082 Paṭṭhāna
HT Sán Nhiên giảng ngày 25 tháng 11, 2023
Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 082 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ.
Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.
Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.
Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh
Minh Hạnh
Obligatory of the Buddhas = Tập quán của Chư Phật là quá khứ, hiện tại, vị lai.
Hai tập quán của Phật quá khứ, hiện tại, vị lai cho Đạo Quả vị Phật là: Phải ngồi kiết giả / dưới cội cây. Hai cái này không thay đổi, nhưng không bắt buột, mà là truyền thống hay là tập quán của Chư Phật. Bất cứ vị Phật nào cũng vậy, luôn luôn là phải ngồi kiết già, và thứ hai là ngồi dưới cội cây.
The navel of the earth dịch là trung tâm điểm địa cầu, nếu nói trung tâm thì chưa đủ, dịch là trung tâm điểm tức là ngay đường xích đạo. Các vị Phật mà thành đạt vị quả Phật phải ở ngay trung tâm điểm của quả địa cầu, chứ không ở chỗ nào khác.
Đọc bộ Hệ Tộc Chư Phật thấy thương các vị Phật, nếu các Ngài không có tâm đại từ đại bi thì các Ngài không làm nổi Ba-la-mật (Pārami). Quí Phật tử đọc lại lịch sử của Đức Phật Gotama kiếp chót, trong 45 năm Ngài không bao giờ dùng một phương tiện nào để đưa Ngài đi, mà Ngài chỉ đi bộ, từ khi đắc quả vị Phật nhận lời với Đại Phạm Thiên Sahampati là Ngài đi thuyết giảng cho tới 85 tuổi, Ngài đi bộ về thành phố Kushinagar thuộc vương quốc Malla nơi Ngài nhập diệt.
Đức Phật Ngài có 3 căn bệnh; 1) nhức đầu, 2) vọp bẻ, 3) rối loạn tiêu hóa. Ba căn bệnh đó là mãn tính.
Thiền sinh hỏi: Ngài Mingun giải thích mấy vị Phật Độc Giác có 2 cái mà mấy vị đó không thành tựu là Thập Lực Trí (Dasabalañāṇa) và Toàn Giác Trí (Sammā-ñāna) mà tác giả không có nói là tại vì Ngài không có chú nguyện cứu độ chúng sinh, vì thiếu hai phần đó cho nên không có khả năng để mà đi tới.
HT trả lời: Thập Lực Trí (Dasabalañāṇa) chỉ có 2 người có là Bậc Chánh Đẳng Giác và Thinh Văn Giác, mà Thinh Văn Giác trong thời của Đức Phật này giáo pháp Đức Phật mới có. Tức là học theo, hay là mình nói theo, hành theo.
Còn Độc Giác không có, các Ngài không cần cái đó, chứ thật ra là các Ngài muốn có là có, các Ngài không muốn mà chỉ lo tu giải thoát. Hành nguyện của Độc Giác Phật (Paccekabuddha) là như vậy, sống yên lặng tĩnh lặng, sống một mình, tự tu tự giải thoát, Các Ngài không liên hệ với ai hết.
Bậc Thinh Văn Giác còn liên hệ, bậc Chánh Đẳng Giác còn liên hệ. Do đó các Ngài mới khai triển Thập Lực Trí (Dasabalañāṇa) mà Thinh Văn Giác noi theo bậc toàn giác mới có.
Tức là hạnh nguyện Thinh Văn Giác từ Trí Thượng Thinh Văn cho tới Thinh Văn thường. Trí Thượng Thinh Văn như Xá-Lợi-Phất, Mục Kiền Liên. Thinh Văn thường là các vị Thinh Văn bây giờ thì có cái đó. Nhưng có người có, có người không, không có xác xuất hết 100%. Còn đối với bậc Chánh Đẳng Giác thì 100%.
Thời kỳ Đức Phật Gotama, Ngài nguyện 2 loại cho Thinh Văn của Ngài, tức là đệ tử của Ngài, là Lục Thắng Trí hay lục thông (Chaḷabhiññā), và Tứ Tuệ Phân Tích (Paṭisambhidā Ñāṇa) là Tứ Vô Ngại Giải.
Thời của Đức Phật Gotama còn tức là sau khi Đức Phật Ngài viên tịch thì đời sau này tới thời của Sư và sau này nữa thì không có xác định là có Lục Thắng Trí (Chaḷabhiññā), hay có Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā Ñāṇa), vì không bắt buộc, nhưng thời của Đức Phật còn, tức là trong 45 năm Ngài hoằng pháp vì Đức Phật Ngài nguyện, lời nguyện của vị Phật làm cho các vị Thinh Văn hội tụ lại mới có được cái phước đó.
Trí tuệ phân tích, Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā), tuệ phân tích, tuệ vô ngại giải:
1. Biện Vô Ngại Giải (Paṭibhānapaṭisambhidā), là trí thiện xảo ứng đối, biết rõ cách lý luận, phân tích pháp.
2. Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaṭisambhidā), là trí hiểu rõ pháp, biết rõ các nguyên lý của ý nghĩa; tuệ có khả năng tổng trì pháp đề.
3. Từ Vô Ngại Giải (Niruttipaṭisambhidā), là trí biết ngôn ngữ, dùng để trình bày pháp và nghĩa pháp.
4. Lý Vô Ngại Giải (Atthapaṭisambhidā), là trí hiểu thấu đáo nghĩa lý của pháp đế; trí có khả năng phân giải chi tiết những điều được nói tóm tắt.
Thì Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā) Đức Phật Gotama Ngài đã nguyện trong thời của Ngài. Cũng như Sư nguyện Chánh Đẳng Giác, ngày mà Sư đắc Đạo Quả thì các hàng đệ tử của Sư đều có Lục Thắng Trí và Tứ Vô Ngại Giải, giống như Đức Phật Gotama, thì lúc đó mới có.
Tại vì có những bậc Thinh Văn Giác hạng thường có người muốn Tứ Vô Ngại Giải, có người không muốn, vì có người tự tu tự giải thoát như Phật Độc Giác, nhưng mà thời các Ngài đang hưởng giáo pháp mà họ đi cái hạnh đó thì họ đi nhưng họ không muốn tiếp xúc, không muốn độ ai, và không muốn phát triển pháp Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā) .
Bộ Tứ Vô Ngại Giải (Paṭisambhidā) , thì bộ đó nó đòi hỏi là người muốn có Vô Ngại Giải Đạo tức là cái gì cũng giải đáp được hết, từ ngữ, pháp lý, hay biện luận, bất cứ đề tài nào, hiệp thế hay là siêu thế, chế định hay là siêu lý đều thông suốt, thì phải thông suốt Abhidhamma mới giải đáp các Pháp được.
Thì bây giờ, số Chư Tăng có bao nhiêu người biết Abhidhamma, các quí Ngài vô Abhidhamma không được, thấy khó quá, thấy không cần Vô Ngại Giải, tôi tự tu để giải thoát, thì bắt đầu mất luôn.
Trong Thuyết Tiến Hóa của Darwwin tức là khi cơ năng nào trong cơ thể có các đặc điểm thích nghi tốt hơn với môi trường sẽ có khả năng sống sót và sinh sản cao, còn nếu cơ năng nào không hoạt động thì nó sẽ mất đi.
Như hồi xưa con ngựa móng chân của nó là 4 móng, nhưng về sau này nó phát triển vì trên con đường nó chạy càng nhanh vì nó không đi. Khi chân nó đi nó có 4 móng, nhưng khi nó bắt đầu chạy nhanh thì 2 móng chân trước bắt đầu nó búng, nó sải gió, nó phi, thì 2 móng chân sau bắt đầu bị teo, nó không phát triển được nữa vì nó không sài nên bắt đầu nó teo.
Thành ra, nếu như trong trí não của mình không phát triển con đường Vô Ngại Giải, thì mình bắt đầu mất nó, rồi pháp bắt đầu đóng lại, không có người phát triển, và không có người để mà mở ra nữa thì mất dần. Tới thời thế hệ sau của Sư, thì coi như là không có, nếu mà người ta không có một có sự thích thú hay đam mê hoan hỉ Tứ Vô Ngại Giải, mà cái cốt lõi là Abhidhamma.
Từ Vô Ngại Giải (Niruttipaṭisambhidā) đi qua tới biện giải Biện Vô Ngại Giải (Paṭibhānapaṭisambhidā) là đụng vô các tôn giáo là cũng kẹt nữa.
Mà đối với Sư là Sư giải đáp được hết, tại vì Sư cũng như một cái cơ duyên, một cái phước báu của Sư, nên bất cứ lãnh vực nào của các tôn giáo từ ngữ hay là lý thuyết hay là biện luận Sư đều diễn giải nó, Sư nắm bắt được hết.
Khi Sư vô học Abhidhamma coi qua bộ Tứ Vô Giải Ngại Paṭisambhidā thì Sư hoan hỉ lắm.
Diệt Trừ Thân Kiến
Thiền sinh hỏi: Trong phần nói về mấy vị Thinh Văn, thì nói về mấy vị Thinh Văn sự thành tựu của họ lúc nào cũng phải có người hướng dẫn là một vị Phật. Câu hỏi là: Phải chăng thời gian từ bây giờ cho tới khi Đức Phật Maitreya (Phật Di Lặc) thì không có vị Phật nào thì không có Thinh Văn.
HT trả lời: Trong tích truyện tiền thân của tín Nữ Visakha, thấy người bạn cúng dường vị Phật thời đó mà được hưởng phước đầy đủ, thì bà tiền thân Visakha hỏi Đức Phật. vị Phật nói tại bà này đã gieo trồng, tiền thân của tín Nữ Visakhai bà nghe vậy cũng hoan hỉ cúng dường và bà xin nguyện, Đức Phật nói được, sau này thời Đức Phật Gotama con là đại tín nữ có phước báu đầy đủ, thì khi bà sinh ra lúc được 7 tuổi gặp Đức Phật Gotama, bà đắc Sơ Quả Thất Lai nhưng là cư sĩ bà cũng có gia đình, có chồng, sống 120 tuổi, có 20 đứa con. Từ ngày bà sống cho đến chết tóc đen nhánh dài đến chân không có tóc bạc.
Phiền não đưa tới Dị Thục Quả, rồi đưa tới Nghiệp Báo
Đức Phật Ngài nói; Đệ tử của Như Lai hành Ba-la-mật (Pārami). Đệ tử của Ác Ma sống trong phiền não. Người đệ tử của Đức Phật mà không hành Ba-la-mật (Pārami) là đệ tử của Ác Ma.
Nên cốt lõi hành Ba-la-mật (Pārami) này là phải hạ thủ công phu, nó không phải là Thập Thiện, nó phải là Pháp Toàn Thiện, do đó mình phải hạ thủ công phu tức là mình phải kiên trì nỗ lực và phấn đấu ghê lắm mới được, đó chỉ là giải cứu cho mình thôi, chứ đừng nói là độ chúng sinh.
Thí dụ như mình muốn làm Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) là mình phải hạ thủ công phu sửa cái tánh bỏn xẻn của mình chứ không phải là mình xả thí để tạo phước. Trì giới Ba-la-mật (Pārami) là mình phải hạ thủ công phu sửa tánh hư tật xấu của mình để mình giữ được giới hạnh.
Trì giới Ba-la-mật (Pārami) khác với trì giới thiện. Trì giới thiện là mình giữ giới nếu đứt giới thì mình trì giới lại. Còn trì giới Ba-la-mật (Pārami) là sửa tánh hư tật xấu của mình.
Cũng như Ly Dục Nekkhamma tức là mình phải ra khỏi Kāma, giống như Nirvana là không có phiền não thì mới là Níp-bàn
Ni + Kāma
Nỉ = không có
Vana = sự thèm khát nhục dục
Thì Nekkhamma tức là Ni + Kāma, Dục này là tham dục, còn Dục kia là mong cầu, mong muốn, là dục vọng.
Còn Kāma là tham dục này nặng hơn. Kāma là dục vọng, tham dục, như ái luyến dính mắc ở trong ngũ dục. Ly dục này là mình phải rời khỏi Kāma trong cái giặc lòng của mình.
Chanda là dục có 3 là: Tác Dục, Pháp Dục, Tham Dục.
Thành ra hồi xưa các quí Ngài dịch là xuất gia độ Nekkhamma Pāramitā xuất gia Ba-la-mật (Pārami), chữ xuất gia là pabbajita dịch là xuất gia độ hay xuất gia Ba-la-mật (Pārami)
Nên phải hiểu Trí Tuệ Ba-la-mật (Pārami) , là mình lấy trí tuệ hành Ba-la-mật (Pārami), là mình phải cố gắng diệt vô minh của mình, mình mới hành Trí Tuệ Ba-la-mật (Pārami).
Trí tuệ Ba-la-mật (Pārami) là mình phải dùng cái trí để diệt cái vô minh của mình.
Thí dụ như Tinh Tấn Ba-la-mật (Pārami) là mình phải cố gắng diệt trừ sự làm biếng cái tính xấu của mình, thì Ba-la-mật (Pārami) mới toàn thiện được. Tinh tấn thường thì mình siêng là được rồi, nhưng trong cái siêng đó còn có tính xấu chưa sửa. Vậy thì mình lấy cái gì để sửa, mình lấy cái của người ta để mình diệt cái xấu của mình, mình phải có đối tượng.
Nên Ba-la-mật (Pārami) có 2 vế;
- Một là cái gốc phải sửa tánh hư tật xấu của mình.
- Hai là mình phải tìm, phải quán cái tánh của mình xem áp dụng Ba-la-mật (Pārami), trường hợp nào mình lộ ra tánh nào thì mình quán cái đó.
Thí dụ, một người nói: "Tôi không vô chùa, nhưng nếu tôi vô chùa tôi thấy tu tập cái gì thi tôi mới vô chùa."
Cũng như Nhẫn Nại Ba-la-mật (Pārami) là mình lấy cái nhẫn nại để diệt tánh xấu của mình.
Ba-la-mật (Pārami) là pháp tu tập, là pháp trau dồi, là pháp hành, chứ không phải có sẵn. Xả thí là nó có, còn Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) là phải tu tập, phải hành pháp xả thí này để diệt để trị tánh bỏn xẻn của mình.
Đức Phật, Ngài không nói dư, Ngài không nói thừa, Ngài không nói thiếu, Ngài nói chánh xác.
Ông Bà-la-môn bá hộ đang phát thực phẩm cho những người tá điền của ông, thì Đức Phật Ngài đi tới để độ ông Bà-la-môn bá hộ đó, thì ông nói: đi cày đi thì có ăn. Đức Phật nói: "Như Lai đi cày rồi, bây giờ Như Lai chỉ gặt hái thôi". Thì ông Bà-la-môn nói: "Sa-môm đừng nói láo, đi cày sao không có cái cày ?"
Và Đức Phật nói pháp: Đức tin của Như Lai là hạt giống, nhẫn nại của Như Lai là cái cày, tinh tấn của Như Lai là cái năng lực."
Câu nói pháp của Đức Phật đã độ được ông Bà-la-môn bá hộ, và ông đã dâng cúng dường thực phẩm cho Ngài.
Đức Phật nói: "Như Lai không thuyết pháp vì vật thực."
Như vậy thì Đức Phật Ngài sống với Ba-la-mật (Pārami). Ngài mới dạy ông Bà-la-môn là Như Lai có cày rồi chứ không phải chưa cày.
Như vậy mình phải cẩn thận, không phân biệt người tại gia, không phân biệt người xuất gia, mà mình phải cẩn thận, mình phải phân biệt người có hành Ba-la-mật (Pārami). người không hành Ba-la-mật (Pārami).
Người hành Ba-la-mật (Pārami). là người ta đã có, còn mình chưa hành Ba-la-mật (Pārami), mình chưa có, mình đụng người này không nổi.
Bà thí chủ ở làng Màtika đắc Nhị Quả, tức là hành Ba-la-mật (Pārami) bà có, các vị Sư chưa đắc quả đi tới đó Đức Phật kêu phải cẩn thận bà đó đắc Nhị Quả.
Thế thì khi Đức Phật nói bà đó đắc Nhị Quả
Sơ Quả : Thân Kiến (tham)
Hoài Nghi (si)
Giới Cấm Thủ (tham)
Nhị Quả: Thân Thô
Sân Thô
Tam Quả: Tham Tế
Sân Tế
Nhị Quả là những người đã tu và đắc Nhị Quả. Còn các vị tỳ khưu chưa đắc được quả nào hết. Nên Đức Phật nói các vị Tỳ Khưu phải cẩn thận với bà thí chủ này bà đã đắc Nhị Quả.
Tức là Ba-la-mật (Pārami) của bà đã thành tới tầng thứ hai rồi, vì Ba-la-mật (Pārami) đưa đến Đạo Quả.
Vậy thì khi muốn tu diệt 3 hạ phần kiết sử (thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ) này thì lấy Ba-la-mật (Pārami) nào để diệt nó ?
Đây là bài toán để tu tập muốn đắc Sơ Quả thì phải qua những giai đoạn này, thì phải lấy pháp Ba-la-mật (Pārami) mà diệt trừ nó, pháp Thiện không làm nồi, phải là Ba-la-mật (Pārami)
Sơ Quả : Thân Kiến (tham)
Hoài Nghi (si)
Giới Cấm Thủ (tham)
Thì trong 3 pháp này thì Thân Kiến, không bao giờ đặt cái nào là chính, mà mình phải bắt Kiến là chính, còn Thân là phụ, thì kiến chấp, mà kiến chấp này có 2 loại;
- tri kiến và cái hiểu biết của minh là kiến chấp. Tri kiến là kiến chấp,
- mà kiến thủ là trạng thái đưa đến tri kiến, kiến thủ là cố chấp.
Cũng như Giới Cấm Thủ, thì Thủ là chính
Còn Hoài Nghi, thì Nghi là chính.
Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ, mình lấy Ba-la-mật (Pārami) mà diệt trừ nó ?
Mình chia làm vế: Ta và Người, hành Ba-la-mật (Pārami) .
Ta hành cái Ba-la-mật (Pārami) gì cho ta để diệt cái Thân Kiến này
Ta hành cái Ba-la-mật (Pārami) gì cho người để diệt cái Thân Kiến này
Thí dụ: Hoàng Hậu Malika không muốn nghe nói đến chữ "Vô Thường", các cung nữ đi nghe Pháp Đức Phật thuyết về xì xào nói chuyện nhỏ to với nhau: "sắc là vô thường, thân này là vô thường", bà cấm các cung nữ không được nói.
Nhưng Đức Phật Ngài muốn độ, tức là Ngài đi qua vế Người.
Ngài độ bà Hoàng Hậu Malika khỏi Thân Kiến, bà không nghĩ thân này là Vô Thường, bà muốn lúc nào cũng là thường.
Thì Đức Phật Ngài độ bằng cách hóa phép có 2 người nữ đứng hầu quạt cho Ngài. Thị hiếu của bà bị hút vô cảnh tượng này, bà nghĩ rằng sao Đức Phật nói Vô Thường mà dùng 2 người nữ đẹp đứng quạt, và bà bắt đầu đi tới gần để nhìn, thì Đức Phật Ngài hóa phép cho 2 người phụ nữ có sự thay đổi từ trẻ sang già nua, khi bà bước tới gần hơn thì 2 người phụ nữ ngã xuống và tan biến thành tro bụi, cảnh tượng này làm bà bừng tỉnh.
Đức Phật Ngài độ Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên đắc đạo quả ngay vì 2 Ngài đã có sắn.
Khi mình nói anh này có Thân Kiến, bà này có Thân Kiến, trời nắng không ưa, trời mưa không chịu.
Khi gặp người có Thân Kiến.
Người có Thân Kiến có tánh tham, mình đánh bể cái tham thì kiến rớt ra
Người Hoài Nghi có tánh si. Vì không biết nên mới nghi, mình đánh bể cái si thì nghi rớt ra
Người có Giới Cấm Thủ. Thủ là tham, mình đánh bể cái tham thì giới cấm thủ rớt ra
Trong 10 Ba-la-mật (Pārami) :
1. Xả Thí Ba la mật (Dānapāramī), Bồ tát xả tài với tâm nguyện giải thoát.
2. Trì Giới Ba la mật (Sīlapāramī), Bồ tát thu thúc thân hành, khẩu hành trong sạch với tâm nguyện giải thoát.
3. Ly Dục Ba la mật (Nekkhammapāramī), Bồ tát tâm lìa bỏ sự tham muốn trong trần thế, chỉ hướng tâm đến mục đích giải thoát.
4. Trí Tuệ Ba la mật (Paññāpāramī), Bồ tát rèn luyện trí sáng suốt, trau giồi sự hiểu biết đúng chân lý nhân quả, với mục đích chứng đắc quả giải thoát.
5. Tinh Tấn Ba la mật (Viriyapāramī), Bồ tát năng nỗ lực trong mọi việc, bỏ tâm lười biếng, với mục đích chứng đắc quả giải thoát.
6. Nhẫn Nại Ba la mật (Khantipāramī), Bồ tát kham nhẫn với mọi nghịch cảnh, chịu đựng, không nổi giận oán thù, làm như vậy với mục đích đạt đến giải thoát.
7. Chân Thật Ba la mật (Saccapāramī,) vì mục đích giải thoát, Bồ tát tôn trọng sự thật, nói lời chân thật không giả dối.
8. Chí Nguyện Ba la mật (Adhiṭṭhānapāramī), Bồ tát có ý tưởng giải thoát luôn giữ vững, tâm nguyện giải thoát luôn kiên định, không xao lãng.
9. Từ Ái Ba la mật (Mettāpāramī), với mục đích giải thoát, Bồ tát nhiếp phục sân hận, luôn an trú từ tâm đối với mọi loài.
10. Hành Xả Ba la mật (Upekkhāpāramī), Bồ tát với mục đích giải thoát giữ tâm bình thản, không dao động trước sự đời khen, chê, vui, khổ, được, mất, vinh, nhục.
Trong 10 Ba-la-mật (Pārami) thì Pháp nào trị tham về Kiến Chấp về Tri Kiến, đó là tham bên ngoài, là tham thô.
Còn tham tầng thứ hai là Nhị Quả, Tam Quả là cốt lõi của tham rồi, là tham tế.
Hai phần tham tế và tham thô là Ái Dục là gốc. Khi mình có kinh nghiệm đánh được Nhị Quả và Tam Quả ái dục này thì Tam Quả mình mới bứt được phần Ái Dục, lấy cái đó là nền tảng mình mới đi được, nên Đức Phật nói trong sự tu tập đi 4 bước, đi tới Vô Sinh.
Do đó, trong mấy phần này thì tham này mới là tri kiến thôi, kêu là kiến chấp khởi lên thôi, mình đánh phá bỏ nó đi,
Mình đi qua Thân Kiến này:
- Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức - Thân Kiến, kiến chấp vô sắc thân này mà họ dính mắc vô không chịu buông
Có người hỏi: con không hiểu Sắc Thân Kiến là gì, mà con không có cái Sắc Thân Kiến ?
Sư nghe vậy Sư hỏi bà sao lúc này mặt bà xanh quá vậy ?
Bà giựt mình và nói, Sư thấy mặt con xanh hả, cả tuần lễ con không có ngủ được.
Bà trả lời như vậy là bà lọt vô Thân Kiến liền
Sáng thức dậy mình thấy trong người mệt mỏi đau nhức ngồi dậy không nổi. Như vậy mình có bị Sắc Thân Kiến không.
Trong trạng thái mình mong muốn độ người ta, thì người ta có trong đó là mình thấy rồi.
Sắc Thân Kiến, là kiến thôi thi lấy pháp nào trị cho mình thì bỏ vô. Còn gặp người có Thân Kiến này về sắc và thân của họ dính vô thọ và tưởng, hành, pháp họ dính vô thì mình lấy Ba-la-mật (Pārami) nào để độ họ.
Người có Thân Kiến là tham trong kiến chấp, trong kiến thủ trong tri kiến của họ dính mắc vô thọ, hành, tưởng, của họ thì mình lấy pháp Ba-la-mật (Pārami) nào để độ mình trước và độ người.
Bây giờ mình nói về sắc thân, nắng không ưa, mưa không chịu, thì đầu tiên mình phải diệt kiến chấp đó, chứ không phải ta lấy trí tuệ ta coi. Thì như vậy, mỗi người đều biết kiến chấp về sắc thân này, ta chưa nói về Danh Pháp, chỉ nói về Sắc Pháp thôi.
Khi mình muốn thì mình phải hành Ba-la-mật (Pārami) nào ?
Hành Xả Ba-la-mật (Pārami) . Để bỏ thân kiến này mình phải Hành Xả Ba-la-mật (Pārami) . Chữ Hành Xả cái cốt lõi, cái nền tảng, giống mặt đất mình xả đồ dơ nó cũng không thay đổi, xả đồ tốt nó cũng không thay đổi mặt đất, người Hành Xả cũng vậy phải giữ tâm kiên cố. Xả thí dễ chứ Hành Xả thì rất khó.
Chữ Hành Xả nói nôm na là phá chấp, mình không chấp gì hết đối với sắc thân này, mình không còn ái luyến gì hết.
Hành Xả là diệt trừ Tham. Thân Kiến này là vì Tham, mình Hành Xả là để diệt trừ Tham, là mình buông ra không tham chấp cái thân này nữa.
Thế thì khi mình đi Trí Tuệ lấy trí để suy nghĩ. Cái Trí của mình mà có đủ trong Ngũ Quyền; Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ, còn không mà trí tuệ nhiều quá thì mình sinh nghi.
Thì với Trí Tuệ mình diệt trừ cái tham, mình không dính mắc vô cái tham này, mình diệt kiến chấp này với cái tham thân kiến này về sắc thân này, mình làm được. Nhưng tới khi bên ngoài người ta nói vô mình không đủ khả năng ứng phó được, cái trí của mình không đủ để đánh bạt những gì người ta nói về thân kiến của mình.
Cũng như nói Hành Xả, mình không còn bận tâm lo lắng dính mắc gì nữa cho sắc thân này, nó đến nó đi theo pháp hoại diệt tiến trình của nó với sắc thân này. Mình chỉ theo dõi bình thường sự hoại diệt của nó chứ không bận bịu lo lắng dính mắc tới nó.
Cái đó thì được, nhưng chỉ nhìn với cái pháp nó đang có thôi chứ không thấy được cái nghiệp chủ Kammassakatā nó đánh vô cái thân kiến của mình khi mình đang Hành Xả Ba-la-mật (Pārami) . Cái đau của sắc thân này.
Cốt lõi Ba-la-mật (Pārami) của mình là cái gì để mình tu để mình diệt trừ Thân Kiến đi.
Chú nguyện của mình làm sao, mình chú nguyện để diệt Thân Kiến
Một bà cư sĩ đắc Nhị Quả, nghe lời chồng, buổi sáng bà cầm cung tên đưa cho người chồng đi săn. Thì Thân Kiến tham thô và sân thô bà diệt khi bà đắc Nhị Quả, hoài nghi và giới cấm thủ bà diệt trừ hết.
Trong khi đó với một nghiệp thiện mình làm một thành bốn, như mình làm phước như xả thí, hoan hỉ, phục vụ.
Mười nghiệp thiện:
1- Bố thí (Dānamagga), là tạo phước bằng cách bố thí xả tài.
2- Trì giới (Sīlamaya), là tạo phước, bằng cách giữ giới, thọ trì những giới cấm.
3- Tu tiến (Bhāvanāmaya), là tạo phước bằng cách tu tập thiền định, chỉ và quán.
4- Cung kính (Apacāyanamaya), là tạo phước bằng cách kính lễ bậc trưởng thượng.
5- Phục vụ (Veyyāvaccamaya), là tạo phước bằng cách làm lợi ích cho người khác với công sức của mình.
6- Hồi hướng (Pattidānamaya), là tạo phước bằng cách hướng nguyện công đức đã làm, để tạo điều kiện cho người khác sanh tâm thiện.
7- Tùy hỷ (Pattānumodanāmaya), là tạo phước bằng cách vui thích theo công đức của người khác đã làm.
8- Thính pháp (Dhammassavanamaya), là tạo phước bằng cách nghe pháp của Đức Phật thuyết, hay các đệ tử của Ngài thuyết, thậm chí là nghe những bậc thiện trí dạy bảo.
9- Thuyết pháp (Dhammadesanāmaya), là tạo phước bằng cách nói pháp chân chánh cho người khác nghe, thậm chí chỉ là bàn luận Phật pháp, hoặc nói những lời hay lẽ phải.
10- Cải chánh kiến thức - Chân Tri Trước Kiến (Diṭṭhujukamma), là tạo phước bằng cách trau dồi kiến thức, làm cho tri kiến được ngay thẳng, chánh kiến.
Thì bà cư sĩ đắc Nhị Quả, nghe lời chồng, buổi sáng bà cầm cung tên đưa cho người chồng đi săn, bà có phạm tội gì không ? Bà lên tới tầng thứ hai là Nhị Quả Thân Kiến tham thô và sân thô bà diệt khi bà đắc Nhị Quả,
Quí Phật tử với 3 pháp hạ phần kiết sử: Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ mà quí Phật tử có.
Giờ trở lại thanh niên Upatiṣya nghe ĐĐ Assaji nói:
Mỗi pháp sinh lên bởi nhân
Bởi các nhân duyên hiện bày các pháp.
Ngài đắc Sơ Quả, Ngài diệt trừ Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ.
Bà Vishakha 7 tuổi để bát cho Đức Phật, Đức Phật thuyết pháp bà nghe và bà đắc Sơ Quả.
Upatiṣya đắc Sơ Quả, Vishakha 7 tuổi, ông Cấp Cô Độc vô gặp Đức Phật đắc Sơ Quả diệt Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ.
Giờ quí Phật tử cũng muốn đi tới đó, muốn diệt Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ, để đắc Sơ Quả trong kiếp này giống như các Ngài thì mình làm sao ?
Có 2 cách.
- Thứ nhất, người ta đầy đủ Ba-la-mật (Pārami) thì người ta dễ đắc Đạo Quả.
- Thứ hai, pháp mà mình đang tu lấy pháp nào diệt được 3 hạ phần kiết sử này.
Đó là 2 cách. Vậy thì vế thứ nhất mình có Ba-la-mật (Pārami) chưa. Vế thứ hai mình lấy pháp nào mình tu để diệt 3 hạ phần kiết sử mà mình đã có.
Tại vì Sư muốn các quí Phật tử trong kiếp này còn giáo pháp Đức Phật, còn có người đắc đạo quả được, chứ tới thời kỳ sau sẽ hết, qua khỏi Tạng Abhidhamma 3,000 năm xác xuất đắc Đạo Quả rất là ít, là khó hơn nữa, nên bây giờ quí Phật tử phải hết tốc lực lên, ở nhà cũng vậy, tới chùa cũng vậy, trong mỗi phút giây nào trong mọi trường hợp phải diệt trừ 3 hạ phần kiết sử; Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới Cấm Thủ.
Đức Phật Ngài nói :
Sabbe saṅkhārā aniccāti; Chư Hành saṅkhāra đều vô thường;
Sabbe saṅkhārā dukkhāti; Chư Hành saṅkhāra đều khổ đau;
Sabbe dhammā anattāti. Chư Pháp dhammā đều vô ngã.
Thì rớt Thân Kiến, rớt Hoài Nghi, rớt Giới Cấm Thủ, và nó không còn trở lại. Khi mà Đạo Quả tức là không còn trở lại.
Các Pháp Hữu Vi là Vô Thường.
Các Pháp Hữu Vi là Khổ Đau.
Các Pháp là Vô Ngã.
Bây giờ 3 câu đó là Thân Kiến thì; Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức nó nằm đúng trong 3 câu đó.
Hoài Nghi, mình cứ bám vô Hoài Nghi đúng ở trong 3 pháp đó.
Các Pháp đều là Vô Ngã
Bây giờ mình tách theo kiểu kiết Sử:
"Tất cả các pháp hữu vi là Vô Thường" thì còn Thân Kiến không ? Hồi giờ mình tưởng nó là Thường Tồn. Thân Kiến của mình là kiến chấp về xác thân này là Thường Tồn, thì vô bài pháp này với câu đầu tiên "Tất cả các pháp hữu vi là Vô Thường" thì mình nhìn trở lại, trí mình nhìn lại Dassanena kiến giải mình nhìn lại xác thân này nó là vô thường hay là thường, thì mình thấy thân này của mình là Vô Thường thì mình phá Thân Kiến thiệt hay chỉ là phá bởi khái niệm thôi. Là phá thiệt, tức là không còn trạng thái chỗ kia khác, chỗ này khác, ở nhà khác, ra đường khác, vô chùa khác.
Thì Pháp mà quí Phật tử muốn đạt tới được pháp:
"Tất cả các pháp hữu vi là Vô Thường. Các pháp hữu vi là Khổ Đau. Các pháp là Vô Ngã."
Thì quí Phật tử phải sống với Pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) .
Nếu như không có pháp Chân Thật Ba-la-mật ((Saccapāramī) này coi như rớt. Chân Lý là nằm trong pháp Chân Thật, mà mình không có pháp Chân Thật này thì mình không đón nhận được.
Nên khi Ngài Upatiṣya với pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) tới gặp ĐĐ Assaji, thì ngài Assaji nói một pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) thì hai bên ăn khớp. Mà mình sống trong đời này với pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) này là nền tảng để có Chân Lý, còn nếu không có pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) thì Chân Lý không có cửa đi vô được.
Từ đó quí Phật tử đi tới đâu mặc ai nói ra nói vô mình với pháp Chân Thật Ba-la-mật (Saccapāramī) này, với chân lý này mình đã có thì tri kiến của mình không lung lay.
Do đó, khi Đức Phật nói "Tất cả các pháp hữu vi là Vô Thường" là đúng cái Chân Thật bắt được liền.
Thí dụ. ĐĐ Assaji nói với Ngài Upatiṣya : "Mỗi pháp sinh lên bởi duyên" là đúng, không có cái gì nghi ngờ (Hoài Nghi) tại vì mình thủ mình chấp (Thân Kiến) nên mình không thấy được sự thật.
Trong pháp Tham là nó che cái Vô Thường, Tham nên muốn Thường. Thì do đó, cái Tham mà có thì tính Vô Thường mất. Mà Vô Thường có thì Tham tan biến.
Bây giờ mình nói cái gì sinh kiến chấp; Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này là tại vì mình không thấy pháp Chân Thật, mình không thấy pháp Chân Lý, hay là mình không thấy pháp Siêu Lý, hay là Chân Đế.
Đi tới 2 vế Tham Thô, Sân Thô và Tham Tế, Sân tế, quí Phật tử thấy ra được, nó là gốc Chân Thật của nó là Tập Đế
Nhị Quả: Thân Thô
Sân Thô
Tam Quả: Tham Tế
Sân Tế
Nên khi đi qua cái góc của Thân Kiến (Tham) Hoài Nghi (Si), Giới Cấm Thủ (Tham)
Sơ Quả : Thân Kiến (tham)
Hoài Nghi (si)
Giới Cấm Thủ (tham)
Mới là đi cửa ngõ ngoài thôi: Khổ Đế.
Đi vô góc độ bên trong của Khổ Đế là Tập Đế.
Do đó, khi qua được 2 cửa Khổ Đế và tới Tập Đế rồi thì mới đi tới con đường Diệt Đế rốt ráo luôn.
Sabbe saṅkhārā aniccāti; Chư Hành saṅkhāra đều vô thường. Không có Thân Kiến. Không có Hoài Nghi. Không có Giới Cấm Thủ.
Sabbe saṅkhārā dukkhāti; Chư Hành saṅkhāra đều khổ đau. Không có Thân Kiến. Không có Hoài Nghi. Không có Giới Cấm Thủ.
Sabbe dhammā anattāti. Chư Pháp dhammā đều vô ngã. Không có Thân Kiến. Không có Hoài Nghi. Không có Giới Cấm Thủ.
Sự hiểu biết của mình rõ ràng như một, không còn gì thắc mắc nữa, không còn nghi ngờ.
Không có gì mà còn giới cấm thủ, về cầu nguyện, khấn vái, cũng nằm trong Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, cũng nằm trong tham, sân, si của con người, vì mình không thấy Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã nên mình mới cầu xin cái này cái kia.
Khi Nghiệp Chủ Kammassakatā đến thì cái đó qua khỏi Giới Cấm Thủ, đa phần con người mà không thấy Pháp Chân Thật thì họ nói tại vì nghiệp của tôi nặng do tôi không có tu, bây giờ tôi phải chịu trả. Nếu mình nhìn vô Pháp Chân Thật này thì mình nhìn thấy Pháp Chân Lý hiện bày.
Do đó, bà cư sĩ đắc Nhị Quả, đưa cung tên cho người chồng đi săn, bà nhìn vô 3 Pháp đó bà diệt được 3 hạ phần kiết sử này, thì bây giờ đối với mọi hành động thân, ngữ, ý của bà từ đó cho tới về sau bà sống trong Pháp Chân Thật, bà không còn chấp giữ những cái gì của mình.
Pháp Chân Thật làm cho mình thức tỉnh
Bà Hoàng Hậu Malika Đức Phật làm cho bà thức tỉnh bằng Pháp "Sabbe saṅkhārā aniccāti; Tất cả các pháp hữu vi saṅkhāra đều vô thường" thì bà thức tỉnh, tại bà không muốn nghe tiếng Vô Thường, thì Đức Phật cho bà thấy cái Vô Thường.
Trong đời này mình thiếu một cái Niệm và Tỉnh Giác là 2 pháp bảo hộ của mình, thì mình sẽ rớt.
Câu chuyện 2 cha con đem lừa ra chợ bán, trên đường đi người nào nói cái gì thì 2 cha con làm theo, rốt cuộc mất con lừa tại vì họ không biết Pháp Chân Thật mà chạy theo lời của người ta thị phi.
Do đó, quí Phật tử phải nhớ khi Thân Kiến là kiến chấp của người ta nhưng mình không có Pháp Chân Thật thì kiến chấp của mình dễ lung lay lắm, người ta nói ra nói vô một hồi mình cũng ngã nghiêng.
Thiền sinh hỏi: Mỗi pháp có 4 phần ý nghĩa trong một Pháp: Trạng thái, phận sự, sự thành tụ, nhân cần thiết. Thì trong Pháp Chân Thật này thì mình mổ xẻ 4 ý nghĩa của 4 thành phần như thế nào ?
HT trả lời: Mình đối chiếu mấy pháp, nếu là thật thì nó thật và không có kiến chấp kiến thủ gì hết đó, kiến chấp kiến thủ mình coi như ngã, nó không có xác định, nếu không có pháp Chân Thật thì kiến nó nghiêng ngã. Người mà không có Pháp Chân Thật, dễ bị lung lay, dễ sinh ra hoài nghi, sinh kiến thủ theo.
Quí Phật tử giải đáp được tại sao bà vợ đưa cung tên cho người chồng, bà sống với Pháp nào ?
Thiền sinh hỏi: Mẹ của Ngài Siêu Việt biết ông chồng thích ăn thịt rùa, ngày nào bà cũng giết một con rùa cho chồng ăn và bà bị quả nghiệp rất nặng.
HT trả lời: Bà cư sĩ này đắc Đạo Quả với Đức Phật. Đức Phật tuyên bố bà đắc Đạo Quả rồi bà trở về sống với ông chồng với Đạo Quả bà có. Còn mẹ của Ngài Siêu Việt chưa đắc Đạo Quả, bà làm theo lời ông chồng trong đó bà còn nhiều tạp nhiễm.
Bà cư sĩ đắc Nhị Đạo, bà tu với Đức Phật bà đắc Đạo Quả xong bà trở về, giống như ông Cấp Cô Độc và con trai sống với Đức Phật, cả hai đắc Đạo Quả xong thì trở về, thì gia đình không còn chi phối nữa. Khi đứa con trai của ông Cấp Cô Độc tới chùa vì được ông Cấp Cô Độc mướn chứ không phải với thiện ý của người con trai, không phải Ba-la-mật. Ông Cấp Cô Độc nói với người con trai: "Con tới chùa cha trả tiền cho con" và người con trai đã làm theo, không phải thập phúc hành tông hay toàn thiện Ba-la-mật, mỗi ngày người con trai làm theo lòng tham cho tới khi Đức Phật Ngài độ. Ngài thuyết "Mỗi Pháp là Vô Thường. Mỗi Pháp là Khổ Đau. Mỗi Pháp là Vô Ngã". Ông nghe mà buồn ngủ Đức Phật Ngài thuyết pháp vào tai ông, ông lắng nghe và đắc Đạo Quả.
Với giáo pháp: "Mỗi Pháp là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã". Đức Phật Ngài thuyết và người con đắc Đạo Quả. Rồi mọi người về và người con cũng về nhà và vô phòng, rồi sáng Đức Phật Ngài đi tới để bát của ông Cấp Cô Độc, Đức Phật nói: "Này Cấp Cô Độc, con trai của ông về tới nhà rồi." Ông Cấp Cô Độc nói "Con chưa thấy, mọi khi về nó đến gặp con để lấy tiền, sao hôm nay nó không đến gặp con để lấy tiền." Ông gọi người con ra gặp mình, ông nói: "Này con, đây là tiền cha thưởng cho con." Người con nói: "Thưa cha, con không lấy."
Thì lúc đó người con trai không còn là người được mướn đến chùa nghe Pháp, mà ông là vị Thánh nhân đã đắc Đạo Quả. Ông Cấp Cô Độc còn chưa biết, ông hỏi Đức Phật. "Bạch Đức Thế Tôn, sao bữa nay con trai của con khác." Đức Phật nói: "Con của ông đã đắc Đạo Quả với Như Lai."
Là người con trai đắc Đạo Quả bởi Pháp Đức Phật Ngài thuyết mà chứng đắc được.
Thì bà cư sĩ đắc Đạo Quả bà nghe Pháp với Đức Phật, chứ không phải bà đưa cung tên cho ông chồng và bà đắc Đạo Quả với ông chồng.
Tới phần thứ hai, người con gái của ông Cấp Cô Độc đắc Nhị Quả, cũng như bà thí chủ đắc Đạo Quả, bữa đó con gái sắp chết, trước khi chết người con gái nói với người cha là ông Cấp Cô Độc vô thăm: "Thôi, em ở lại ráng tu, chị đi nha." Ông Cấp Cô Độc ngạc nhiên, sao mà đứa con gái của mình bữa nay nó mê sảng nó kêu mình là em, mà nó xưng là chị, ông lo quá, tại vì Đức Phật nói tới lúc cận tử lâm chung tâm không có niệm mà mê sảng thì rớt vô 4 đường ác đạo, nên ông lo, vì ông vô chùa làm phước là mong rằng gia đình ông những đứa con được phước. Ông đến chùa gặp Đức Phật hỏi vì ông không biết, tại vì Đức Phật nói tâm người dưới không nhìn thấy tâm người trên, chỉ có tâm người trên mới nhìn thấy tâm người dưới.
Ông hỏi: Bạch Đức Thế Tôn, con gái của con bữa nay nó nói với con là "chị đi em ở lại ráng tu là nó đang mê sảng".
Đức Phật nói: Không, con gái của ông đắc Nhị Quả, còn ông đắc Sơ Quả.
Thì lúc đó ông Cập Cô Độc mới biết là ông là Sơ Đạo, mà con gái ông đắc Nhị Đạo rồi. Một đời con gái ông chỉ làm một điều duy nhất thôi là ông nhờ đứa con gái bỏ bát cho nhà Sư mỗi khi ông không có nhà. Nhưng đắc đạo quả là nhờ người con gái nghe Pháp Đức Phật mà được sinh về trời.
Thì bà vợ này đắc Đạo Quả với Đức Phật nhưng tuổi thọ và mối quan hệ giữa bà với người chồng này chưa hết, bà sống với nghiệp dư xót, thì bà làm với bổn phận của bà với ông chồng.
Bà đắc Đạo Quả với Pháp chứ không phải là cái nghiệp mình.
Bà Visakha 7 tuổi đắc Sơ Quả mà bà lấy ông chồng người Bả-la-môn có tà kiến và có 20 đứa con.
Nên mình mới nhìn thấy khi người ta đã vượt qua khỏi kiến chấp thì Nghiệp Chủ Kammassakatā có tác động vô tâm, thì tâm không bị tác động tham sân si nữa.
Như Đức Phật khi Ngài bị bệnh kiết lỵ Ngài không có tham sân si nữa, Ngài không bị lung lay do tham sân si với sắc thân mà bị kiết lỵ này nữa, Ngài nhìn vô nó thấy chỉ là Pháp Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã.
Phải sống với Pháp Chân Thật mới có Chân Lý. Còn không có Pháp Chân Thật thì Chân Lý không có cửa vô./.
--------------------------------------------------
Notes:
- Định nghĩa một pháp như thế nào? Trả lời là, có bốn ý nghĩa được gọi là pháp:
1. Trạng thái.
2. Phận sự.
3. Sự thành tụ.
4. Nhân cần thiết.
Khi chúng ta muốn định nghĩa một pháp chúng ta phải có 4 yếu tố này mới được gọi là một pháp.
1. Pháp là chi, thí dụ, cái bàn, cái ghế, âm thanh, là một pháp.
2. Trạng thái của cái bàn ra sao? mình mô tả cái bàn ra sao, vuông, dài, tròn, chữ nhật, cao, thấp.
3. Phật sự của cái bàn ra sao? Có thể để làm bàn ăn, làm bàn viết v.v...
4. Nhân cần thiết của cái bàn là, gỗ, đinh, người làm ra cái bàn v.v...
------------------------------------------------------
Chuyện ngụ ngôn Aesop “Hai cha con và con lừa”
Đã từ lâu lắm rồi, vào một ngày nọ, một người thợ xay già và con trai dẫn con lừa của họ ra chợ bán. Họ khiến chú lừa này đi thật chậm rãi, vì nghĩ rằng có thể có nhiều cơ hội để bán được chú lừa hơn nếu họ giữ cho chú ta trong tình trạng khỏe mạnh. Khi họ đi dọc theo con đường lớn, một số lữ khách đã cười lớn khi thấy họ.
“Thật ngu ngốc khi đi bộ trong khi có thể đường hoàng cưỡi con lừa đó,” một người kêu lên. “Kẻ ngu ngốc nhất trong cả ba không phải như ý nghĩ của ta.”
Người thợ xay không muốn bị cười nhạo, vì thế ông đã bảo con trai của mình trèo lên cưỡi con lừa.
Họ đi xa hơn một chút dọc theo con đường, đến khi có ba thương nhân đi ngang qua.
“Ô hô, ta có gì đây?” họ kêu lớn. “Hãy tôn trọng người già nào, chàng trai! Xuống lừa và để ông ấy lên.”
Mặc dù người thợ xay không hề mệt mỏi, ông cũng đành để con trai mình đi xuống và leo lên lưng lừa, chỉ để vừa lòng những thương nhân kia.
Tại chiếc cửa quay [dẫn vào chợ], họ đi qua một số phụ nữ đang cầm những giỏ hàng đựng đầy rau và những thứ khác để ra chợ bán.
Một người trong số họ thốt lên, “Nhìn kẻ già ngu ngốc kia xem. Chễm chệ trên lưng lừa, trong khi đứa trẻ tội nghiệp kia phải cuốc bộ.”
Người thợ xay cảm thấy hơi chút bực bội, nhưng để được chấp nhận, ông bèn bảo cậu con trai leo lên ngồi sau lưng ông.
Họ chưa kịp bắt đầu thì lại có một tiếng hô lớn vang lên từ một nhóm người khác đang đi trên đường.
“Quả là tội ác,” một người kêu lên, “để một con thú ngu ngốc tội nghiệp như thế phải chở nặng! Họ trông có thể vác con vật tội nghiệp ấy, hơn là để con vật ấy thồ họ.”
Một người khác nói, “Chắc hẳn họ chuẩn bị bán bộ da của con vật đáng thương ấy thôi.”
Người thợ xay và con trai của ông ta nhanh chóng chạy xuống, và một thời gian ngắn sau, khu chợ trở nên náo động khi chứng kiến cả hai cha con cùng khiêng một con lừa buộc vào cây sào. Rất đông người đã chạy đến để trông cho rõ hơn cảnh tượng kỳ lạ đó.
Không phải là con lừa không muốn được khiêng, nhưng vì có quá nhiều người đến, chỉ trỏ vào nó, cười to và la lớn, nó bắt đầu đá và kêu lên, và rồi, khi họ đang đi ngang qua cây cầu, những sợi thừng buộc con lừa bị tuột ra, và con lừa rơi tõm xuống sông.
Người thợ xay nghèo đành rầu rĩ trở về nhà. Bằng cách cố gắng làm hài lòng tất cả mọi người, ông đã không làm hài lòng bất kỳ ai, và không những thế, ông còn đánh mất cả con lừa của mình.
Bài học rút ra từ câu chuyện: Nếu bạn cố gắng làm vừa lòng tất cả, thì bạn sẽ không làm vừa lòng ai cả.
----------------------------------------------
[218] Bốn tuệ đạt thông (Paṭisambhidā), tuệ phân tích, tuệ vô ngại giải:
1. Nghĩa đạt thông - Lý Vô Ngại Giải(Atthapaṭisambhidā), là trí hiểu thấu đáo nghĩa lý của pháp đế; trí có khả năng phân giải chi tiết những điều được nói tóm tắt.
2. Pháp đạt thông - Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaṭisambhidā), là trí hiểu rõ pháp, biết rõ các nguyên lý của ý nghĩa; tuệ có khả năng tổng trì pháp đề.
3. Ngữ đạt thông - Từ Vô Ngại Giải (Niruttipaṭisambhidā), là trí biết ngôn ngữ, dùng để trình bày pháp và nghĩa pháp.
4. Biện đạt thông - Biện Vô Ngại Giải (Paṭibhānapaṭisambhidā), là trí thiện xảo ứng đối, biết rõ cách lý luận, phân tích pháp.
------------------------------------
Sáu thần thông hay lục thông (Chaḷabhiññā):
1. Biến hóa thông (Iddhividhi), thần thông làm được điều phi thường như thăng thiên độn thổ, đi trên nước, đi xuyên vách đá, hiện ra các vật v.v...
2. Thiên nhĩ thông (Dibbasota), thần thông nghe được những âm thanh đặc biệt như tiếng nói chư thiên, tiếng nói ở xa...
3. Tha tâm thông (Cetopariyañāṇa), thần thông biết được hiểu được tâm người khác khi họ chỉ khởi tư tưởng chưa nói ra.
4. Túc mạng thông (Pubbenivāsānussati), thần thông biết được đời sống quá khứ của mình, biết tiền kiếp của mình.
5. Thiên nhãn thông (Dibbacakkhu), thần thông thấy được đời sống chúng sanh, thấy được thân tướng sắc tế của loài hóa sanh, thấy được duyên nghiệp dắt dẫn loài hữu tình sinh tử. Thiên nhãn thông cũng còn gọi là sanh tử thông (Cutūpapātaññāṇa).
6. Lậu tận thông (Āsavakkhayañāṇa), thắng trí đoạn trừ được lậu hoặc phiền não chứng quả A-la-hán.
Năm loại thần thông đầu là thông hiệp thế, thần thông thứ sáu là thông siêu thế.
-----------------------------------
Mười trí lực (Dasabalañāṇa), hay mười Như Lai trí lực (Tathāgatabalañāṇa):
1. Trí hiểu nguyên lý và phi nguyên lý (Ṭhānāṭhānañāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự kiện, cái gì có thể xảy ra và cái gì không thể xảy ra.
2. Trí biết quả nghiệp (Kammavipākañāṇa), đức Như Lai biết rõ các hạnh nghiệp của chúng sanh, thiện ác dẫn đến quả dị thục tốt xấu ra sao? Quả trổ mức độ như thế nào?
3. Trí biết đạo lộ mọi sanh thú (Sabbatthagāminīpaṭipadāñāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự thực hành là con đường dẫn đến tái sanh trong những cõi vui và cõi khổ, biết rõ hành động đưa đến lợi ích hiện tại, lợi ích tương lai và lợi ích tối thượng.
4. Trí biết bản chất dị biệt (Nānādhātuñāṇa), đức Như Lai biết rõ thế gian có bản chất đa dạng như uẩn sai biệt, xứ sai biệt, và giới sai biệt.
5. Trí biết khuynh hướng dị biệt (Nānādhimuttikañāṇa), đức Như Lai biết rõ sự khác biệt khuynh hướng của chúng sanh, có chúng sanh khuynh hướng hạ liệt, có chúng sanh khuynh hướng cao thượng, chúng sanh đồng khuynh hướng sẽ thuận dòng với nhau, hạ liệt thân cận hạ liệt, cao thượng thân cận cao thượng, dù ở quá khứ hay hiện tại cũng vậy.
6. Trí biết thượng hạ căn (Indriyaparopariyattañāṇa), đức Như Lai biết rõ căn cơ cao thấp của chúng sanh, biết rõ chúng sanh có kiến chấp như vậy tiềm miên như vậy, sở hành như vậy, có căn trì độn, có căn lanh lợi, có tính khó dạy, có tính dễ dạy, có khả năng giác ngộ hay không thể giác ngộ.
7. Trí biết sự nhiễm-tịnh-ly của thiền định (Jhānādisaṅkilesādiñāṇa), đức Như Lai biết rõ sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất ly của thiền định, nhập định và sự giải thoát.
8. Trí biết tiền kiếp (Pubbenivāsānussatiñāṇa), đức Như Lai có trí nhớ chính xác và nhớ nhiều về các kiếp sống quá khứ, từng nét đại cương và chi tiết đa dạng.
9. Trí biết sự sanh tử (Cutūpapātañāṇa), đức Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân ngài thấy rõ sự sống chết của chúng sanh; biết chúng sanh này sanh đến chỗ hèn hạ hoặc cao sang, xấu xí hay xinh đẹp, hạnh phúc hay đau khổ, là do hạnh nghiệp như vậy. Chúng sanh đi đến tùy theo nghiệp.
10. Trí đoạn lậu (Āsavakkhayañāṇa), đức Như Lai tự mình thắng tri vô lậu tâm giải thoát, đoạn tận các lậu hoặc. Ngài biết rõ sự đoạn diệt hoàn toàn các lậu hoặc như vậy.
M.I.69; A.V.33; Vbh.336.