còn là người được mướn đến chùa nghe Pháp, mà ông là vị Thánh nhân đã đắc Đạo Quả. Ông Cấp Cô Độc còn chưa biết, ông hỏi Đức Phật. "Bạch Đức Thế Tôn, sao bữa nay con trai của con khác." Đức Phật nói: "Con của ông đã đắc Đạo Quả với Như Lai."

Là người con trai đắc Đạo Quả bởi Pháp Đức Phật Ngài thuyết mà chứng đắc được.

Thì bà cư sĩ đắc Đạo Quả bà nghe Pháp với Đức Phật, chứ không phải bà đưa cung tên cho ông chồng và bà đắc Đạo Quả với ông chồng.

Tới phần thứ hai, người con gái của ông Cấp Cô Độc đắc Nhị Quả, cũng như bà thí chủ đắc Đạo Quả, bữa đó con gái sắp chết, trước khi chết người con gái nói với người cha là ông Cấp Cô Độc vô thăm: "Thôi, em ở lại ráng tu, chị đi nha." Ông Cấp Cô Độc ngạc nhiên, sao mà đứa con gái của mình bữa nay nó mê sảng nó kêu mình là em, mà nó xưng là chị, ông lo quá, tại vì Đức Phật nói tới lúc cận tử lâm chung tâm không có niệm mà mê sảng thì rớt vô 4 đường ác đạo, nên ông lo, vì ông vô chùa làm phước là mong rằng gia đình ông những đứa con được phước.  Ông đến chùa gặp Đức Phật hỏi vì ông không biết, tại vì Đức Phật nói tâm người dưới không nhìn thấy tâm người trên, chỉ có tâm người trên mới nhìn thấy tâm người dưới.

Ông hỏi: Bạch Đức Thế Tôn, con gái của con bữa nay nó nói với con là "chị đi em ở lại ráng tu là nó đang mê sảng".

Đức Phật nói: Không, con gái của ông đắc Nhị Quả, còn ông đắc Sơ Quả.

Thì lúc đó ông Cập Cô Độc mới biết là ông là Sơ Đạo, mà con gái ông đắc Nhị Đạo rồi. Một đời con gái ông chỉ làm một điều duy nhất thôi là ông nhờ đứa con gái bỏ bát cho nhà Sư mỗi khi ông không có nhà. Nhưng đắc đạo quả là nhờ người con gái nghe Pháp Đức Phật mà được sinh về trời.

Thì bà vợ này đắc Đạo Quả với Đức Phật nhưng tuổi thọ và mối quan hệ giữa bà với người chồng này chưa hết, bà sống với nghiệp dư xót, thì bà làm với bổn phận của bà với ông chồng.

Bà đắc Đạo Quả với Pháp chứ không phải là cái nghiệp mình.

Visakha 7 tuổi đắc Sơ Quả mà bà lấy ông chồng người Bả-la-môn có tà kiến và có 20 đứa con.

Nên mình mới nhìn thấy khi người ta đã vượt qua khỏi kiến chấp thì Nghiệp Chủ Kammassakatā có tác động vô tâm, thì tâm không bị tác động tham sân si nữa.

Như Đức Phật khi Ngài bị bệnh kiết lỵ Ngài không có tham sân si nữa, Ngài không bị lung lay do tham sân si với sắc thân mà bị kiết lỵ này nữa, Ngài nhìn vô nó thấy chỉ là Pháp Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã.

Phải sống với Pháp Chân Thật mới có Chân Lý. Còn không có Pháp Chân Thật thì Chân Lý không có cửa vô./.

--------------------------------------------------

Notes:

- Định nghĩa một pháp như thế nào? Trả lời là, có bốn ý nghĩa được gọi là pháp:

1. Trạng thái.

2. Phận sự.

3. Sự thành tụ.

4. Nhân cần thiết.

Khi chúng ta muốn định nghĩa một pháp chúng ta phải có 4 yếu tố này mới được gọi là một pháp.

1. Pháp là chi, thí dụ, cái bàn, cái ghế, âm thanh, là một pháp.

2. Trạng thái của cái bàn ra sao? mình mô tả cái bàn ra sao, vuông, dài, tròn, chữ nhật, cao, thấp.

3. Phật sự của cái bàn ra sao? Có thể để làm bàn ăn, làm bàn viết v.v...

4. Nhân cần thiết của cái bàn là, gỗ, đinh, người làm ra cái bàn v.v...

------------------------------------------------------

Chuyện ngụ ngôn Aesop “Hai cha con và con lừa”

Đã từ lâu lắm rồi, vào một ngày nọ, một người thợ xay già và con trai dẫn con lừa của họ ra chợ bán. Họ khiến chú lừa này đi thật chậm rãi, vì nghĩ rằng có thể có nhiều cơ hội để bán được chú lừa hơn nếu họ giữ cho chú ta trong tình trạng khỏe mạnh. Khi họ đi dọc theo con đường lớn, một số lữ khách đã cười lớn khi thấy họ.

“Thật ngu ngốc khi đi bộ trong khi có thể đường hoàng cưỡi con lừa đó,” một người kêu lên. “Kẻ ngu ngốc nhất trong cả ba không phải như ý nghĩ của ta.”

Người thợ xay không muốn bị cười nhạo, vì thế ông đã bảo con trai của mình trèo lên cưỡi con lừa. 

Họ đi xa hơn một chút dọc theo con đường, đến khi có ba thương nhân đi ngang qua.

“Ô hô, ta có gì đây?” họ kêu lớn. “Hãy tôn trọng người già nào, chàng trai! Xuống lừa và để ông ấy lên.”

Mặc dù người thợ xay không hề mệt mỏi, ông cũng đành để con trai mình đi xuống và leo lên lưng lừa, chỉ để vừa lòng những thương nhân kia. 

Tại chiếc cửa quay [dẫn vào chợ], họ đi qua một số phụ nữ đang cầm những giỏ hàng đựng đầy rau và những thứ khác để ra chợ bán.

Một người trong số họ thốt lên, “Nhìn kẻ già ngu ngốc kia xem. Chễm chệ trên lưng lừa, trong khi đứa trẻ tội nghiệp kia phải cuốc bộ.”

Người thợ xay cảm thấy hơi chút bực bội, nhưng để được chấp nhận, ông bèn bảo cậu con trai leo lên ngồi sau lưng ông. 

Họ chưa kịp bắt đầu thì lại có một tiếng hô lớn vang lên từ một nhóm người khác đang đi trên đường.

“Quả là tội ác,” một người kêu lên, “để một con thú ngu ngốc tội nghiệp như thế phải chở nặng! Họ trông có thể vác con vật tội nghiệp ấy, hơn là để con vật ấy thồ họ.”

Một người khác nói, “Chắc hẳn họ chuẩn bị bán bộ da của con vật đáng thương ấy thôi.”

Người thợ xay và con trai của ông ta nhanh chóng chạy xuống, và một thời gian ngắn sau, khu chợ trở nên náo động khi chứng kiến cả hai cha con cùng khiêng một con lừa buộc vào cây sào. Rất đông người đã chạy đến để trông cho rõ hơn cảnh tượng kỳ lạ đó.

Không phải là con lừa không muốn được khiêng, nhưng vì có quá nhiều người đến, chỉ trỏ vào nó, cười to và la lớn, nó bắt đầu đá và kêu lên, và rồi, khi họ đang đi ngang qua cây cầu, những sợi thừng buộc con lừa bị tuột ra, và con lừa rơi tõm xuống sông. 

Người thợ xay nghèo đành rầu rĩ trở về nhà. Bằng cách cố gắng làm hài lòng tất cả mọi người, ông đã không làm hài lòng bất kỳ ai, và không những thế, ông còn đánh mất cả con lừa của mình.

Bài học rút ra từ câu chuyện: Nếu bạn cố gắng làm vừa lòng tất cả, thì bạn sẽ không làm vừa lòng ai cả.

----------------------------------------------

[218] Bốn tuệ đạt thông (Paṭisambhidā), tuệ phân tích, tuệ vô ngại giải:

1. Nghĩa đạt thông - Lý Vô Ngại Giải(Atthapaṭisambhidā), là trí hiểu thấu đáo nghĩa lý của pháp đế; trí có khả năng phân giải chi tiết những điều được nói tóm tắt.

2. Pháp đạt thông - Pháp Vô Ngại Giải  (Dhammapaṭisambhidā), là trí hiểu rõ pháp, biết rõ các nguyên lý của ý nghĩa; tuệ có khả năng tổng trì pháp đề.

3. Ngữ đạt thông - Từ Vô Ngại Giải (Niruttipaṭisambhidā), là trí biết ngôn ngữ, dùng để trình bày pháp và nghĩa pháp.

4. Biện đạt thông - Biện Vô Ngại Giải (Paṭibhānapaṭisambhidā), là trí thiện xảo ứng đối, biết rõ cách lý luận, phân tích pháp.

------------------------------------

Sáu thần thông hay lục thông (Chaḷabhiññā):

1. Biến hóa thông (Iddhividhi), thần thông làm được điều phi thường như thăng thiên độn thổ, đi trên nước, đi xuyên vách đá, hiện ra các vật v.v...

2. Thiên nhĩ thông (Dibbasota), thần thông nghe được những âm thanh đặc biệt như tiếng nói chư thiên, tiếng nói ở xa...

3. Tha tâm thông (Cetopariyañāṇa), thần thông biết được hiểu được tâm người khác khi họ chỉ khởi tư tưởng chưa nói ra.

4. Túc mạng thông (Pubbenivāsānussati), thần thông biết được đời sống quá khứ của mình, biết tiền kiếp của mình.

5. Thiên nhãn thông (Dibbacakkhu), thần thông thấy được đời sống chúng sanh, thấy được thân tướng sắc tế của loài hóa sanh, thấy được duyên nghiệp dắt dẫn loài hữu tình sinh tử. Thiên nhãn thông cũng còn gọi là sanh tử thông (Cutūpapātaññāṇa).

6. Lậu tận thông (Āsavakkhayañāṇa), thắng trí đoạn trừ được lậu hoặc phiền não chứng quả A-la-hán.

Năm loại thần thông đầu là thông hiệp thế, thần thông thứ sáu là thông siêu thế.

-----------------------------------

Mười trí lực (Dasabalañāṇa), hay mười Như Lai trí lực (Tathāgatabalañāṇa):

1. Trí hiểu nguyên lý và phi nguyên lý (Ṭhānāṭhānañāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự kiện, cái gì có thể xảy ra và cái gì không thể xảy ra.

2. Trí biết quả nghiệp (Kammavipākañāṇa), đức Như Lai biết rõ các hạnh nghiệp của chúng sanh, thiện ác dẫn đến quả dị thục tốt xấu ra sao? Quả trổ mức độ như thế nào?

3. Trí biết đạo lộ mọi sanh thú (Sabbatthagāminīpaṭipadāñāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự thực hành là con đường dẫn đến tái sanh trong những cõi vui và cõi khổ, biết rõ hành động đưa đến lợi ích hiện tại, lợi ích tương lai và lợi ích tối thượng.

4. Trí biết bản chất dị biệt (Nānādhātuñāṇa), đức Như Lai biết rõ thế gian có bản chất đa dạng như uẩn sai biệt, xứ sai biệt, và giới sai biệt.

5. Trí biết khuynh hướng dị biệt (Nānādhimuttikañāṇa), đức Như Lai biết rõ sự khác biệt khuynh hướng của chúng sanh, có chúng sanh khuynh hướng hạ liệt, có chúng sanh khuynh hướng cao thượng, chúng sanh đồng khuynh hướng sẽ thuận dòng với nhau, hạ liệt thân cận hạ liệt, cao thượng thân cận cao thượng, dù ở quá khứ hay hiện tại cũng vậy.

6. Trí biết thượng hạ căn (Indriyaparopariyattañāṇa), đức Như Lai biết rõ căn cơ cao thấp của chúng sanh, biết rõ chúng sanh có kiến chấp như vậy tiềm miên như vậy, sở hành như vậy, có căn trì độn, có căn lanh lợi, có tính khó dạy, có tính dễ dạy, có khả năng giác ngộ hay không thể giác ngộ.

7. Trí biết sự nhiễm-tịnh-ly của thiền định (Jhānādisaṅkilesādiñāṇa), đức Như Lai biết rõ sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất ly của thiền định, nhập định và sự giải thoát.

8. Trí biết tiền kiếp (Pubbenivāsānussatiñāṇa), đức Như Lai có trí nhớ chính xác và nhớ nhiều về các kiếp sống quá khứ, từng nét đại cương và chi tiết đa dạng.

9. Trí biết sự sanh tử (Cutūpapātañāṇa), đức Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân ngài thấy rõ sự sống chết của chúng sanh; biết chúng sanh này sanh đến chỗ hèn hạ hoặc cao sang, xấu xí hay xinh đẹp, hạnh phúc hay đau khổ, là do hạnh nghiệp như vậy. Chúng sanh đi đến tùy theo nghiệp.

10. Trí đoạn lậu (Āsavakkhayañāṇa), đức Như Lai tự mình thắng tri vô lậu tâm giải thoát, đoạn tận các lậu hoặc. Ngài biết rõ sự đoạn diệt hoàn toàn các lậu hoặc như vậy.

M.I.69; A.V.33; Vbh.336.


Monday, June 22, 2026

081 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 18 tháng 11, 2023

 081 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 18 tháng 11, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 081 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Xả Thí có 2 vế: Một là,Xả Thí Ba-la-mật, hai là, Xả Thí Thiện.

Xả Thí Thiện thì đừng để ý tới chuyện bỏn xẻn, mình chỉ làm xả thí thôi, có điều kiện cho thì cho.

Nhưng khi nói Xả Thí Ba-la-mật là Xả Thí Toàn Thiện phải có 2 vế;  là tôi xả thí này ra để tôi diệt cái bỏn xẻn của tôi, là diệt cái bỏn xẻn này có 5 bỏn xẻn (pañca Macchariya) là 5 bỏn xẻn.

Bỏn xẻn có 5 loại là:

1- Bỏn xẻn chỗ ớ (āvāsa macchariya).

2- Bỏn xẻn thân tộc (kula macchariya)

3- Bỏn xẻn lợi lộc (lābha macchariya)

4- Bỏn xẻn danh tiếng (vaṇṇ macchariya)

5- Bỏn xẻn pháp.macchariya (dhamma macchariya)

 Tật đố (issà) và bỏn xẻn (macchariya) là 2 pháp bất thiện ngủ ngầm.

Thế gian người ta bỏn xẻn về dòng giống, như con vua thì lấy con vua. Nhưng người Phật tử mình, ngay cả ông Sư hay người xuất gia thì thường bỏn xẻn trí tuệ, như là dấu nghề, người đời họ dấu nghề nhưng người tu là bỏn xẻn Phật Pháp.

Tinh Tấn Ba-la-mật hơn tinh tấn thường. 

Tinh Tấn có 3:

- Tinh Tấn

- Chánh Tinh Tấn

- Tinh Tấn Ba-la-mật

 Tinh Tấn suông thì có chánh và tà, mình chỉ có siêng năng thôi.

Chánh Tinh Tấn là mình chỉ có một phía thôi, mình làm việc cho tốt còn cái tà mình không có. Chánh Tinh Tấn làm dải đãi lui sụt.

Tinh Tấn Ba-la-mật là nó vừa trị Tinh Tấn Tà nó còn trị dải đãi, vừa trị cái lười biếng. Chánh Tinh Tấn làm dải đãi lui sụt thì nó mới ra toàn thiện.

Như vậy thì, bây giờ mình nói việc mình tu, một ngày mình tu; đọc kinh, ngồi thiền, đọc sách.

Mình viết ra Tinh Tấn có 3; Tinh Tấn, Chánh Tinh Tấn, Tinh Tấn Ba-la-mật, thì trong đời sống hàng ngày, một ngày thì làm được mấy loại Tinh Tấn ? Và có bao nhiêu Chánh Tinh Tấn ? Có bao nhiêu Tinh Tấn Ba-la-mật, mình lọc ra.

 Khi Ác Ma tới, Ngài không coi Ác Ma, Ngài không coi binh ma, Ngài không coi sự hùng dữ khủng khiếp đó. Khi mấy cô nhìn thấy ma, mấy cô coi nó chứ mấy cô không coi mình. Nên Đức Phật Ngài nói mình không chuẩn bị tư lương, không chuẩn bị vốn hành trang lên đường xa.

Khi Ác Ma tới Chư Thiên bỏ chạy hết.

Mấy cái đó mình phải ngồi nghiệm ra mới trì độ con đường mình tu.

Vậy thì bữa nay mình có Tinh Tấn trong tu tập, Tinh Tấn trong đời sống, Tinh Tấn trong sinh hoạt, thì mình có Tinh Tấn loại nào mình bắt đầu lọc ra, và chính mình biết thôi.

Xả Thí

Xả Thí Thiện

Xả Thí Ba-la-mật

Nói Xả Thí, ai cũng có Xả Thí, mà Xả Thí Thiện thì khác hơn Xả Thí suông.

Tinh Tấn Ba-la-mật là phải vượt qua khỏi nghiệp duyên nghiệp báo, hay những phiền não, chứ không phải là Tinh Tấn mình chỉ vượt qua giải đãi thôi, hay là vượt qua lười biếng thôi, cái đó là sai.

Tinh Tấn Ba-la-mật không thể làm bởi trí tuệ thông thường được, phải là Thắng Trí mới được. Mà Thắng Trí là phải tích lũy nhiều, có một bề dài trải nghiệm nhiều nó mới ra chất lượng lớn cho trí tuệ này thù thắng. Nên mỗi việc gì mình cũng dùng trí, tập hoài, cái trí bắt đầu dầy dặn lên hay là nó kiên cố hơn hay là nó sắc bén hơn, thì mới có kết quả được.

Xả Thí thì có xả thí tà, xả thí chánh, hay là xả thí toàn thiện, xả thí thiện, hay là xả thí thiện, xả thí ba-la-mật.

Trong cái tu tập bắt đầu mình nhìn mình, rồi mình nhìn qua các người khác hoặc nhìn người thân của mình hay người quen của mình, rồi nhìn qua chúng sinh, mình rút tỉa ra được.

Thì khi rút tỉa ra được cái đó thì mình đang đi trên con đường Thiền An Chỉ, đem tâm quan sát người đó, hoan hỉ người đó để rồi mới Minh Sát, rồi giải quyết được sự việc đó.  Là mình áp dụng 2 cái Thiền An Chỉ và Thiền Minh Sát cho mình và cho người, mới ra được.

 Khi mình tìm ra được cái đó thì bắt đầu qua Pháp Hành


                  - Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm

Bhāvanā 

                  - Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ


Thì Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm

Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ

Thì mới ra được cho mình / cho tha nhân.  Mình phải có Pháp Hành để tu tập. Cái này là để thực hành

Khi nói tới Pārami Pháp Toàn Thiện phải thực hành thì tạo quả mới ra được . 

Đạo cũng 2 vế:

1. Sát Trừ Phiền Não, 

2. Chứng Đắc Niết Bàn.

Hai cái đó, thì mình nhìn Sát Trừ Bỏn Xẻn, tiêu trừ bỏn xẻn thành tựu xả thí viên mãn.

Chữ Pāramī = âm là Ba-la-mật = dịch là Đáo Bỉ Ngạn - đến bờ an vui

Đáo là đến

Bỉ là an vui

Ngạn là bờ sông.

Arahat, Arahant âm là A-la-hán nghĩa là vô sinh, là không tục sinh nữa.

Tu Đà Hườn là âm của Sotāpanna dịch là bậc Thất Lai, mình tập cách dịch, không sài âm nữa vì nó không có nghĩa, rồi mình không hiểu được nghĩa thì mình hiểu sai ý của từ ngữ đó.

Pārami đến bờ an vui, tức là làm sao để đến bờ an vui.

Khi đi trong các chi thiền; 

Tầm --> Cảnh 

Tứ  -->  Cảnh

Hỷ ---> Cảnh

Lạc --> Cảnh

Nhất Tâm --> chỉ còn 1

Tầm tới Cảnh, còn 2, còn tâm còn cảnh. 

Thí dụ, bờ sông mình đi xuống tàu đi qua bờ bên kia, thì Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, tới bờ bên kia thì chỉ còn 1 là Nhất Tâm.

Thì khi mình đi tới Pārami (Ba-la-mật) mình đi Sát Trừ Phiền Não. Ba-la-mật này mà đi đang Sát Trừ Phiền Não, Tâm Đạo thì hành Ba-la-mật Sát Trừ Phiền Não.

Thì trong khi mình đi Pārami Xả Thí Ba-la-mật đưa đến Giải Thoát Đạo Quả,

Xả Thí Ba-la-mật  / --->  /  Giải Thoát Đạo Quả, 

                       thì ở giữa là Ác Ma

 Giờ mình đặt câu của Đức Phật khi còn là Bồ Tát ngồi dưới cội cây,  do nhờ Xả Thí Ba-la-mật Ngài thằng được Ác Ma đi đến Đạo Quả, thì ở giữa là Ác Ma, một bên là Xả Thí Ba-la-mật, một bên là Đạo Quả

Xả Thí Ba-la-mật của Bồ Tát Giác Hữu Tình

Xả Thí Ba-la-mật  / --->  /  Giải Thoát Đạo Quả, 

 Bodhisatta                       Bậc Chánh Đẳng Giác

Giác Hữu Tình                   Níp-bàn

Quí Phật tử đang ở trong vế nào ? vế 1 hay 2. Ở trong 2 vế, thì khoảng trống ở giữa.

Ngài đi Xả Thí Ba-la-mật đến bờ an vui, thì trong Xả Thí Ba-la-mật Ngài đi tới bờ an vui thì pháp nghịch của Ngài, như mình học, lực đẩy, lực kéo, lực trì cản , thì trong khi Ngài đi như vậy pháp nghịch của Ngài là ác ma, bỏn xẻn, hay pháp bất thiện, phiền não, thì lúc đó Ngài biết, các quí Phật tử mình biế.

Khi Xả Thí thì có 2 là vật chất và tinh thần.  Mình có 2 loại xả thí; xả thí vật chất và tinh thần. Nó chỉ là một cảnh thôi, nó chỉ là một đối tượng thôi. 

1. Thí dụ như xả thí vật chất, mà trong xả thí vật chất này mình xả thí ba-la-mật.

2. Còn khi xả thí pháp, một pháp thoại hay một lời dạy của Đức Phật, hay kinh sách, thì cái đó là xả thí về tinh thần.

3. Còn xả thí vừa vật chất vừa tinh thần.

Tức là xả thí có 3 loại: 

1. Vật chất đơn

2. Tinh thần đơn

3. Vật chất và tinh thần

Có những cái mình chỉ có xả thí vật chất thôi, không có cái gì trong tinh thần được. Thí dụ, trên đường đi gặp nhiều người ăn xin, lúc bấy giờ đối với người ăn xin là đối tượng để mình xả thí, thì mình xả thí vật chất đơn thuần.

Sư nói cái này chỉ nói về Cảnh thôi, Sư đi từng vế. 

Thì có khi mình chỉ đi vật chất với đối tượng đó thôi, mình bố thí xong mình đi. 

Có những cái người ta không cần gì về vật chất nhưng người ta cần tinh thần, mà lúc bấy giờ mình cho vật chất thì là không đúng, người ta cần tinh thần.

Bây giờ thí dụ một người giàu có nhưng họ đang đau khổ về tinh thần thì lúc đó mình không cho họ vật chất, họ cần tinh thần thì mình bổ túc tinh thần cho họ. 

Thì lúc đó, có khi là xả thí vật chất, có khi xả thí là tinh thần, có khi cả vật chất và tinh thần. Thì cái đó là đối tượng.

Nên mình làm mình biết, mình phải biết. Thì tại sao mình biết cái này là vật chất thôi ? Tại sao mình biết cái này là tinh thần thôi ? Là mình phải biết vì trí tuệ của mình làm điều này, chứ không phải làm không có trí 

Thì khi mình đứng trong cái đó mình làm được việc xả thí vừa vật chất vừa tinh thần thì xả thí của mình là mình được một việc Xả Thí Thiện. Cái này mình mượn đối tượng, có khi chính mình là đối tượng và họ là đối tượng, mình có cả hai. Trong khi mình làm cái này thì mình có một xả thí, bắt đầu mình làm qua Ba-la-mật.

Tới Xả Thí Ba-la-mật. Mình làm Xả Thí Ba-la-mật thì mình được diệt trừ phiền não, giải cứu, giải thoát. 

 Pārami Xả Thí Ba-la-mật đưa đến Giải Thoát Đạo Quả, là mình giải cứu để giải thoát thì nó ra ý nghĩa đó.

Thế thì khi mình xả thí, mình nói mình diệt trừ cái bỏn xẻn trong mình, là mình mượn đối tượng để mình diệt trừ bỏn xẻn của mình hay là sự dính mắc của mình, xả thí ra. Nhưng trong khi đó mình giải cứu mình thoát khỏi cái phiền não này, thoát khỏi luân hồi, thoát khỏi khổ đau. Mình phải có cái đó thì mới ra được.

Nên trong quyển Biên Niên Sử Ngài Mingun nói Pārami là giải cứu, rồi mới giải thoát, chứ không nói suông Đáo Bị Ngạn đến bờ an vui, nên sau này Sư sợ người học của mình người VN mình thôi chứ người nước ngoài người ta không có, Sư sợ các quí Phật tử VN mình, cái chữ Bồ Tát họ mang một chức năng lớn lắm, trong khi chữ Bồ Tát mà mình đang nói là họ đang tu tập để họ giải thoát cho họ, thì mình không để chữ Đức Bồ Tát được, mình phải để là bậc Giác Hữu Tình, chứ chữ Bồ Tát kia nghĩa là cứu độ, ra tay tế độ có thần lực có nhiệm màu có phép.

Thì chữ Balamat (Pārami) mình đang đi trên đường là bậc giác hữu tình, mình đang giải cứu mình, giải thoát mình và cứu độ chúng sinh. Thì trong khi đó những cái mà mình làm được bố thí vật chất cho người tức là mình hiểu được cái cách xả thí cho mình một cái Ba-la-mật.

Nếu không hiểu cái vế bố thí có lúc cần vật chất, có lúc cần tinh thần, có lúc cả hai vật chất và tinh thần, thì trong lúc mình xả thí thiện, xả thí Ba-la-mật, có lúc mình đang là giải cứu hay mình chỉ làm được việc thiện thôi mà chưa có giải thoát mình còn ở trong cái xả thí này hưởng lợi.

Mình mới thấy tại sao mượn chúng sinh làm đối tượng hành Ba-la-mật (Pārami) . Tại vì không có việc làm này, không có trường hợp này, không có người này, mình không có giải cứu mình được.

Cái vi tế là mình phải giựt mình mà mình nghiệm ra được không và không được là mình phải học.

Bồ Tát Sĩ Đạt Đa lúc Ngài còn ở trong hoàng cung Ngài không có cái gì để giải cứu Ngài, Ngài cứu người ta được, tiền tài, danh vọng, 3 tòa lâu đài, 4 hầm châu báu, Nhưng Ngài nói ta phải giải cứu ta.

Chữ giải cứu này là nằm ở trong chữ Ba-la-mật (Pārami), Ngài nói ta phải giải thoát cho ta, thì nó nằm ở chữ Ba-la-mật (Pārami).

Thì khi mình đứng trong trường hợp như Bồ Tát Sĩ Đạt Đa, tiền tài, danh vọng, mình có hết, hay là mình hưởng ? Cái đó mới hiện ra trạng thái vì sao cướp nội tạng của người ta là vì để kéo dài tuổi thọ mình lên, tại vì người ta sợ chết chứ người ta đâu có giải cứu. Đi cướp của người khác để làm cho tuổi thọ mình tăng lên, nội tạng họ được làm mới để cho tuổi thọ của họ được tăng lên. Chứ thật ra không phải Ba-la-mật. Mình ở trong cái đó mình mới thấy mình chưa giải cứu mình, chưa có giải thoát mình một khi mình đắm chìm trong đó.

Nên chữ Ba-la-mật (Pārami) rất là cao quí, nó có tính chất là tối thượng, là sự nhiệm màu. Thật sự chữ giải cứu là giải cứu phiền não.

Cho dù đầy đủ như Sĩ Đạt Đa trong hoàng cung thì Ngài vẫn còn trong phiền não. Mình đây cũng vậy.

Sư ngồi đây tu, Sư nói với quí Phật tử mình ở đây an vui chứ ở ngoài khổ lắm, phiền não đầy, người nào cũng có, và không thoát ra được. Nhưng mình giải cứu mình trước, mình ở trong chùa mình đã ở trong trạng thái an lành rồi, mình giải cứu mình trước, mình giải thoát phiền não mình trước.

Do đó, những cái đó làm cho mình phải thấy rằng là những pháp Ba-la-mật (Pārami) này là mình phải đặt cái vế đầu tiên là mình phải giải cứu cho mình, phải giải thoát cho mình, thì cái đó đi qua con đường Ba-la-mật (Pārami).

Khi Đức Phật Ngài Sumedha tu tập từ Dāna tới Pariccāga gọi là Phóng Khí, Ngài không còn lựa chọn nữa, còn xả thí là còn lựa chọn, Pariccāga gọi là Phóng Khí là bỏ đi luôn. Bảy ngày đầu Sumedha còn mở cửa kho cho dân chúng vào muốn lấy gì thì Ngài cho, sau Ngài nghĩ ta đã cho rồi thì còn đứng giữ cửa làm gì nữa, thì Ngài bỏ đi luôn, ai tới lấy gì cũng được, đó là Pariccāga là Phóng Khí. Tức là lúc đó Ngài đã đi tới Ngài vô Dāna rồi Ngài giải cứu sau tới Pariccāga gọi là Phóng Khí là Ngài giải thoát, ra khỏi phiền não

Thiền sinh hỏi: như lời Sư dạy,  vậy là tất cả 10 Ba-la-mật (Pārami) hay là 30 Ba-la-mật thì tùy mình, làm một Ba-la-mật là có 2 vế, cái thứ hai là giải thoát phiền não?

HT trả lời: Mà cái đó là 2 vế Ba-la-mật (Pārami)  là giải cứu và giải thoát. Mà làm đúng 2 cái này là thành Ba-la-mật (Pārami) , một Ba-la-mật (Pārami) , mình giải cứu cái phiền não, rồi mình giải thoát cái phiền não. Mình bị kẹt trong cái phiền não này mình phải giải cứu nó, sau đó mình thoát ra khỏi cái này thành một cái Ba-la-mật (Pārami) hay là thành tựu. 

Nhưng mình không có, thường thường mình làm có một vế. 

Do đó khi mình làm được mấy cái này, mình viết xuống mình mới thấy thật sự là mình còn phải tu tập trao dồi nhiều, mà không có thì giờ, đối với các quí Phật tử đây Sư lo là không có thì giờ để mà bỏ phí nữa.

Do đó mình phải thấy mình xả thí Dāna mà mình chưa Phóng Khí (Pariccāga), mình xả thí mình chưa phóng khí, nếu mình chưa giải cứu mình thì không có giải thoát, mình phải giải cứu mình mới giải thoát. Cả hai vế đó không rời, nó luôn luôn đi đôi.

Đức Phật Ngài nói chỉ có Ba-la-mật (Pārami). mới đi đến giải thoát. Nếu như là đệ tử Đức Phật tại gia hay xuất gia cũng vậy mà không hành Ba-la-mật (Pārami) thì còn luân hồi, tái sinh trở lại là nhân, thiên. Mà gương thấy trước mắt quí Phật tử phải học, đừng có quên, là Đại Phạm Thiên Sahampati. Hai người cùng tu, Bồ Tát đi con đường Ba-la-mật (Pārami) nguyện giải thoát, còn Sahampati đi con đường Thiền Chỉ, sinh về cõi trời Sắc Giới làm vị Đại Phạm Thiên.

Mình tự giải cứu những phiền não thì mới giải thoát khỏi phiền não, không ai giải cứu cho mình, không ai giải thoát cho mình.

Sacca có 2 pháp là Sacca Vādā = Chân Ngôn (lời nói chân thật)

                             Sacca Kiriyā = Chân Hạnh (hành động chân thật)

Sống bằng lời nói chân thật và hành động chân thật thì có quyền lực, không ai đánh đổi mình được, mà mình nói người ta có sự khiếp phục.

Đức Phật Ngài nói 2 pháp sinh ra có quyền lực là phải chân ngôn và chân hạnh.

Từ ngữ: Như Lai Tathāgata là Như Lai nói sao làm vậy, nghĩ sao nói vậy.

Có một cô kỹ nữ ngồi bên giòng sông, nước sông chảy cuồn cuộn, ông vua và đoàn quân đi tới muốn qua sông, thì bà nguyện: Từ khi tôi sinh ra với sắc đẹp này tôi chỉ là sự vui chơi cho tất cả vị có tiền, do lời chân thật này và hành động chân thật này xin cho giòng sông này ngưng lại để vua và đoàn quân đi qua." 

và ông vua cùng đoàn quân đi qua được, ông vua hỏi: Ngươi có phải là Chư Thiên không, ngươi có phải là Dạ Xoa không, ngươi có phải là Atula không ? Bà trả lời là không, vua hỏi tiếp thế tại sao nước đang chạy mà ngưng lại, bà trả lời tôi chỉ có lời nói chân thật, và tôi có một đời sống chân thật chân ngôn.

 Bây giờ, con người mà không có chân thật, và hành động của họ không có chân thật thì làm sao có quyền lực, họ sống trong sợ hãi thì sao có dũng khí dũng mãnh được. 

Nên Đức Phật nói  2 pháp Sacca Vādā = Chân Ngôn (lời nói chân thật) ,  Sacca Kiriyā = Chân Hạnh (hành động chân thật) là người có quyền lực

Mấy cô phải sống chân thật, lời nói phải chân thật, không mua bán, không đi tìm kiếm, nó đến một cách rất là phi thường. Đức Phật nói đó là mãnh lực phi thường.

Lời nói chân thật, hành động chân thật nó phải nằm trong Ba-la-mật (Pārami) 

          Sacca nằm trong Ý

          Vādā nằm trong Ngữ

          Kiriyā nằm trong thân

Ý mình phải chân thật thì lời nói mình mới chân thật, hành động về Thân mình mới chân thật.

Như thế thì khi muốn có Sacca Vādā = Chân Ngôn (lời nói chân thật) thì lời nói mình phải chân thật. Muốn có hành động chân thật thì ý của mình phải chân thật mình mới có hành động chân thật được, chứ không có đi hai chiều, không có 2 cái đảo ngược nhau được. Thì mình mới được an vui, và mình tự giải cứu mình trước, rồi sau đó mình giải thoát cái khổ.

Thiền sinh hỏi: Thưa Sư, có người họ vừa tà ngôn vừa tà hạnh mà họ lại có quyền lực.

HT trả lời: Họ ăn cơm nguội. Tích truyện bà Vishaka nói cha chồng ăn cơm nguội “siu nguội” (purārakaṃ) như sau:

Ngày nọ, khi Migāra đang ăn một món cháo thật bổ dưỡng nấu bằng gạo trộn mật ong, đựng trong bát bằng vàng. Một thầy tỳ khưu đến trước nhà trì bình khất thực. Visākhā đang hầu quạt cha chồng nên đứng qua một bên cho ông thấy rõ vị sa môn mà phát tâm sớt bát. Nhưng Migāra giả vờ không thấy và vẫn tiếp tục ăn.

 Visākhā bèn nói với vị sa môn: “Bạch ngài, xin hãy đến nơi khác hóa duyên. Cha chồng tôi đang ăn cơm nguội!”

Người cha chồng, Migāra, rất giận dữ khi nghe những lời mà ông xem như sỉ nhục này, muốn đuổi cô ra khỏi nhà ngay  Ông bèn mời tám vị cố vấn để phàn nàn về người con dâu. 

Visākhā giải thích rằng tất cả những phước báu mà ta được thọ hưởng hôm nay đều là quả lành của những thiện nghiệp trong quá khứ,  cũng như ăn thức ăn cũ mà thôi; không cúng dường chư tăng là không tạo nên công đức mới cho quả lành mai hậu. Nghe những lời này, các vị cố vấn kết luận rằng thái độ của cô không có gì sai quấy. 

 Mà cái đó trong thập thiện lực, tức là trí tuệ của Đức Phật có 10 lực, thì Ngài nói truy tìm nghiệp tam thời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Ngài có tam thời nghiệp trí, Ngài biết được lực quá khứ, nghiệp lực hiện tại, nghiệp lực vị lai.

Nếu như ông cha chồng này giàu có thì biết là quá khứ ông có làm phước, mà bây giờ ông không gieo trồng thì trong vị lai ông không có nữa, đó là 3 thời rồi.

Mình học rồi mình áp dụng thì mình có trí tuệ của Đức Phật. Có lần Sư nói mình mượn trí tuệ của Đức Phật, chứ mình không có sẵn, mà mình muốn có thì mình phải áp dụng lời Đức Phật.

Ở đời này người ăn cơm nguội nhiều lắm, nhưng họ không biết là họ đang ăn cơm nguội. Còn người ăn cơm mới thì ít, tại vì họ ít biết để làm phước để có cơm mới ăn.

Đi đến bờ an vui, tức là từ nơi phiền não để đến bờ an vui, mà trong cái đến bờ an vui bỏ phiền não thì mình phải tự giải cứu mình. Mình giải cứu mình được thì mình mới giải thoát được, rồi mình ra khỏi cái phiền não mình tới nơi không còn phiền não nữa.

Nếu mình trong Ba-la-mật (Pārami) mình cũng phải có Thiền An Chỉ Samadhi, và cũng có Thiền Minh Sát Vipassana, và trong cái đó mình tu tập và trong tu tập đó phải có trí tuệ.

Trong Thiền An Chỉ Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, thì không có trí

Trong Thiền Minh Sát Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ, thì có trí (Tuệ)

Thiền sinh hỏi: Thưa Sư, trong Thiền An Chỉ Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, đó là tới Tứ Thiền thì lúc đó là mình tu tiếp nữa là nó có Thắng-trí (abhiññā), thì nó là thắng trí, là Tuệ (Trí) ?

HT trả lời: Muốn có có 5 chi thiền trong Thiền An Chỉ Samādhi là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, mình phải trong Đại Thiện Tương Ưng Trí. 

Trong 5 chi thiền Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí. Thì khi tới trạng thái Nhất Thống (Nhất Tâm) là Định, và Định đi xuống tới Tuệ, Đại Thiện Tương Ưng Trí + Tuệ = Thắng-trí (abhiññā)

Mình có nhiều cách để đi tới Đạo Quả, mà tại vì mình không có cái tâm để đi tới Đạo Quả, hay là tầm cầu Đạo Quả, hay là tu tập để được Đạo Quả, mà mình bị nghiệp báo quá khứ lậu hoặc triền cái nó lôi kéo mình.

Ngay cả người xuất gia cũng vậy, họ gột rửa hết rồi, họ cắt ái đi xuất gia, nhưng tới khi vô trong môi trường của Tam Bảo, danh thơm, tiếng tốt, lợi lộc, tất cả những cái nó tới là họ vuột hết. Cái người tu mắc nợ nặng hơn người bên ngoài, tại vì họ thọ ơn của Tam Bảo, người bên ngoài không có mắc nợ, như đồng tiền của ông Sư, hay tài vật Tam Bảo. 

Cũng như miếng đất mà không có gieo trồng mà muốn cho người ta dọn dẹp cỏ lác gai góc thì mình thiếu nợ người ta công làm sạch miếng đất. Còn cái miếng đất người ta đã gieo trồng rồi thì người vô muốn lấy những thứ mình gieo trồng và người ta dọn sạch cỏ gai cho mình thì mình không thiếu nợ. Còn cái kia không làm ra mà muốn người ta dọn sạch sẽ miếng đất của mình là mình thiếu nợ.

Thì ngay khi mình đang ở trong trường hợp đầy đủ như vậy mình vẫn còn bị.

Vậy thi khi, trong đời sống hàng ngày mình dùng trí tuệ của Đức Phật Tam Thời Nghiẹp Trí mười Như Lai trí lực (Tathāgatabalañāṇa), hôm nay mình có cái này tức là quá khứ mình có, và nếu hôm nay mình không gieo nữa hay là mình không vun bồi nữa thì ngày mai mình sẽ không có. Kiếp này là quá khứ có, vị lai có là do kiếp này vun bồi. Mình không tự giải cứu thì mình không giải thoát.

Trong Ngũ Ác Ma (pañca-māra) viết lên tờ giấy xem quí Phật tử sợ loại ma nào nhất ? Hay loại ma nào quí Phật tử không dám đối diện nó.

 Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:

1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.

2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra) (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.

3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.

4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.

5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.

Khi quí Phật tử nói sợ Ngũ Uẩn Ma thì coi lại phần Māra trong cuốn Chính Thị Kim Sinh.

Ngũ Uẩn Ma; Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, nếu mà nó trơn thì không có gì để là ma, Sắc thân mình mà nó trơn không có cái gì thì không có gì là Māra. Còn nếu như Thọ của mình mà nó trơn, nó không có cái gì thì không có Māra. Tưởng cũng vậy, Hành cũng vậy, Thức cũng vậy.

Ngũ Uẩn Ma là cái bàn, cái ghế, căn nhà, chiếc xe, đồng hồ, vật dụng để nó giống cơm nguội, còn nếu nó tinh khiết thanh tịnh thì đâu có bị.

Bây giờ như Bồ Tát (bậc Giác Hữu Tình) hay Đức Phật, hay các bậc Thánh Nhân, các Ngài không nói Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra) , mà các Ngài nói Phiền Não Ma (Kilesamāra).

 Phiền Não Ma (Kilesamāra) xâm nhập vô Pháp Hành nó là ác ma, nó xâm nhập vô trong uẩn làm Thủ Uẩn Ma. Không nói diệt trừ thủ uẩn mà nói diệt trừ phiền não.

Ngũ Uẩn Ma do từ Phiền Não Ma ra. Đối với Đức Phật và các bậc Thánh chỉ diệt trừ phiền não chứ không diệt trừ ngũ uẩn.

Khi mà quí Phật tử nói sợ Ngũ Uẩn Ma là không đúng, Ngũ Uẩn của mình mà ma nhập vô là do phiền não.

Ngũ Uẩn của Đức Phật, Ngũ Uẩn của các bậc Thánh Nhân, Ngũ Uẩn của các người tu tập diệt trừ được phiền não thì Ngũ Uẩn của họ là thanh tịnh thuần tịnh. 

Phiền Não sinh ra Ngũ Uẩn, phiền não tái sinh ra Ngũ Uẩn. Mình bỏ kiếp này này mà phiền não còn thì tái sinh ra một Ngũ Uẩn khác.

Cho dù quí Phật tử không có ngũ uẩn thì vẫn có nghiệp hữu trong thế gian và đi đến đâu nó cũng xâm nhập tấn công mình, ngũ uẩn này hay ngũ uẩn kia cũng vậy, nó nằm trong lưới của phiền não.

 Bây giờ mình mới hiểu được, thì khi mình hành Ba-la-mật (Pārami) với 2 vế Sát Trừ Phiền Não và thành tựu Ba-la-mật (Pārami) thì quí Phật tử mình phải Sát Trừ Phiền Não này với pháp Ba-la-mật (Pārami) để Sát Trừ Phiền Não mà mình đang có, và không nói một chiều được. Một là tài vật, hai là tinh thần, ba là vừa vật chất vừa tinh thần với đối tượng đó và chính mình cũng là đối tượng đó, mình phải biết, mình phải trí tuệ để mình giải quyết, chứ không phải mình nói suông. Cái đó mới là trí.

Trong khi mình đi hành Ba-la-mật (Pārami) mình đi cả 2 luôn vì mình đang tu tập:

                  - Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm

Bhāvanā 

                  - Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ

thì 5 chi Thiền này của Thiền An Chỉ để hành Ba-la-mật (Pārami) thì sẽ thấy Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm với cảnh là đối tượng mình hành Ba-la-mật (Pārami) này với Tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí, sau đó mình mới nghiệm cái pháp Ba-la-mật (Pārami) mình đang hành đó mình an trú cái pháp hành mình đang có rồi Trí Tuệ này mới ra để mình mới giải quyết được Đạo Quả Giải Thoát.

Vậy thì người ta hỏi người đang hành thiền An Chỉ Samādhi có trí tuệ không ?

 Trả lời là có. 

Trí Tuệ nằm ở đâu ? Nằm ở Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Đại Thiện Tương Ưng Trí đi vô tới phần Thiền Minh Sát tới Thắng Trí.

Tuệ thứ 1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc

                             Niệm    Danh / Sắc

                             Định     Danh / Sắc

                             Tuệ      Danh / Sắc

  Tuệ này là quí Phật tử đang hành Minh Sát Trí Vipassanā, đó là quí Phật tử đang đi Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ, thì dĩ nhiên là quí Phật tử có áp dụng Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm vô trong Vipassanā.

Rồi bây giờ mình quay ngược vấn đề, với một Minh Sát Trí mà quí Phật tử đi vào trong con đường hành Ba-la-mật (Pārami) thì đi bằng cái nào?

Tôi tu Ba-la-mật (Pārami) với Minh Sát Trí Vipassanā thì đi bằng cái nào ?

Bây giờ mình áp dụng phương pháp này tu Ba-la-mật (Pārami)

Vậy thì khi quí Phật tử đi Minh Sát Trí Vipassanā mà đang hành Ba-la-mật (Pārami) trên VipassanāVipassanā trở thành cảnh hay là đối tượng cho mình để mình hành.

Tuệ thứ nhất Phân Biệt Danh Sắc Ba-la-mật (Pārami)

Ở đây mình không nói Chế Định, mình nói về Siêu Lý.

Tuệ thứ 1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc

                    Niệm    Danh : Tôi / Ta / Sinh / Diệt (Thọ, Tưởng, Hành, Thức)

                                Sắc: Tôi / Ta / Hoại Diệt

                                Định     Danh / 

                                            Sắc

                                 Tuệ      Danh / 

                                             Sắc

Thì cái phiền não của Danh mà mình niệm ra được là cái gì mình mới thấy được là cái gì? cái Tôi / Ta / Sinh / Diệt, là cái nào ?

 Tuệ Phân Biệt Danh Sắc khi mình tìm ra được nó thì mình mới phân biệt được 2 thành phần trong con người mình và mình không còn lầm nữa

Thì đầu tiên là bấy lâu nay nếu mình hành Ba-la-mật (Pārami) cho tuệ thứ nhất này thì Danh này đó là một cái phiền não là vì mình hiểu lầm có tôi, ta của mình trong đây.

 Cái phiền não Danh mà mình niệm được để mà phân biệt được nó hiển lộ từ nơi trạng thái "Tôi, Ta" chứ không phải Sinh Diệt. Sinh Diệt không có phiền não, mà cái "Tôi, Ta" mới là cái phiền não, và mình phải tu Ba-la-mật (Pārami).

Vậy thì khi quí Phật tử niệm được "Tôi, Ta" trong cái Danh này thì mình mới hành Ba-la-mật (Pārami) được, rồi mới giải cứu thì mới giải thoát.

            Danh --> Thọ,  Tưởng, Hành, Thức

            Sắc -->  Tôi, Ta, Hoại, Diệt.

Sắc này giờ mình tìm ra được là nó phiền não, cũng vậy sắc này là "Tôi, Ta" thôi. Nó không nằm trong Pháp Thực Tính thì mình hành Ba-la-mật (Pārami) . 

Nếu quí Phật tử không tìm ra được cái đó trong cái niệm này là quí Phật tử niệm Minh Sát Tuệ thôi, niệm trong cái suông thôi. Chứ mà bây giờ niệm mỗi một cái tuệ thứ nhất nó có một cái phiền não của nó thì cái đó  hành Ba-la-mật (Pārami)  để giải cứu nó, giải thoát cái phiền não đó thì qua cái Ba-la-mật (Pārami) trong cái Minh Sát Trí.

Như thế thì nói lại, bấy lâu nay nếu mình hành Minh Sát Trí là mình có được Minh Sát Trí. Nhưng nếu hành Ba-la-mật (Pārami) thì mình chưa, mình đi con đường Minh Sát Trí thôi, biết phân biệt Danh Sắc nhưng chưa diệt phiền não. Phiền não vẫn còn và con đường Minh Sát Trí chỉ có Tuệ biết thôi chứ giải thoát hay giải cứu mình chưa có.

Giống như người học sinh vô lớp học thi cử đỗ đạt thì là người học thức chứ chưa phải là họ giải thoát được cái phiền não trong cuộc đời. Còn khi họ học xong rồi ra đời thì có thêm những chuyện phiền não khác họ không thấy, họ lấy cái kiến thức của họ che lấp đi và họ sống trong cái nghề của họ để sống cho qua ngày tháng.

Ngay cả các nhà Sư xuất gia cũng vậy, học xong rồi, có kiến thức rồi đi thuyết giảng, nhưng họ không có trong giải cức giải thoát, cái phiền não của họ thì họ trở thành một người pháp sư giảng sư giỏi lắm, nhưng mà trở về chính mình phiền não vẫn còn, tức là chưa có kết quả của Ba-la-mật (Pārami) và con đường đó còn luân hồi.

Thì khi tuệ thứ nhất mà mình phân biệt được Danh và Sắc, hay mình nói theo kiểu chế định là tinh thần và thể xác nó chỉ là một ổ phiền não "Tôi, Ta"  thôi thì mình đi Ba-la-mật (Pārami), khi mình áp dụng cái đó với phương pháp của Thiền Minh Sát Trí mà mình đi Ba-la-mật (Pārami) này thì mình được Ba-la-mật (Pārami) vượt qua từng giai đoạn của Minh Sát Trí, thì mình đi tới đường Đạo Quả đó mới có kết quả.

 Mình đi như vậy mới ra được Đạo Quả, Thuận Tùng (anuloma) , Cận Hành (upacāra), Chuyển Tộc (Gotrabhū), Đạo (Magga) và Quả (Phala) nó mới có.

 Còn kia mình đi tới Hành Xả Trí (Saṅkhārupekkhā ñāṇa) cái mình trở lại, không đi qua được, vì không có sát trừ phiền não nên không đi qua được.

---------------------------------------------

MƯỜI SÁU  TUỆ MINH SÁT - 16 Tuệ Minh Sát (Vipassanāñāṇa)

Tuệ thứ 1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc.

Tuệ thứ 2. Paccayapariggaha ñāṇa: Tuệ nhận biết nhân của mỗi sắc pháp và danh pháp cùng sự tương duyên giữa hai pháp.Tuệ phân biệt nhân duyên.

Tuệ thứ 3. Sammasana ñāṇa: Tuệ thấu đạt, nhận thức danh-sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā). (Phổ Thông Trí)

Tuệ thứ 4. Udayabbaya ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). Tuệ sanh diệt.

Tuệ thứ 5. Bhaṅga ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc. Tuệ diệt. 

Tuệ thứ 6. Bhaya ñāṇa: Tuệ kinh sợ.

 Tuệ thứ 7. Ādīnava ñāṇa: Tuệ quán chiếu hiểm họa, tức quán chiếu trạng thái nguy hiểm của các hành. Quá Hoạn Trí, Bố úy trí: Cái trí thấy được sự đáng sợ của các hành. Khi hành giả tu tập về quán diệt sung mãn, sẽ thấy tính chất của các hành thật khủng khiếp, khi y muốn sống yên ổn.

Tuệ thứ 8. Nibbidā ñāṇa: Tuệ quán chiếu tình trạng chán nản. Quyết Ly Trí

Tuê thứ 9. Muñcitukamyatā ñāṇa: Tuệ muốn giải thoát. Dục Thoát Trí

Tuệ thứ 10. Saṅkhārupekkhā ñāṇa:  Tuệ xả hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các hành. Hành Xả Trí

Tuệ thứ 11. Paṭisaṅkhā ñāṇa: Tuệ suy tư

Tuệ thứ 12. Saccānulomika ñāṇa: Tuệ thuận thứ (thuận theo thực tế, tức thuận theo Tứ Diệu Ðế).

Tuệ thứ 13. Gotrabhū ñāṇa: Tuệ chuyển tánh, vào lúc "chuyển thay dòng dõi" (tức từ phàm trở nên Thánh).

Tuệ thứ 14. Magga ñāṇa: Ðạo tuệ.

Tuệ thứ 15. Phala ñāṇa: Quả tuệ.

Tuệ thứ 16. Paccavekkhaṇa ñāṇa: Tuệ ôn duyệt.

--------------------------------------------

Khi mình tu Minh Sát Trí, Sư thường hay nói là mình hành Đạo hay hành Thiền. Nếu mình hành Đạo, mình áp dụng Ba-la-mật (Pārami) thì mình nhìn thấy Danh và Sắc trong phân biệt này chỉ là một sự phiền não thôi, và mình phải giải cứu cái này và mình phải giải thoát nó, và mình không có lập lại.

Thiền sinh hỏi: Lúc mình hành Minh Sát Trí Vipassana thì dĩ nhiên mình cũng phối hợp giữa cái Ba-la-mật (Pārami) ở trong đó rồi ?

HT trả lời: Chưa, mình thường thường nặng về vấn để tìm ra được Danh Sắc "tôi phát hiện được danh, tôi phát hiện được sắc" chứ mình không để ý tới phiền não ở trong đó.

Thiền sinh hỏi tiếp: Khi có Niệm có Định có Tuệ rồi thì có Chánh Kiến. Khi có Chánh Kiến rồi thì thấy Tập Đế và Khổ Đế, mà khi thấy được Tập Đế và Khổ Đế là mình phân biệt được "Tôi, Ta" là phiền não, ngay khi đó mình đi ra mình mới là áp dụng Ba-la-mật (Pārami) là Bố Thí Ba-la-mật (Pārami) hay Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) , Trí Tuệ Ba-la-mật (Pārami) thì lúc đó mình đi luôn, chứ thật sự cái này khỏi cần phải đi từng đoạn từng đoạn.

HT trả lời: Khi mà cô nói cái đó là cô có hướng nhìn. Hồi trước tới giờ mình không biết con người có 2 thành phần tinh thần và thể xác, hay danh từ Siêu Lý là Danh và Sắc, giờ mình tìm ra được.

 Hít vô là Sắc, mà biết hít vô là Danh. 

Biết chân dở là Danh, chân dở là Sắc.

 Đó là phân biệt Danh Sắc, bắt đầu mình khắn khích cái đó, chứ mình không thấy đó là phiền não.

Rồi bắt đầu mình tìm cái nhân sanh ra Danh Sắc, đó là tuệ thứ hai

Tuệ thứ 2. Paccayapariggaha ñāṇa: Tuệ nhận biết nhân của mỗi sắc pháp và danh pháp cùng sự tương duyên giữa hai pháp.Tuệ phân biệt nhân duyên.

Rồi tuệ thứ 3, tu một thời gian mình thấy nó. Nó có Sanh Diệt thì mình thấy Tam Tướng, chứ mình không thấy nó phiền não, mình không thấy mình đang hành Ba-la-mật (Pārami)

Tuệ thứ 3. Sammasana ñāṇa: Tuệ thấu đạt, nhận thức danh-sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā). (Phổ Thông Trí)

Nếu mình trở lại là khi mình có Chánh Kiến, mình thấy được 2 vế là Tập Đế và Khổ Đế.  Trong Tập Đế nó là phiền não, trong Khổ Đế đó là rừng phiền não, Nibbana là không có phiền não. Mình có Chánh Kiến, mình thấy được 2 vế là Tập Đế và Khổ Đế, nhưng mình không thấy nó là phiền não. 

Chính cái đó giờ mình tu lại. Chỉ cần một sát na hay một pháp hành, chỉ là một lần mình tìm ra được, tôi hành Ba-la-mật (Pārami) chính xác với 2 vế tôi phải giải cứu phiền não này, tôi giải thoát khỏi phiền não này trong phần Danh và Sắc mà tôi phân biệt được trong con người tôi rõ như vậy.

Thiền sinh hỏi: Mình nói trong Danh có phiền não, trong Sắc có phiền não, vậy phiền não trong Danh là cái gì ?

HT trả lời: Phiền não trong Danh là Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Phiền não trong Sắc là Sắc Uẩn. Mình nói theo Siêu Lý, cái đó là một rừng phiền não. 

Bây giờ mình nói Tứ Xuất Sinh Xứ của Sắc (Catusamuṭṭhànikarùpa) là Nghiệp Lực, Tâm Thức, Vật Thực, Qúy Tiết, cũng là một phiền não. 

Tứ Nhân Sanh Tâm, Tứ Nhân Sanh Danh là nghiệp quá hhứ, cảnh, căn và hành sự tác ý, cũng là phiền não.

Thế thì khi mà mình lấy được Chánh Kiến mà 2 vế thấy được cái hướng đi là Tập Đế là phiền não, Khổ Đế là một rừng phiền não thì mình mới có ly tham, ly sân, ly oan trái trong Danh Sắc này mình mới có Chánh Tư Duy, còn ngoài ra mình nói lý thuyết suông.

 Ly tham cái gì, nếu mà ngũ uẩn thường không có phiền não không có bất tịnh thì mình đâu cần ly, mà thật ra mình không có thuần, mình phải tu tập, mà chễnh mãng việc tu tập, ngừng trong tu tập, không tinh tấn trong tu tập là phiền não sinh lên. Nên nếu mình tu tập mà không có Ba-la-mật (Pārami) thì mình không giải cứu và mình cứ tiếp tục đè phiền não rồi phiền não mọc lên lại. 

Tại sao mà Thắng-trí (abhiññā),  tâm Đại Thiện Tương Ưng kết hợp với Minh Sát Trí, thấy được Thực Tinh, Thực Tướng thì mới là Thắng-trí (abhiññā). Còn cái kia mới là tuệ ñāna thôi như Đại Thiện Tương Ưng Trí thôi với 5 chi thiền. Quan sát với cảnh, hoan hỉ với cảnh, an vui với cảnh và nhiếp tâm với cảnh, chỉ vậy thôi, mình với trí mình làm vậy thôi chứ không abhi.

(Abhi nghĩa là vi tế hoặc thâm diệu), 

Nhưng khi mà abhi đi Ba-la-mật (Pārami) với Minh Sát Trí, vừa diệt trừ phiền não, vừa giải thoát chính mình, nên mới có câu là giải thoát tri kiến.

Có Chánh Kiến thấy được 2 vế mới giải được, có Chánh Tư Duy mới ly tham, ly sân, ly oán hận. Chứ ly tham không có suông như vậy được, phải ly tham trong các phiền não, ly sân trong các phiền não, ly oán hận trong oan trái phiền não, chứ không phải không có đối tượng, trong tư duy này.

Do đó, mình phải nghiệm lại qua tới phần định mà thấy được Danh, thấy được Sắc thì cô mới thấy mới sợ. Qua tới phần tuệ, trong Danh và Sắc mà mình đi tiếp  Ba-la-mật (Pārami)  mình mới thấy rõ, Sư chưa nói tới.

 Do đó, khi mình niệm được Danh và Sắc trong tuệ thứ nhất Tuệ Phân Biệt thì mình có Ba-la-mật (Pārami) liền trong đó là mình thấy đây là Danh Sắc phiền não thì mình phải giải cứu, 

- Bước thứ hai mình định vô Ba-la-mật (Pārami) chứ không phải mình định vô trong phần Danh Sắc.

- Bước thứ ba, cái tuệ vô trong phần Ba-la-mật (Pārami) của mình định của Danh Sắc mình mới ra được.

Khi mình qua cái niệm liền là mình đã có Ba-la-mật (Pārami) thì cái định tiếp của Danh Sắc này là phiền não không phài, thì đi Ba-la-mật (Pārami) tiếp, thì cái tuệ đi tiếp là Đạo Quả.

Cái tuệ thứ hai mình tìm được cái nhân và cái quả. Tuệ thứ ba là vô Tam Tướng liền. Nếu đi Minh Sát Trí liền, không phải như vậy, đó là công thức thôi, nhưng nếu đi Ba-la-mật (Pārami) mình mới thấy được tam tướng, chứ còn nếu đi Minh Sát Trí là mình chỉ thấy Pháp thôi, lấy thực tính thực tướng suông thôi chứ không có Ba-la-mật (Pārami) .

Nếu như người đắc được tuệ thứ ba là Phổ Thông Trí; Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, họ có giải thoát nếu họ thấy được tam tướng, đó là một, thứ hai là trong đời sống hàng ngày họ còn tái phạm lại những cái gì mà không phải là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã mà họ vẫn còn bị tái phạm trong cái phiền não này. 

Cũng giống như xả thí Ba-la-mật (Pārami) với xả thí thường. Xả thí thường thì không diệt được bỏn xẻn, hay không diệt được phiền não. Thì khi vẫn xả thí các phiền não vẫn còn. Nhưng nếu xả thí có Ba-la-mật (Pārami) thì cái xả thí này kết hợp với phiền não này thì một lần xả thí những lần sau thì không có cái nào mà phiền não tấn công được việc xả thí này, mình đi tới được. 

Thì câu đó cho mình ra được câu trả lời giải quyết được người đạt được tam tướng Phổ Thông Trí mà không có Ba-la-mật (Pārami) người đó chỉ đi công thức thôi, họ chưa giải thoát, họ thấy Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, nhưng ra khỏi Minh Sát Trí này, ra khỏi pháp tu này, qua khỏi niệm hiện tại này, họ trở lại vẫn còn cái phiền não đó không ra, thì làm sao đi tới Sinh Diệt, tới Hoại Diệt, Yểm Ly, Dục Thoát

 Do đó, một câu hỏi cho một câu trả lời, mình mới thấy được sự tu tập của mình và mình biết là mình đang đi trên con đường nào cho mình thấy tu tập con đường đó.

Khi đi tới Tuệ Phân Biệt Danh Sắc. Danh đó thuộc về vật chất hay là Danh thuộc về tinh thần. Danh đó phiền não thuộc về vật chất hay là tinh thần. Cả 3 cái đó mình phải tìm ra được.

Sắc đó là phiền não đó nó thuộc về vật chất, hay thuộc về tinh thần, hay là cả hai vật chất và tinh thần trong cái Sắc đó. Như có người cho nhưng không cần về tinh thần, có người không cần vật chất mà họ cần tinh thần thôi.

Thì khi phân biệt được Danh và Sắc mình đây là một cái phiền não thì bắt đầu mình đi  Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) trong tuệ thứ nhất. Tuệ Phân Biệt Danh Sắc  đi Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) thì lúc đó Danh mà mình đang Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) với cái Danh phiền não này là tinh thần hay là vật chất ?

Cái Sắc mà phiền não mình đang phát hiện được trong phần phân biệt Danh Sắc nó là vật chất hay tinh thần, hay là vừa vật chất và tinh thần ? 

Không trả lời được vì mình chưa có trải nghiệm.

Thì Sư trả lời là. Khi quí Phật tử đi tới phần tuệ Phân Biệt Danh và Sắc với Ba-la-mật (Pārami) xả thí chứ chưa nói tới 10 Ba-la-mật (Pārami) , nếu nói tới 10 Ba-la-mật (Pārami) thì sẽ thấy thù thắng lắm.

Thì khi Danh này là phiền não mà mình đang hành để giải cứu nó thì nó chỉ thuần túy là vật chất thôi, nó không có tinh thần trong đó, mà đem tinh thần vô  giải đáp nó là chỉ có một cái lý giải của kiết sử, nó không có Ba-la-mật (Pārami) , đó Danh nó chỉ là vậy mình biết rồi, không nói tới nó nữa, mình nhìn thấy nó là mình phiền não là mình tránh thôi, nó đã trả lời cho mình là phiền não rồi nó không có gì để mà nói tới nó, mà ngồi xuống để giải thích nó nữa, nó thấy ra nguyên khối rắn chắc, trong Thọ, Tưởng, Hành, Thức này nó chỉ là những phiền não, cũng như Sắc phiền não này nó cũng là vậy thôi, mình không có giải thích. Cái người mà ngồi mà giải thích đó là cái người đó phải bậc Chánh Đẳng Giác thấy rồi là giải thoát, thấy rồi là giải cứu, mình không có đi về mặt tinh thần nữa, mình lấy vật chất mình đi, vừa thấy vật, vừa thấy danh là đi liền, thấy sắc phiền não là đi liền, đó chỉ là vật chất thôi.  Mà đã vật chất nó là vô tri vô giác, không giải thích được.

Thì khi thấy Danh là phiền não, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này coi nó là một phiền não thì nó là vô tri rồi. Mà ngồi xuống giải thích nó, nó giải thích hơn mình, và mình không có kết quả trong cái tu này.

Do đó, Chánh Tư Duy, khi thấy Chánh Kiến, Khổ Đế, Tập Đế, Chánh Tư Duy là ly tham chứ không diệt tham, ly sân chứ không diệt sân. Mình đọc kỹ từ ngữ đó mình mới thấy là nó là vật chất thôi. Nếu nói diệt là phải nói về tinh thần, gặp nó là ly, không có gì để nói nữa, nó còn biết mà nói thì mình có tinh thần để mà nói, còn nó không biết để nói nữa, và nó không cần để mà nói nữa, thì mình chỉ thấy nó là vật chất thôi, mình đi tránh nó.

Nên khi Đức Phật Ngài thấy được Bệnh, Lão, Tử, Tăng, thì Ngài thấy được là Sinh, Già, Bệnh, Chết, và Níp-bàn, ly chứ không diệt, Ngài không có qua khỏi Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, nhưng Ngài ly khỏi Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã và không tái sinh lại.

Từ đó quí Phật tử mới có Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định, dùng Ba-la-mật (Pārami) để mà đi, chứ không phải Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định trong pháp hành mà mình có để mà mình hành tiếp.

Ly chứ không diệt và không tái lập lại nữa, không tái sinh lại nữa, và tôi không có trở lại nữa, và tôi không muốn chuyện đó lập đi lập lại nữa. Nó là phiền não, mình ly từ Ý. Từ Ý nó ra Ngữ.

Nên quí Phật tử phải hiểu Chánh Tư Duy với Ba-la-mật (Pārami) là ly chứ không diệt.

Chánh Kiến với Ba-la-mật (Pārami) thì thấy Danh và Sắc này là Tập Đế và Khổ Đế. 

Chánh Kiến có Ba-la-mật (Pārami) thì lấy Danh và Sắc này là Tập Đế và Khổ Đế.

Chánh Tư Duy có Ba-la-mật (Pārami) lấy Danh và Sắc này phải ly tham, ly sân, ly oán hận chứ không diệt.

Khi mà  ly tham, ly sân, ly oán hận, tham nó không có sự sống. Quí Phật tử ở trong đó tham mới có sự sống, ly tham không có sự sống, ly sân thì sân không có sự sống, ly tức là mình không để ý tới nó, không quan tâm tới nó, thì sự sống đó, sự đang có nó bắt đầu mất dần.

Cái tham nếu còn để ý tới nó là nó còn lên xuống, còn không để ý tới tham mà chỉ tập trung Ba-la-mật (Pārami) toàn thiện thì tham không có cơ hội để sống, sân không có cơ hội để sống.

Ngày nào mà không để ý tới tham, là quí Phật tử đang ly tham, thì cái tham đó không có mạng sống. Ngày nào không để ý tới Sân thì quí Phật tử đang ly Sân, thì Sân không có mạng sống. 

Còn để ý tới nó, dù là để diệt nó hay làm giảm nó thì nó có sự sống và nó có lời lý giải của nó với mình, mình không đủ sức để lý giải nó.

chữ Ly với chữ Diệt, hiểu là chữ Ly là mình rời nó, không để ý tới nó. Còn chữ Diệt là mình còn dính mắt tới nói, mình đối diện với nó là một thắng hai thua và nó có thể có còn trở lại, nếu nó thắng mình thì nó trở lại, nếu nó không thắng mình thì nó mất./.                    

                          

-----------------------------------------

Notes: Từ Internet

Dứt Bỏ (cāga). Chữ pariccāga = pari+ cāga; 

 pari là trọn vẹn, 

cāga là lìa bỏ, bỏ đi.

 Chữ pariccāga là phóng khí, theo nguyên ngữ là "buông bỏ trọn vẹn" 

-----------------------------------

Mười trí lực (Dasabalañāṇa), hay mười Như Lai trí lực (Tathāgatabalañāṇa):

1. Trí hiểu nguyên lý và phi nguyên lý (Ṭhānāṭhānañāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự kiện, cái gì có thể xảy ra và cái gì không thể xảy ra.

2. Trí biết quả nghiệp (Kammavipākañāṇa), đức Như Lai biết rõ các hạnh nghiệp của chúng sanh, thiện ác dẫn đến quả dị thục tốt xấu ra sao? Quả trổ mức độ như thế nào?

3. Trí biết đạo lộ mọi sanh thú (Sabbatthagāminīpaṭipadāñāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự thực hành là con đường dẫn đến tái sanh trong những cõi vui và cõi khổ, biết rõ hành động đưa đến lợi ích hiện tại, lợi ích tương lai và lợi ích tối thượng.

4. Trí biết bản chất dị biệt (Nānādhātuñāṇa), đức Như Lai biết rõ thế gian có bản chất đa dạng như uẩn sai biệt, xứ sai biệt, và giới sai biệt.

5. Trí biết khuynh hướng dị biệt (Nānādhimuttikañāṇa), đức Như Lai biết rõ sự khác biệt khuynh hướng của chúng sanh, có chúng sanh khuynh hướng hạ liệt, có chúng sanh khuynh hướng cao thượng, chúng sanh đồng khuynh hướng sẽ thuận dòng với nhau, hạ liệt thân cận hạ liệt, cao thượng thân cận cao thượng, dù ở quá khứ hay hiện tại cũng vậy.

6. Trí biết thượng hạ căn (Indriyaparopariyattañāṇa), đức Như Lai biết rõ căn cơ cao thấp của chúng sanh, biết rõ chúng sanh có kiến chấp như vậy tiềm miên như vậy, sở hành như vậy, có căn trì độn, có căn lanh lợi, có tính khó dạy, có tính dễ dạy, có khả năng giác ngộ hay không thể giác ngộ.

7. Trí biết sự nhiễm-tịnh-ly của thiền định (Jhānādisaṅkilesādiñāṇa), đức Như Lai biết rõ sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất ly của thiền định, nhập định và sự giải thoát.

8. Trí biết tiền kiếp (Pubbenivāsānussatiñāṇa), đức Như Lai có trí nhớ chính xác và nhớ nhiều về các kiếp sống quá khứ, từng nét đại cương và chi tiết đa dạng.

9. Trí biết sự sanh tử (Cutūpapātañāṇa), đức Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân ngài thấy rõ sự sống chết của chúng sanh; biết chúng sanh này sanh đến chỗ hèn hạ hoặc cao sang, xấu xí hay xinh đẹp, hạnh phúc hay đau khổ, là do hạnh nghiệp như vậy. Chúng sanh đi đến tùy theo nghiệp.

10. Trí đoạn lậu (Āsavakkhayañāṇa), đức Như Lai tự mình thắng tri vô lậu tâm giải thoát, đoạn tận các lậu hoặc. Ngài biết rõ sự đoạn diệt hoàn toàn các lậu hoặc như vậy.

M.I.69; A.V.33; Vbh.336.

-------------------------------

309] Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:

1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.

2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.

3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.

4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.

5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.