Tuesday, February 17, 2026

077 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 14 tháng 10, 2023

 077 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 4 tháng 10, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 077 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Những ngày Bát Quan Trai 

1. căn bản hai ngày là ngày 15 và ngày 30

2. kế đến, bốn ngày là ngày 14, ngày 15, ngày 29, ngày 30.

3. kế đến là sáu ngày là ngày 8, ngày 14, ngày 15, ngày 23, ngày 29, ngày 30

Rồi trong bốn ngày lại chia làm loại nữa là ngày đón ngày đưa.

Thì từ đó mới ra được tám ngày là ngày 13, ngày 14, ngày 15, ngày 16 / ngày 28, ngày 29, ngày 30, ngày 1.

Thì ngày 15 và ngày 30 có ấn định của Tứ Đại Thiên Vương bốn vị đi tuần du bốn châu thiên hạ; Bắc cu lu châu (Uttarakuru), Ðông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Aparagoyana), và Nam thiện bộ châu (Jambudipa).

Rồi ngày 14, ngày 29 là 1000 người con của Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du.

Ngày 8, ngày 23 các quan đi đại thần của Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du.

 Do đó ngày 13 là ngày đón, và ngày 16 là ngày đưa

Ngày 28 là ngày đón, ngày 1 là ngày đưa, cũng ra 8 ngày Bát Quan Trai.

Thì những ngày Bát Quan Trai này tức là không phải tính về ngày,  mỗi một ngày ghi trên là thọ Bát Quan Trai Giới là giữ 8 giới, chứ không phải Bát Quan Trai là tính 8 ngày.

 Thí dụ ngày mùng 8 Phật tử thọ giữ 8 giới, ngày 23 thọ 8 giới gọi là Bát Quan Trai. 

Trai là trai tịnh, là thanh tịnh pārisuddhi  mình đọc là chay lạc. 

Thì có những ngày như vậy, ngày 15, ngày 30 Tứ Đại Thiên Vương đi, ngày 14, ngày 29 con Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du thành 4 ngày là ngày 14, ngày 15, ngày 29, ngày 30.

 Rồi ngày 8, ngày 23, là các quan đại thần đi. 

Tới ngày 14, ngày 29 các con đi,

Tới ngày 15, ngày 30 Tứ Đại Thiên Vương đi.

Rồi ngày đón ngày đưa thì các quan đại thần.

Tứ Đại Thiên Vương lo ngày 15 và ngày 30

Con Tứ Đại Thiên Vương lo ngày 14 và ngày 29

Các ngày này đều thọ Bát Quan Trai được.

Thì khi những ngày này ở cõi nhân loại chỉ ở Nam thiện bộ châu (Jambudipa) là thọ Bát Quan Trai. 

Còn các cõi Bắc cu lu châu (Uttarakuru) Ðông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Aparagoyana) không thọ Bát Quan Trai, mà họ sống trong giới Sila nissita giới thường niên là họ có sẵn những giới căn bản của họ

Thì những ngày này ở cõi Nam Thiện Bộ Châu người nhân loại giữ Bát Quan Trai các Chư Thiên xuống hốt những phước đó của các vị Phật tử đang thọ đem về cho vua trời Đế Thích với các Chư Thiên ở Đao Lợi Thiên, các Ngài mới trữ phước đó mỗi năm Atula Vương tới đánh thì các Vua Trời Đế Thích dùng phước này phòng hộ lại và thắng.  Do đó, thắng hay thua Vua Trời Đế Thích trông cậy vào cõi nhân loại. Thành khi cõi nhân loại làm nhiều công đức thì Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương coi nhân loại các Ngài hộ độ mình lại làm cho mưa thuận gió hòa mọi việc tốt đẹp, thời tiết không bị sái trật, mình muốn cầu nguyện gì các Ngài đều đáp ứng, các Ngài trả ơn lại mình vì mình đã làm công đức phước báu cho các quí Ngài hưởng để các Ngài được an lành.

Do đó Đức Phật Ngài nói đó là 2 chiều, phước đó là phước hữu lậu.

Còn nếu như mình thọ nguyện mình cầu nguyện phước vô lậu là nguyện giải thoát với nhân sanh định, định sanh tuệ thì cái đó là phước vô lậu thì phước đó thù thắng hơn.  Nhưng, song song cái đó mình vẫn bỏ ra phước hữu lậu này để cho các Chư Thiên hưởng để Chư Thiên được sự an lành, gia đinh mình an lành, sức khỏe mình được an lành hay vợ chồng con cái mình được an lành. Đó là lợi ích việc thọ Bát Quan Trai.

Thọ Bát Quan Trai Uposatha có 2 cách :

- Giới Nguyện có 8

- Giới Ngăn Ngừa có 10 ; 3 thân, 4 lời, 3 ý

Ngày Bát Quan Trai mình nguyện các nơi chỉ giữ 8 giới thôi, người ta không nhắc tới 10 giới ngăn ngừa. 

Còn nếu như quí Phật tử muốn giữ giới sát trừ của bậc Thánh thì có 3 là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, là mình có đủ 3 giới. Ngày đó mình phải có Chánh Ngữ là mình có giới sát trừ của Bát Quan Trai. 

- Giới Sát Trừ là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng

Đó là đường đi của bậc Bồ Tát Giác Hữu Tình Bodhisatta, hay là con đường đi của các bậc Thánh Nhân, Sơ Đạo, Sơ Quả bắt đầu họ đi như vậy, không rời.

Có một số người chỉ đi giới nguyện 8 giới.

Trong phần giới sát trừ : Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng. Trong đời sống hàng ngày việc nuôi mạng phải là chân chánh, nghiệp báo của họ về thân, lời, ý phải trong sạch. Giới sát trừ này của bậc Thánh Nhân là đi liền một lúc chứ không tách rời.

Ngày Bát Quan Trai Uposatha lý tưởng là như vậy

Giới nguyện 8 giới là thường

Giới ngừa là cao hơn

Giới sát trừ gọi là ngăn trừ phần là giới tối thượng

Mỗi một cái mình phải nhìn bằng trí tuệ của mình. Giới ngăn ngừa là 3 về thân, 4 về lời, 3 về ý, mình ngăn ngừa không đụng vô thôi, đối với bậc Thánh thì đi 3 giới sát trừ. Ba giới sát trừ gọi là ngăn trừ phần ; Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng.

Từ trì giới thông thường, thí dụ, trì giới thông thường của mình là Thập Phúc Hành Tông, nhưng cố gắng hơn là trì giới Balamat.

Khi đến phần Sát Trừ với những người còn phải đi làm họ khó xử ; Chánh Nghiệp, Chánh Mạng họ còn khó giữ. Chỉ những người ở nhà không phải đi làm mới dễ giữ.

Mỗi một cái là có tác ý và mình có trí tuệ và mình nhìn ra việc làm, làm ít mà được nhiều lúc đó vững chắc không bị mất, có nhiều khi mình không biết mình làm nhiều mà gặt hái ít và có khi bị mất, nó không vững chắc với mình tại vì mình không có tác ý không có trí mình làm vuột hoài, chưa kể nghiệp chủ nó vuột nữa, nghiệp chủ mình dùng danh từ là ma đánh lén mình, nó đánh bất ngờ, và mình không bao giờ biết trước được, tại vì trong tiền kiếp những kiếp quá khứ hay những thời gian qua những ngày tháng qua mình làm có khi có tác ý có khi không có tác ý do đó nó cũng đã để hạt giống lại.

Thứ hai nữa, khi việc Thiện trổ sinh cái lớn thì cái nhỏ mất, mà việc Bất Thiện nhỏ lớn đều trổ hết không sót cái nào. Còn Thiện lớn mà trổ thì Thiện nhỏ mất nên khi vướng vô khổ của một cái nghiệp quả Bất Thiện thì cái quả này trổ sinh liên tục. 

Do đó, mình phải có tác ý ngay khi đó mình phải nhớ tới việc Thiện, tâm của mình giữ lại việc Thiện, mình đừng để việc Bất Thiện hiện bày với mình thì quí Phật tử mới giữ được việc Thiện, còn rớt vô rồi chỉ than thôi, buồn thôi, tiếc nuối thôi là nó chồng chất lên là vuột liền, không nghĩ tới việc Bất Thiện mà phải nghĩ tới việc Thiện.

Thiền sinh hỏi: khi làm việc bất thiện nó chỉ có 7 quả thôi, trong khi đó quả thiện cho 16. Hồi nãy Sư nói khi mình làm thiện là phước báu mà trổ cái lớn trổ thì cái thiện nhỏ mất đi, trong khi đó cái bất thiện nhỏ lớn gì cũng trổ hết, thì như vậy không phù hợp.

HT trả lời: Không phải. Khi 7 quả Bất Thiện Vô Nhân là vừa hưởng quả vừa tạo tác ra tâm Đổng Lực khác rồi thì nói là ngồi  thọ hưởng là không có.

Ngay khi một chúng sinh rớt xuống địa ngục họ không hưởng quả khổ mà họ ở trong đó tạo tác cái khổ, mình nhìn mình nghĩ nó trả quả nhưng không phải mà cái khổ chồng chất lên,  nó tạo quả, nhãn nó vừa bắt vô, thân vừa xúc vô thì nó tạo ra Đổng Lực liền, và tạo ra nữa, rất khó, "nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục" khi mất thân làm người thì khó mà trở lại, tại vì không có cơ hội để làm việc thiện, tại vì ở trong 4 cõi khổ không có việc thiện để làm.

Ngài Jotika trong quyển sách về nghiệp, Ngài nói Thiện tạo ra cho đến lúc trổ ra thì nó mất, thí dụ quí Phật tử đắc Sơ Thiền Sắc Giới, đắc Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ Vô Sắc Giới khi chết mà đắc một trong tầng thiền này,  thì không sanh về đó được. Mà cái quả của Thiện mình ngồi mình hưởng được, còn quả bất thiện biết như vậy đó nhỏ lớn gì không kịp hưởng mình đã tạo ra cái mới.

Một thí dụ, khi quí Phật tử bị đau chẳng hạn như chân đạp trúng đinh, hay đạp trúng mảnh chai, hay con dao cắt đứt tay thì mình la lên thì tâm sân nổi lên vì thân thức thọ khổ thì tâm sân khởi lên.

Thí dụ, Mẹ mình mất, nhãn thức bắt cảnh sắc thấy cảnh Mẹ mất, mình buồn, tâm sân khởi lên, rồi khóc chảy nước mắt ra là tâm sân nó theo.

Câu "theo ta như bóng với hình" thì nó có một mãnh lực nào, một năng lực nào mà cắt cái hình ra khỏi cái bóng không ? Mà thời gian nó theo mình không đếm được thời gian, như bóng với hình Đức Phật Ngài dùng từ rất chính xác, không có mãnh lực nào cắt nó ra, do đó, đừng có tạo ra, mà có tạo ra rồi thì lo chạy. Hối tiếc không kịp, cái chữ hối tiếc là nó tạo ra thêm giòng Đổng Lực khác, mình chỉ lo chạy thôi.

 Thí dụ quí Phật tử làm lỗi thì lo chạy, đừng có đứng lại lo sửa, lo làm việc thiện để mà chạy, còn việc kia nó tới thì để nó tới, mình không nghĩ tới, chứ mình ngồi nghĩ tới là dại lắm.

Thí dụ. Không bao giờ mình lấy cái tôi ta để mà đối trị với Pháp, mà lấy Pháp đối trị Pháp. Khi mà tạo ra một việc Bất Thiện Pháp mà lấy cái tôi để mà đứng chống đỡ hay để trị việc Bất Thiện Pháp đó quả báo trổ sinh thì không bằng mình đi làm Thiện Pháp. Cái Tâm lúc đó mà nghĩ Thiện, hành động làm việc Thiện, ngữ nói lời Thiện thì đó là lấy Thiện Pháp trị Pháp, lấy Thiện Pháp để đỡ lại việc Bất Thiện đã lỡ làm, chứ không lấy cái "Tôi" để đối trị Pháp, đó là định luật

Ngài Tịnh Sự khi Sư ở với Ngài. Ngài nói Ngài không tạo phước vật, Ngài tạo phước trí, nên trí tuệ của Ngài là vô song, nhưng phước vật Ngài không có cái gì hết, y áo, tứ vật dụng, chùa chiền Ngài cũng không có, Ngài chỉ tạo phước trí thôi, Ngài dịch kinh sách, Ngài thuyết giảng Pháp, đó là phước trí, phước vật của Ngài ít, Ngài hưởng cái cũ, có bao nhiêu Ngài sài bấy nhiêu, Ngài không tạo. Ngài nói trí của Ngài dùng Ngài sợ có phước vật lên Ngài dính mắc vô đó làm trí lu mờ, người mà sống đầy đủ họ đắm nhiễm trong đó họ đâu còn tính toán nghĩ ngợi gì nữa, cái khó nó bó cái khôn, họ đói thì họ vùng lên, còn no thì nằm ngủ

Tâm Quả cho mình cái giựt mình chứ không phải cho mình cái thắc mắc, mình không thắc mắc, cho mình cái giựt mình là vì chưa kịp hưởng thì nó đã tạo nữa rồi, trong khi biết được là cái quả Bất Thiện nhỏ lớn gì nó cũng trổ hết.

Thí dụ, mình là con người tạo ra Bất Thiện khi chết làm súc sinh, mà súc sinh này là súc sinh Thiện, thí dụ như cọp beo rắn rít là chúng sinh dữ, súc sinh hiền là không làm cái gì tội, mà chỉ trả quả thôi, là con dòi trong đống phân, nó không tạo tác, từ khi rớt xuống làm con dòi trong đống phân khổ triền miên, con cọp, con beo, con sư tử còn đi kiếm ăn. Bây giờ mình quán con dòi nằm trong đống phân, nó khổ triền miên.

Nên khi tại sao mình rớt xuống làm thú dữ ? Là trong đời sống hàng ngày mình có oan trái, thí dụ người ta nói xấu mình phản ứng, người ta hại mình phản ứng lại, thì bắt đầu mình ra thú dữ.

Trong Kinh Pháp Cú có câu chuyện 2 người vợ của một người gia chủ:

(3) Nó mắng tôi, đánh tôi,

Nó thắng tôi, cướp tôi,

Ai ôm biềm bận ấy,

Hận thù không thể nguôi.

Nó mắng tôi, nó chửi tôi, nó sát hại tôi, ai không ngừng oán hận, hận thù mãi không nguôi.

Thì bà vợ thứ nhất không có con, bà vợ thứ 2 có con, thì bà vợ thứ nhất cho thuốc vào thức ăn bà vợ thứ hai để phá thai và bị chết rồi tái sinh thành con con mèo, còn bà vợ lớn làm vợ thứ 2 chết nên bà bị ông chồng đánh đập và bị chết thì lại tái sinh vào nhà đó thành con gà mái, khi con gà mái đẻ trứng thì bị con mèo ăn hết trứng, rồi ông chủ nhà đá con mèo chết, con mèo tái sinh thành thợ săn, còn con gà tái sinh thành con nai, rồi thợ săn bắn con nai.

Mình sống ở đời mình thấy có thú dữ là khi ở loài người họ oan trái với nhau không ngừng. 

(4) Nó mắng tôi, đánh tôi,

Nó thắng tôi, cướp tôi,

Không ôm biềm bận ấy,

Hận thù được tự nguôi.

Như bà hoàng hậu Sāmāvatī, khi bà thứ phi Māgaṇḍiyā hại Đức Phật không được nên hại đến đệ tử Đức Phật là bà hoàng hậu Sāmāvatī, thì bà thứ phi Māgaṇḍiyā dùng củi chất chung quanh hoàng cung để hỏa thiêu bà hoàng hậu Sāmāvatī cùng với 500 cung nữ, thì bà hoàng hậu Sāmāvatī cùng với 500 cung nữ ngồi thiền quán tưởng và đắc quả Thánh, thì khi chết họ được sinh thiên. Còn nếu mà trả thù rồi chết thành ngã quỉ Atula, rồi có khi rớt vào đường thú dữ để trả thù tiếp.

Bây giờ mình nguyện không có oan trái với chúng sinh nào hết.

Đức Phật nói trong Kinh Pháp Cú là : đừng đổ thừa do nghiệp, mà là do mình tất cả, tốt cũng do mình, xấu cũng do mình, an vui cũng do mình, khổ đau cũng do mình, chính mình tạo ra nghiệp tốt, chính mình tạo ra nghiệp xấu, chính mình thọ khổ, chính mình thọ an vui, chính mình tạo tác ra.

Mình học Abhidhamma mình biết rồi là Tâm dẫn dắt, Ý dẫn dắt là mình biết rồi. Nghiệp Chủ nó đến đánh mình. Mình không oan trái thì không ai oan trái với mình, nhưng trong giây phút mình có Tâm buồn là rớt xuống cảnh khổ liền, rớt xuống cảnh khổ thì khó trở lại làm người, như con rùa khó chui vào lỗ ván trôi trên bãi biển.

Tính sân mà oan trái là trong đời mình có oan trái.

Đức Phật Ngài nhìn thấy cái nghiệp của chúng sanh, nghiệp quá khứ, nghiệp hiện tại, nếu làm nữa thì Ngài biết nghiệp vị lai của họ. Nhưng không phải Ngài dừng ở đó Ngài nói mà Ngài dạy nữa. Ngài nói : Nếu ngươi không dừng lại thì ngươi sẽ đi, ngươi sẽ đi như thế này, Ngài nói chính xác.

Còn mình đây, không ai biết mình bằng chính mình biết mình, có khi mình làn lơ, có khi mình cố ý mình che lấp luôn. Rồi khi nó trổ ra mình lại hỏi làm sao mình có nó.

Miếng đất người ta có chủ, mà người chủ này trong thời gian họ sinh sống họ mượn nợ nhiều thì nhà băng tới tịch thu, trong khi đó mình ở bên ngoài mình nhìn thấy ông đang bị xiết nợ mình nhào vô mình dành. 

Đức Phật nhìn không phải về câu chuyện, không phải nhìn vào sự việc, không phải nhìn về con người, mà Ngài nhìn vào Pháp.

 Làm Toàn Thiện, trong Toàn Thiện là phước vô lậu, phước vô lậu đó thì có phước thiện, phước thiện trổ sanh điều an vui cho mình. Do đó, mình chỉ lo làm Toàn Thiện thôi.

Khi làm Toàn Thiện, một bậc Thánh mà họ được gọi là bậc Thánh là họ sống trong 3 Ngăn Trừ phần là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng cùng sanh khởi một lượt mà nhất định đi chung. Còn mình thì đi riêng lẻ, có khi Chánh Ngữ, có khi Chánh Nghiệp, có khi Chánh Mạng, mình không đi một lúc 3 cái, nhưng bậc Thánh Sơ Đạo, Sơ Quả đã có rồi 3 ngăn trừ phần một lượt cùng một lúc và không đi riêng.

Xả thí của phàm đi riêng

Xả thí của Thánh đi chung trong Balamat thì 3 Ngăn Trừ phần đi chung, quí Phật tử áp dụng vào thì hoàn hảo.

Trí Tuệ của phàm đi riêng

Trí Tuệ của bậc Thánh đi chung trong Balamat 3 Ngăn Trừ phần đi chung

Quí Phật tử áp dụng như vậy là hoàn hảo.

Như vậy, khi xả thí quí Phật tử có Chánh Mạng, vật thí này của ta là do ta làm bởi sự Chánh Mạng này. Vật thí này làm có Chánh Nghiệp, và vật thí này làm với lời nói chân thật là có Chánh Ngữ.

Trong xả thí có 2 là vật thí và cách thí.

 Vật thí này là Chánh Mạng, vật thí này là Chánh Nghiệp, vật thí này là Chánh Ngữ, 

Cách thí này là Chánh Mạng, cách thí này là Chánh Nghiệp, cách thí này là Chánh Ngữ.

Như vậy là có 6 là được toàn thiện. Lúc nào quí Phật tử tập khi làm thiện thì đi chung như vậy là được 6 toàn thiện, làm được như vậy là con đường Thánh nhân cô đang bước trên đó.

Cách thí này là ta làm Chánh Mạng, cách thí này ta làm Chánh Nghiệp, cách thí này là Chánh Ngữ

  Nên Ngài Paṇḍita trong In This Very Life - Ngay Kiếp Sống Này  : Ta hạnh phúc là ta đang đi trên con đường của bậc Thánh nhân, ta là họ hàng của bậc Thánh nhân, ta là con cháu của bậc Thánh nhân, hay ta là thành viên của bậc Thánh nhân, do mình quyết định, đó là ngay trong kiếp sống này chứ không phải chờ đến kiếp sau. Không bỏ cơ hội nào khi đã biết được Bát Chánh Đạo bậc Thánh nhân đi chung, không rời, không riêng, và không bỏ cơ hội nào hết, thì mình cứ theo đó với tác ý khôn khéo và có trí tuệ, sẽ có được quả phước báu đó trở lại rất là mãn túc đầy đủ như ý nguyện.

Với Bát Quan Trai hay làm việc thiện của bậc Thánh nhân và phàm phu 2 cái đó khác nhau.

Mình học về 3 Tâm Sở Ngăn Trừ phần bất định và đi riêng và nhất định mà đi chung, tùy mình chọn cái nào mình đi, cái đó không bắt buộc và không ai cản ngăn hết, mà với tác ý của mình muốn tạo ra, mình gieo chủng tử đó là mình làm được.

Mình mà không tác ý thì khi làm bị lựng khựng.

Ôn lại bài tuần trước Thắng Giải Adhimokkha của mình chưa chắc, mà Tà Thắng Giải (Micchādhimokkho) thắng đó sai lầm không chính xác và không chuẩn xác, và mình phải làm lại.

Tới ngày 15, ngày 30 Tứ Đại Thiên Vương đi.

Rồi ngày 14, ngày 29 là 1000 vị con của Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du.

Ngày 8, ngày 23 các quan đi đại thần của Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du.

Thì bây giờ mình ngày nào của vị nào thì mình lựa để mình thọ Bát Quan Trai, hay ngày nào mình cũng thọ hết là do mình chọn.

Do đó, mình phải hiểu đó là quyền quyết định ở mình, giờ mình nhất định đi chung chứ không đi riêng thì mình làm hết Bát Quan Trai Giới này.

Vì khi mình mất cơ hội làm thì khó có cơ hội nữa đến. Một năm mình có một ngày. Một ngày có một giờ. Buổi lễ Kathina cúng dường Tăng trong 365 ngày chỉ có một ngày để làm lễ Kathina cúng dường Tăng, thì mình dồn Tam Tư ( Tư Tiền, Tử Hậu, Tư Hiện) vào để làm, dồn vô hết tất cả Tương Ưng Trí, Đại Thiện Tương Ưng Trí, hỉ thọ Vô Dẫn đủ Tam Tư. Không biết ngày mai mình còn sống ? Không biết năm tới mình còn sống ? Bây giờ mình cứ làm thì phước trổ sinh liền, cái đó là Phala là Quả, chứ không phải Vipāka quả dị thục.

Tại vì thực ra Nghiệp Chủ mình quen rồi, Nghiệp Chủ quan trọng, nó là chủ nhân của mình nên nó đứng lại, do đó phải tác ý khôn khéo và có trí tuệ.

 Thì làm Bát Quan Trai thường giữ 8 giới, nhưng  muốn Bát Quan Trai giới Ngăn Ngừa thì giữ theo giới Thập Thiện Nghiệp, còn muốn Bát Quan Trai giới Sát Trừ của bậc Thánh nhân, thì bắt đầu đi Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng trong Bát Quan Trai, cách đi này là an toàn.

Còn Bát Quan Trai ngăn trừ phần và Bát Quan Trai sát trử phần thì giữ nguyên không uyển chuyển 

Mình giữ Bát Quan Trai Balamat giữ 8 giới thì uyển chuyển theo hoàn cảnh. Cho tới khi xuất gia mà giữ sadi giới là giới thứ 10 là giới không giữ tiền.

Thí dụ mình có đủ điều kiện mình giữ 8 giới mà uyển chuyển theo hoàn cảnh, còn 2 Ngăn Trừ phần và Sát Trừ phần giống như một đôi Balamat bất di bất dịch trong khi hành Balamat. Đó là người tác ý khôn khéo và có trí tuệ.

Trong 5 giới của giới nguyện mình giữ được Thập Thiện

5 Giới trong Ngăn Trừ phần và Sát Trừ phần mình giữ được 3 giới. 

Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng là đang đi trên con đường Bát Chánh Đạo của bậc Thánh, đang đi trên Bát Chánh Đạo của giới phần, với trí tuệ mà mình biết là đã có Tuệ Văn trong Bát Chánh Đạo đang hành giới, Chánh Kiến Chánh Tư Duy của mình.

Do đó, tác ý khôn khéo của mình là mình bước qua bước lại cũng được. Mình bước qua từ phàm qua Thánh, dù mình đang ở vị trí phàm nhưng mình biết làm xả thí.

Trong quyển Sưu Tầm Pháp cô Diệu Giác nói Bất Thiện có 3 nhân : Tham, Sân, Si. Sư sửa lại Thiện có 2 là Vô Sân, Vô Tham, cô đang làm thiện phàm nhân 

Thiện Thánh nhân có 3 nhân : Vô Tham, Vô Sân, Vô Si. 

Cô làm Thiện Thánh nhân  có 3 nhân (Vô Tham, Vô Sân, Vô Si)

Thiện phàm nhân vừa có 2 và vừa có 3.

Từ khi mình biết được pháp này thì mình nhìn lại người bạn của mình, hay người trong nhà của mình, hay chúng sinh mình có dịp tiếp xúc, mình biết họ là Thiện tam nhân hay Thiện nhị nhân, Thiện Thánh nhân hay Thiện phàm nhân.

 Mình phải biết Thiện có 3 là Thánh nhân và phàm nhân.

Thiện có 2 (Vô Tham, Vô Sân) thì chỉ có phàm nhân.

Mình lấy trí tuệ khôn khéo của mình 

Mình làm cái gì phải có trí tuệ, phải có sự tác ý, có sự khôn khéo, có sự hiểu biết. Trong khi mình làm tinh tấn Balamat của phàm nhân, tinh tấn Balamat của Thánh nhân.

Thí dụ. Tinh tấn có :

- Tinh Tấn Phàm 

- Thánh Tấn Thánh

Tinh tấn có 2 : 

- Tinh Tấn Thiện, gọi là Chánh Tinh Tấn

- Tinh Tấn Bất Thiện, gọi là Tà Tinh Tấn

Do đó không bao giờ mình nói một chiều được khi ta nói đến Tinh Tấn thì có phàm và Thánh. Khi ta nói tới Tinh Tấn thì có Thiện và Bất Thiện. Thiện là Chánh Tinh Tấn, Bất Thiện là Tà Tinh Tấn 

Tinh Tấn thì có Thiện và Bất Thiện là dựa trên 4 cái Tứ Chánh Cần.

Tà Tinh Tấn chỉ có 2 vế là : Bất Thiện nào chưa từng sinh cho nó sinh.

                                           Bất Thiện nào đã sinh rồi cho nó phát triển.

Nhưng Thiện có 4 : Bất Thiện nào chưa từng sinh không cho sinh

                                          Bất Thiện nào sinh rồi thì diệt nó đi

                                          Thiện nào chưa từng sinh cho nó sinh 

                                          Thiện nào sinh rồi cho nó phát triển lên

Như vậy là 4 là Tứ Chánh Cần.

Trong phàm Tinh Tấn có 2 : Thiện 4. Bất Thiện 2

Trong Thánh Tinh Tấn có 4 (coi phần trên) nhưng chỉ có 3 bậc : Thất Lai ( Tu Đà Hườn), Nhất Lai ( Tư Đà Hàm), Bất Lai ( A Na Hàm). Không có Vô, Vô không có Thiện mà Vô là Vô Ký là Duy Tác.

Trong Tinh Tấn, khi mình biết mình là phàm mình đi con đường của Bậc Thánh được thì mới thành Tứ Chánh Cần. Do đó mình đang ở trong vị trí Tu Nguyện Tinh Tấn trong Thập Thiện Nghiệp , và con đường Bậc Thánh nhân 

- Nguyện (Tứ Chánh Cần)

- Ngăn trong  (Thiện Nghiệp + Toàn Thiện)

- Sát trong (Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng)

Tinh Tấn trong Chánh Ngữ, lời nói đi đôi với hành động và Chánh Nghiệp. Tinh Tấn này là vì mạng sống đang sống trong Thập Thiện Nghiệp hay là Thập Toàn Thiện mình thực hiện thì mình có được tinh tấn Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, đi một nước vậy đi toàn thiện luôn.

Như vậy thì trong bài của Ngài Mingun nói, tất cả bậc Giác Hữu Tình mà nguyện từ bậc giác hữu tình Thinh Văn Giác, Độc Giác và Chánh Đẳng Giác 3 bậc đó khi còn là bậc giác hữu tình là bồ tát ý thức giác ngộ và hiểu biết rồi thì các Ngài đi Tứ Chánh Cần với Ngăn, Nguyện, Sát Trừ suốt trong Thập Toàn Thiện của bậc Thánh nhân, chứ Ngài không đi Tứ Chánh Cần của bậc phàm nhân.

Do đó, khi Ngài Mingun nói tất cả các bậc giác hữu tình Thinh Văn, Độc Giác, Chánh Đẳng Giác nguyện trở thành Phật Thinh Văn, Phật Độc Giác, Phật Chánh Đẳng Giác đều đi Tứ Chánh Cần trong 3 bậc của bậc Thánh nhân. Chánh Ngữ nói ra lời, hành động theo Chánh Niệm, và mạng sống của các Ngài sống trong Chánh Mạng của bậc Thánh chứ không theo kiểu nghiệp báo nghiệp chủ của mình.

 Thì mấy cô đi cái này là Nghiệp Chủ bắt không kịp và nó không đủ lực để bắt mình vì mấy cô đang sống trong cái ốc đảo bảo vệ của pháp Thánh nhân.

Bây giờ mình nói qua Phát Thú, pháp Thiện làm duyên cho pháp Thiện, tức là lấy pháp Tinh Tấn là pháp Thiện làm duyên cho pháp Thiện của phàm nhân hay của Thánh nhân với mãnh lực duyên nào quí Phật tử bắt vô.

Pháp Thiện làm duyên cho pháp Thiện mình đi Trưởng Duyên, trong Trưởng mình qua Câu Sinh.

Trong phần đó mình đi qua Trưởng Duyên, mà Trưởng Duyên này là Câu Sinh Trưởng, rồi Trưởng Duyên đó mới qua Đồ Đạo Duyên. Mình đang hành Đạo.

Người ta hỏi Đồ Đạo Duyên cô đi đạo gì ?  Đi Bát Chánh Đạo trong Giới phần, Tuệ phần, Định phần thì hoàn hảo.

Với Phát Thú mình làm bằng mãnh lực thì đi như vậy là đi theo pháp, xuất sinh, bảo hộ, lấy mấy cái đó thì mới đi an toàn được.

Do đó, khi mình đặt ra một câu chuyện. Câu chuyện đó mình ở ngoài nhìn vô, khi mình biết câu chuyện đó. 

Biết (tri, liễu tri, từ tri, tri đắc).

Thì khi người biết mà bị đánh lén, đánh thiệt, họ biết cái nào ?

Khi mà họ biết hết các chuyện mà họ còn bị đánh lén hay là bị đánh công khai, thì cái biết đó mình nhìn vô người đó mình sẽ nói "anh bị đánh lén" hay là "anh bị đánh công khai" .

Sư nói trường hợp của Sư. Tất cả mọi chuyện Sư nắm pháp, pháp Đức Phật, Chánh Tạng, Luật Tạng mà Sư la lên "người ta đánh lén Sư" vậy thì người ta đánh lén hay đánh thiệt.

Đánh lén là một cái bẫy cho mình lọt vô mình mới đánh được.

Khi người ta biết hết mà mình vẫn đánh mà mình nghĩ rằng tôi bị đánh bất ngờ thì cái đó chỉ là một cái đưa ra.

Khổng Minh khi đó trong thành chỉ có 1000 người lính, Tư Mã Ý mang đến 30,000 quân, Khổng Minh kêu mở cửa thành, Tư Mã Ý thấy cổng thành mở sợ là cái bẫy nên rút lui.

Người ta biết hết đó mà vẫn đánh lén coi chừng trúng mưu kế.

Vậy thì khi mấy cô biết được hành động của mình và mạng sống của mình và lời nói của mình, thân ngữ ý của mình mà mình kiểm soát trong Niệm và Tỉnh Giác thì những cái gì  xảy ra ngoài cái đó mình coi đó là nghiệp chủ là mình biết được là mình giải quyết nó được. Còn nếu như mình thất niệm và không kiểm soát mất tỉnh giác trong hành động, trong sự sống hay trong lời nói của mình khinh xuất thì đánh ra mình quờ quạng mình không biết của mình hay là của người đánh lén hay đánh thiệt là mình chết.

Trên thế giới này chỉ có 2 dân tộc nổi tiếng nhất trên thế giới. Đức Phật Ngài thuộc dân tộc Ariya, Ngài dựa trên nền tảng Sacca thì mình mới ra được Magga và Ngài mới có Puggala.

Ariya Sacca là Tứ Thánh Đế

Ariya Magga là Bát Thánh Đạo

Ariya Puggala là tám bậc Thánh ; Sơ, Nhị, Tam, Tứ.

 Đức Phật Ngài có dân tộc của Ngài là Ariya dựa trên Sacca là Tứ Thánh Đế.

Ngài đi trên con đường của Ngài cho dân tộc của Ngài đi Ariya Magga là Bát Thánh Đạo.

Thì Ngài có được Ariya Puggala là 8 Thánh nhân.

Ngài không đi ra ngoài 3 cái này.

Khi nào dân tộc của Ngài, người dân của Ngài, đệ tử của Ngài, học trò của Ngài mà đi ra ngoài 3 cái này thì không phải là Ariya. Giống như ông ngồi câu cá ông có tên là Ariya nhưng hành động không phải là Ariya, tại vì ông không đi trên Sacca, ông không đi trên Magga, nên ông không được gọi là Puggala.

Đó là Chánh Tạng.

Bắt đầu qua Tam Tạng.

Dân tộc thứ 2 là Ariens, dân tộc Thánh nhân. Dân tộc này có 2 : bên Âu Châu  là nước Đức, và  bên Trung Đông là nước Do Thái.

Đức Phật Ngài có Sacca, Ngài thực hành Magga và Ngài trở thành con người Thánh nhân Puggala.

Khi mình đi tới những người họ biết hết đừng bao giờ mình nghĩ rằng là mình đánh lén người ta được, đừng bao giờ mình nghĩ mình đánh thiệt người ta được. 

 Từ phàm qua Thánh mình phải đi từ dưới đi lên. Mình phải đi theo bậc Thánh nhân (Puggala) và hành đạo của các Ngài đang đi (Magga) và mình chứng tri được sự thật (Sacca). Mình phải đi theo bậc Thánh nhân (Puggala) mà hành đạo các Ngài đã đi (Magga) và chứng tri những gì Ngài đã có. Đó gọi là mình noi gương các Ngài để tu tập. Tại vì đường này các Ngài đã làm ra, các Ngài đã tìm ra, các Ngài đã có qua, các Ngài đã trải qua rồi. Thánh nhân đi trước, phàm nhân noi gót ./.

 


Sunday, December 21, 2025

076 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 7 tháng 10, 2023

 076 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 7 tháng 10, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 076 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

TỔNG HỢP NỘI DUNG VÔ TỶ PHÁP - TẬP I

Trang 213

NHẤT THỐNG (EKAGGATĀ) HIỆN HỮU 3 HOẶC 6 ĐIỀU:

1. Lấy Tâm Sở Nhất Thống ở trong 2 Tâm Nhãn Thức an định và cho Pháp tương ưng đình trụ trong Cảnh Sắc.

2. Lấy Tâm Sở Nhất Thống ở trong 2 Tâm Nhĩ Thức an định và cho Pháp tương ưng đinh trụ trong Cảnh Thinh

3. Lấy Tâm Sở Nhất Thống ở trong 2 Tâm Tỷ Thức an định và cho Pháp tương ưng đình trụ trong Cảnh Khí.

4. Lấy Tâm Sở Nhất Thống ở trong 2 Tâm Thiệt Thức an định và cho Pháp tương ưng đình trụ trong Cảnh Vị.

5. Lấy Tâm Sở Nhất Thống ở trong 2 Tâm Thân Thức an định và cho Pháp tương ưng đình trụ trong Cảnh Xúc ( là 1. Sát Na Định (khaṇikasamādhi)

6. Lấy Tâm Sở Nhất Thống ở trong 76 Tâm Y Thức an định và cho Pháp tương ưng đinh trụ trong Cảnh Pháp (là 2. Cận Hành Định (Upacārasamādhi), 3. Định An Chỉ (Appanāsamādhi - Định Kiên Cố)

---------------------------------

Tâm Sở Nhất Thống Ekaggatā

Nhất Thống là trụ vô trong một cảnh thôi. 

An Định là cho pháp tương ưng hiện hữu trong một cảnh là Nhất Thống Ekaggatā, Thắng Giải Adhimokkha là giải quyết vấn đề, còn Nhất Thống Ekaggatā là trụ vô trong một cảnh nó không giải quyết mà chỉ đặt tâm vô trong cảnh đó thôi là nó Nhất Thống nên nó không giải quyết gì hết. Còn Thắng Giải Adhimokkha như ông quan tòa giải quyết vấn đề.

-------------------------------

Trang 214

THẮNG GIẢI (ADHIMOKKHA) HIỆN HỮU 2 ĐIỀU:

1. Chánh Thắng Giải (Sammādhimokkho): Phán quyết Cảnh được nghiêm mật và chính xác.

2. Tà Thắng Giải (Micchādhimokkho): Phán quyết Cảnh được nghiêm mật, thế nhưng ngộ giải

-------------------------------------

Thắng Giải Adhimokkha giải quyết mọi vấn đề như ông quan tòa phán quyết nó tốt xấu. 

Còn Nhất Thống Ekaggatā là tâm trụ vào cảnh và ở trong đó.

2 cái khác nhau.

Thí dụ : Quí Phật tử vô lớp học ngồi yên không nói gì hết thì gọi là Nhất Thống.

Khi nghe rồi có thắc mắc quí Phật tử hỏi muốn giải đáp hay là muốn lý giải vấn đề là Adhimokkha, là nghe, hiểu, thắc mắc, hỏi . 

Adhimokkha là pháp rất quan trọng. Trong Biên Niên Sử, Ngài Mingun nói nếu mà không Adhimokkha mình không phân biệt được mặt thiệt mặt giả. 

Mà cũng Adhimokkhamarana là quyết định tử vong cũng là Adhimokkha này, với Bồ Tát mà sanh lên cõi trời Sắc Giới Vô Sắc Giới tuổi thọ dài quá mà không Adhimokkha để giải quyết thì coi như là triền miên luôn trong đó Balamat không giải quyết được.

Adhimokkha cũng là như vầy, nếu như mình thấy con đường này sai con đường này không đúng là phải Adhimokkha liền chứ không đi tiếp.

Như vậy thì quí Phật tử an trú trong Nhất Thống Ekaggatā trong Balamat cũng được nhưng không hoạt động gì hết, có nguyện, có giữ Balamat, nhưng  chỉ giữ cái đó thôi giống như cũ. Còn Adhimokkha  là phải hoạt động làm cho nó sanh sôi nẩy nở cho thịnh vượng.

Nếu an trú trong Nhất Thống Ekaggatā mà thiếu Adhimokkha tâm hành giả bị giao động trao đảo không đứng yên thì Adhimokkha  không sắc bén được, 2 cái đó phải đi đôi, tâm trụ lại sắc bén thì Thắng Giải Adhimokkha mới trụ trong đó để giải quyết vấn đề. Nhất Thống Ekaggatā xong thì Thắng Giải Adhimokkha mới được.

Thì khi  hành giả an trụ Nhất Thống Ekaggatā với đối tượng thì Adhimokkha khởi lên tuệ giác, tỉnh giác Asati - sampajanna. Nếu như không có Nhất Thống Ekaggatā thì mình sống trong tập khí Adhimokkha này là Micchà Adhimokkha là tà thắng giải chứ không phải Samma Adhimokkha chánh thắng giải. Như người say rượu họ không có Nhất Thống Ekaggatā không có Thắng Giải Adhimokkha, họ cũng Thắng Giải, giải quyết nhưng trong trạng thái tâm không ổn định.

Đọc 2 chú giải này rồi mình áp dụng, thí dụ, bất cứ mỗi cảnh nào đến mình phải an trụ Nhất Thống Ekaggatā vào rồi từ đó mình Thắng Giải Adhimokkha, cái trước cái sau chứ không đi cùng một lượt, gọi là Biệt Cảnh, còn cái kia là Biến Hành, mà Biệt Cảnh này có Cảnh Thiện, Cảnh Bất Thiện, nó không đi chung nhau, còn Biến Hành đi cùng hết. 

 Adhimokkha này cần phải tu tập nhiều thì mới Thắng Giải chính xác được còn không thì là tà thắng giải.

Thiền sinh hỏi: Mình có thể thí dụ Nhất Thống giống như minh Định vào một đối tượng rồi từ đó Thắng Giải là Tuệ của mình phát sinh lên ?

HT trả lời : Vậy chứ cô không học pháp về Minh Sát Tuệ Vipassana có Niệm mới có Định, còn Ekaggatā này là thần Định. Thì Sư mới nói khi  Định được có Ekaggatā thì tuệ lên, khi Adhimokkha làm trong Vipassanāñāṇa Tuệ Minh Sát, thì lúc bấy giờ mới minh sát được, thẩm thấu được Thực Tính, Thực Tướng.

 Thiền sinh hỏi : Thưa Sư, từ Thắng Giải mình sẽ dùng Tâm Sở Tuệ ?

HT trả lời : Chưa, mình theo phần về Tâm rồi mình mới tính. Thí dụ như mình bây giờ Thắng Giải mà nó thuộc Tợ Tha mà nếu thắng giải này mình không có sài Tâm Thiện Tương Ưng Trí thì Tâm Sở Trí Tuệ kết hợp với nó.

Tạo sao mình không dùng Tâm Thiện Tương Ưng Trí ? là do tập khí của mình do thói quen của mình không dùng trí để suy nghĩ mà mọi việc mình làm theo phản ứng thì lúc đó mình Bất Tương Ưng Trí. Phải cẩn thận

Thí dụ, bây giờ cảnh đến thì mình lấy Tuệ Văn thì lúc đó Tâm Thiện Tương Ưng Trí mới đụng vô Tâm Sở Trí Tuệ này ở trong phần Tuệ Văn nó mới khai thác cái đó ở trong Tuệ Tư, rồi qua Tuệ Tu khai thác trong sự tu tập của mình.

Sư lo cho quí Phật tử khi rời chùa về nhà nói năng nghĩ suy không kiểm soát được.

Như vậy thì mình có EkaggatāAdhimokkha. 

Adhimokkha có 2 loại : 

Micchà Adhimokkha tà thắng giải và 

Samma Adhimokkha chánh thắng giải, sự Thắng Giải này như một vị quan tòa quyết định được cái đúng cái sai với cái trí hay với thân kiến tư kiến của họ nên quí Phật tử phải cẩn thận, mấy cái này nó khéo lắm.

---------------------------

Trang 189

Tâm Sở Thắng Giải (Adhimokkhacetasika) phối hợp được trong 110 Tâm, là 43 Tâm Dục Giới (trừ 10 Ngũ Song Thức, 1 Tâm Tương Ưng Hoài Nghi), 27 Tâm Đáo Đại, 40 Tâm Siêu Thế, gom thành 110 Tâm.  Bất phối hợp có được 11 Tâm, là 10 Tâm Ngũ Song Thức, 1 Tâm Tương Ưng Hoài Nghi, gom thành 11 Tâm.

-----------------------------

 Tâm Sở Thắng Giải đi với 110 Tâm, trừ Ngũ Song Thức và Hoài Nghi, pháp đó là pháp chính yếu, Hoài Nghi vô thì Thắng Giải sai trật liền.

Có 3 chi pháp : Tâm Sở Thắng Giải đi với 110 Tâm trừ Ngũ Song Thức, Ngũ Song Thức là Quả Dị Thục, nó vô tư nó máy móc nên nó không Thắng Giải được, còn Hoài Nghi vô là loạn xạ liền thì làm sao còn Thắng Giải  làm sao phán đoán được vì sống trong giao động lưỡng lự phân vân.

 Do đó xem chi pháp là mình hiểu, nên mình phải cẩn thận

Thắng Giải mà có hoài nghi là không xét đoán được, giống như ông quan tòa mà có hoài nghi thì không phán đoán được, thì mình cũng vậy.

Thì trước trường hợp đó, hành giả đang ngồi thiền nghe một tiếng động mà không phân biệt được thì lúc bấy giờ khi nghe được tiếng động là  đã có Nhất Thống Ekaggatā Định trong âm thanh đó, Định trong âm thanh đó mà hành giả không phân biệt được tiếng động đó là cái chi : chó sủa, người mở cửa, tiếng người đi, hay là tiếng tằng hắng, tiếng ho, tại vì mình đang định ở trong tiếng động đó thì lúc bấy giờ Thắng Giải của hành giả là Tuệ Minh Sát với Pháp chứ không đi qua Cảnh, hành giả chạy qua bên kia là rớt liền, Tuệ với Minh Sát, chứ không có gì hết. Khi mình không biết thì  không có, cái Tuệ mình lên đó là làm việc liền thì Thắng Giải Adhimokkha hữu dụng chứ không rớt.

Mấy cái đó chỉ có sát na định, thì nếu sát na định thì có một sát na tuệ, chứ hành giả qua một luồng tư tưởng hay một giòng tâm thức một lộ trình tâm, là không đi, một sát na định, một sát na tuệ bắt cảnh đối tượng là xong, chứ không đi qua phần Thắng Giải.

----------------------------------------------- 

Trang 190 . Đoạn thứ 2 :

Một trường hợp khác nữa, việc phối hợp Tâm Sở Biệt Cảnh đặc biệt chỉ các Tâm Sở Tầm, và Tâm Sở Tứ đã được trình bày đây, chủ ý lấy Tâm Siêu Thế của Bậc Thánh Nhân là Hạnh Vận Thiền Giả (Jhānalābhīpuggala) thôi. Nếu như các Bậc Thánh Nhân ấy là Lạc Quán (Sukhavipassaka) thì các Tâm Sở Tầm, Tâm Sở Tứ thường phối hợp được cả thảy.  Còn Tâm Sở Hỷ thường tùy thuộc Tâm Siêu Thế sinh khởi, đề cập rằng, nếu như Tâm Siêu Thế ấy sinh khởi cùng với Hỷ Thọ thì Tâm Sở Hỷ phối hợp được, nếu như Tâm Siêu Thế ấy sinh khởi cùng với Xả Thọ thì Tâm Sở Hỷ bất phối hợp.

------------------------------

Một trường hợp khác nữa, việc phối hợp Tâm Sở Biệt Cảnh biệt với các Tâm Sở Tầm và Tâm Sở Tứ là áp dụng cho Bậc Hạnh Vận Thiền Giả, đối với Bậc Thánh Nhân Lạc Quán (tức là Thiền Khô) là họ bắt Tuệ thôi chứ không bắt Cảnh, vì không đi qua phần Cảnh. Thiền Khô là bắt đối tượng, còn Thiền Chỉ là phải đi qua chi pháp chi thiền.

Bậc Thánh Nhân là Lạc Quán giống như Ngài Upatisa nghe Đ Đ Assaji nói thì Lạc Quán liền bắt tuệ liền.

Mấy cái này là cái key mà nếu mà mấy cô đọc thoáng qua thì không dùng.

"Nếu như các Bậc Thánh Nhân ấy là Lạc Quán (Sukhavipassaka) thì các Tâm Sở Tầm, Tâm Sở Tứ thường phối hợp được cả thảy.  Còn Tâm Sở Hỷ thường tùy thuộc Tâm Siêu Thế sinh khởi." Đó là người ta dùng.

-----------------------------------------------

 Trang 194

Tâm Sở Ngã Mạn (Mānacetasika) chỗ nói rằng phối hợp với 4 Tâm Bất Tương Ưng Kiến (Diṭṭhigatavippayuttacitta) thường phối hợp bất định, có nghĩa khi nào 4 Tâm Bất Tương Ưng Kiến sinh khởi một cách ngạo mạn, bài giá tử, đó là Ngạo Mạn (Ahaṃgāha: Bài Giá Tử) khi đó Tâm Sở Ngã Mạn phối hợp. Khi nào 4 Tâm Bất Tương Ưng Kiến sinh khởi mà không có sự ngạo mạn, là Ngạo Mạn (Ahaṃgāha: Bài Giá Tử) khi ấy Tâm Sở Ngã Mạn không có phối hợp.  Vì thế, Tâm Sở Ngã Mạn này mới thành Hữu Thời Tâm Sở (Kadācicetaskia).

----------------------------------------------

Ahaṃgāha (Bài Giá Tử)  = nghĩa tiếng Việt là hãnh diện, kiêu hãnh 

Nhất Thống Ekaggatā là Định đi trước và Thắng Giải Adhimokkha là giải quyết vấn đề đi sau. Ekaggatā là Định Adhimokkha là Minh Sát Tuệ.

Mình biết được Nhất Thống Ekaggatā  và Thắng Giải Adhimokkha là mình giỏi rồi, chứ còn không ta lấy Adhimokkha làm, ta xử lý tình huống nào cũng xử lý theo tập khí theo thói quen hàng ngày của mình. Còn Adhimokkha ta phán đoán phân tách ta suy ngẫm, nhưng với điều kiện là không có nghi vấn nào trong phán đoán, mà nếu như không quyết định được là không có phiền não gì trong khi phán đoán cảnh đó thì chỉ dùng Minh Sát Trí thôi 

Chẳng hạn, khi đang ngồi thiền mà nghe tiếng động mà không Adhimokkha tiếng động đó là gì thì hành giả chỉ biết Sanh và Diệt thì đó là Tâm của hành giả nằm trong Minh Sát Trí, chứ không phân vân. Còn tập khí là mở mắt ra nhìn và còn phóng đi. Dùng Minh Sát Trí bắt tướng, nếu đó là thực tính thì bắt tướng thôi là xong chứ đừng chạy thì việc tu tập của mình có kết quả, khéo là ở chỗ đó, nên gọi là Yonisomanasikāro như lý tác ý.

Nhất Thống Ekaggatā là an định cho Pháp Tương Ưng hiện hữu duy nhất trong một cảnh, còn Thắng Giải Adhimokkha là pháp đoán cảnh, còn mình không phán đoán được là vì hoài nghi sinh lên hay là trạng thái mình không xác thực được, thì mình Minh Sát Trí. Nếu làm được như thế sẽ cắt giảm nhiều nghiệp lực, còn không cứ tạo ra thì nghiệp lực nó theo, còn mình muốn tu thì phải giải nghiệp, mà nghiệp cứ tăng lên hoài thì khó giải thoát, lo trả, giống như mình muốn giải thoát mình không vay nợ mà bây giờ quí Phật tử vay nợ thì phải trả hoài.

Đức Phật Ngài không đẩy Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã mà Ngài tránh, thấy là tránh, Ngài dùng Minh Sát Trí là Ngài thấy cái này Vô Thường, lúc nãy không có bây giờ có, Ngài tránh chứ Ngài không đẩy cái lực của Ngài ra khỏi Vô Thường đẩy Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã để đừng tới với Ngài.

Thành ra nếu không Nhất Thống thì không Thắng Giải, mà Nhất Thống mà không có Minh Sát Trí thì Thắng Giải không chính xác là tập khí dẫn dắt.

Ngài Mingun nói là Tà Thắng Giải khi không phân biệt được Phật thiệt Phật giả, vàng thiệt vàng giả thì coi như mình lầm bao nhiêu giòng tâm thức của mình sinh ra.

Nên mình phải cẩn thận. Quí Phật tử không đọc, không dùng, không suy nghĩ tường tận thì Tuệ Văn mình quen, mình không suy nghĩ mình không có Tuệ Tư, mà Tuệ Tu mình phải trải nghiệm áp dụng thì mới có mà mình chưa đọc. Khi mình vô một thai bào khác sinh ra mình mù tịt luôn. 

Rồi bây giờ mình đi vô một thai bào mà người Mẹ có đức tin nơi Tam Bảo, biết nhân quả, có chánh kiến thì khi mình ra đời người Mẹ dẫn dắt mình đi. 

Còn nếu như mình vô trong thai bào mà người Mẹ không có chánh kiến, không có đức tin, không biết nhân quả, thì khi mình sinh ra mình đi theo nghiệp lực của mình.

Cái đó là cái khó, mà nghiệp lực đâu ? Là ngay lúc này gieo trồng con đường mình tạo ra.

Có 2 là : một là Câu Sanh Nghiệp, 2 là Thường Cận Y.  Nếu như người Mẹ có Tam Bảo thì có Câu Sanh Nghiệp, trong Câu Sanh Nghiệp có Thường Cận Y của mình đã gieo trồng thì mình mới gắn kết nhau được. Còn nếu như không có Câu Sanh Nghiệp với người Mẹ và Cha thì mình phải có Thường Cận Y của mình trong quá khứ mình có gieo trồng Phật Pháp với Chánh Kiến thì Thường Cận Y dắt mình đi. Còn nếu 2 cái không có thì mình như chiếc lá rơi xuống giòng nước trôi không có định hướng.

Hết sức là quan trọng, nên phải đọc, phải học, phải dùng thời giờ của mình hết rồi, không còn để mình trôi lăn nữa, bây giờ mình phải lo tu tập, mình có vốn chưa, mình có tư lương chưa, mình có chuẩn bị chưa, và mình có sẵn sàng chưa, trong trường hợp nào.

Đức Phật nói không đọc kinh sách làm rỉ sét kinh sách làm bụi bặm kinh sách, mình phải đọc, phải văn ôn võ luyện.

Nếu quí Phật tử không đọc kinh sách thì không biết khi thấy người làm ác mình không biết căn ngăn là mình đứt Balamat nếu có nguyện Balamat, mà Balamat đó  nhớ khi mình đứt giới mình xin giới được, mà đứt Balamat thì không còn Balamat nữa.

Kinh sách không phải để đọc suông.

Đường đi của các vị tu tập. Các vị tu tập có 3 là Chánh Đẳng Giác, Độc Giác, Thinh Văn. Mà trên đường đi của :

- Bậc Thinh Văn họ có hạnh nguyện Bồ Tát của Thinh Văn. 

- Độc Giác họ có hạnh nguyện của Bồ Tát của Độc Giác. 

- Chánh Đẳng Giác có hạnh nguyện của Bồ Tát Chánh Đẳng Giác.

Như vậy thì phải đi qua 2 giai đoạn :

Giai đoạn của Thinh Văn, Độc Giác, Chánh Đẳng Giác.

Giai đoạn của Bồ Tát 

Rồi Chứng Đắc.

Giai đoạn của người hạnh nguyện Thinh Văn, họ là Bồ Tát của Thinh Văn họ phải làm chức năng sự vụ gì khi họ làm xong nhiệm vụ Bồ Tát thì họ mới tới Chứng Đắc được.

Chẳng hạn Bồ Tát Sumedha muốn được Đức Phật  Dīpaṅkara thọ ký thì Ngài cũng đã được 3 Tăng Kỳ rồi thì Đức Phật mới nhìn vô thấy. Giai đoạn Bồ Tát lúc Ngài ở vị trí đó Ngài đã có bao nhiêu cái sự vụ đã làm của Balamat.

Cái đó mình không có nắm được 2 giai đoạn Bồ Tát và giai đoạn Chứng Đắc, mình không có Balamat khi mình là Bồ Tát.

Bây giờ đi vô chi tiết:

Thinh Văn thì Balamat Xả Thí thì phải làm cái gì lúc làm Bồ Tát, hay là trì giới hay ly dục hay trí tuệ hay trong 10 Balamat. Lúc này đang ở Bồ Tát, chưa Chứng Đắc.

Khi quí Phật tử nguyện Thinh Văn gặp Cảnh, gặp đối tượng mà đang ở trong hạnh nguyện Balamat của mình thì phải làm xong chức năng này, thì từ đó chỗ Bồ Tát tích tụ phước của họ, mà tích tụ phước này là phước vô lậu và phước hữu lậu chắc chắn là có sinh ra khi mình sinh lại làm người thì quả phước hữu lậu vẫn trổ sinh lên (mình không thắc mắc phước hữu lậu vì nó vẫn có) . 

Nhưng tới khi tích tụ phước vô lậu gặp chuyện xả thí, gặp chuyện trì giới, thì mình phải đúng ngay chức năng của mình ở trong vị trí mình đang là Bồ Tát của Thinh Văn, đang là Bồ Tát của Độc Giác, đang là Bồ Tát của Chánh Đẳng Giác. Mình làm không xong cái đó là không thành.

Tới khi tới phần Chứng Đắc. 

Đối với Thinh Văn tới phần Chứng Đắc chỉ 2 trường hợp có là: Một là sinh cùng thời với Bậc Đẳng Giác. Hai là thời Giáo Pháp còn. Họ mới thành tựu phước báu của Bồ Tát mà họ đang tu tập trong thời gian trước họ mới trổ sanh Chứng Đắc này.

Bất cứ một việc làm nào cũng vậy mình phải xong việc đó thì Balamat mới tròn, gọi là viên mãn, không được làm việc gì dang dở.

Chứng Đắc của hạng Thinh Văn chia làm 2 : Sinh ra thời có Đức Phật hay thời Giáo Pháp còn. 

Thì quí Phật tử đang ở thời Giáo Pháp còn. Thì mỗi sự sống của mình đây là mình phải sống với Balamat qua Giáo Pháp chỉ dẫn chứ không đi theo tư kiến của mình.

Thí dụ xả thí : 

Xả thí của Bậc Thinh Văn thông thường khác với xả thí của Bậc Đại Thinh Văn khác, Chí Thượng Thinh Văn khác. Thì khi quí Phật tử ở Bậc Thinh Văn thông thường xả thí thì phần ngoài cơ thể của mình như là tài sản, của cải mình có thể cho được thì cho. Mà mình làm cái này phải đúng theo Giáo Pháp, thì lúc bấy giờ khi mình hoàn thành tựu thì mình thành tựu ở trong chánh pháp chứ không phải thành tựu của tri kiến.

Như vậy thì khi mình làm xả thí trong Giáo Pháp chỉ dẫn cũng như có Đức Phật ngồi kế bên chỉ dẫn mình, thì xả thí này mình làm theo cái này là Thình Văn thì bắt đầu đi theo xả thí này.

Đầu tiên là Nhất Thống Ekaggatā với Giáo Pháp, Thắng Giải Adhimokkha với Giáo Pháp đó, rồi Ekaggatā với Balamat và Adhimokkha với Balamat của mình rồi hành động.

Mình làm cái gì đó mình có chặt chẽ chứ không làm theo tư kiến hay theo tập khí của mình nữa.

Xả Thí Thinh Văn : Bên ngoài sắc thân, chẳng hạn tài vật của cải, lời nói hay là văn tự hay là Kinh Sách, đó là xả thí bên ngoài. Các bậc xả thí Thinh Văn thì Giáo Pháp nói xả thí chỉ bên ngoài sắc thân thôi, không bận tâm phần bên trong cơ thể hay là sinh mạng của mình. Giáo Pháp nói vậy.

Tới phần thực hành theo Giáo Pháp hay thực hành theo Balamat 

Xả thí Thinh Văn theo Giáo Pháp dạy mà có Đức Phật Ngài cũng nói người mà xả thí Bậc Thinh Văn thì chỉ thực hiện theo bên ngoài sắc thân, không bận tâm phần bên trong của sắc thân hay sinh mạng của Bậc Chánh Đẳng Giác. Thì lúc bấy giờ mình thực hiện theo lời Phật dạy Giáo Pháp chỉ hay thực hiện theo xả thí Balamat.

 Mình là xả thí Thinh Văn theo Giáo Pháp dạy hay Phật chỉ bên ngoài sắc thân, thì khi mà thực hiện xả thí Balamat chứ còn Giáo Pháp thì mình để ngoài.

Khi mà xả thí Thinh Văn mà lại hành Balamat thì lúc bấy giờ muốn Chứng Đắc ngay khi đang làm xả thí Balamat này.

Có 2 loại chúng sinh : 

- Mượn chúng sinh làm đối tượng.

- Bản thân mình cũng là chúng sinh

Tất cả đều nằm trong Giải Cứu

Thiền sinh hỏi : Trong xả thí Balamat có Tiền, Hiện, Hậu. Thì trong Tiền khi mình làm một việc Balamat đó thì mình phải biết thí dụ như là xả thí thì mình phải biết thứ nhất là mình có khả năng để mà làm cái đó hay không tại vì cái đó là ngoài của mình thì thứ nhất là mình phải có điều kiện hay không, cái thứ 2 mình biết người nhận cái xả thí đó

HT trả lời : Giáo Pháp dạy xả thí Thinh Văn thường là bên ngoài sắc thân, nhưng trong lúc thực hành mình phải biết cái này là do mình có trải nghiệm

Trong khi hành xả thí Balamat thì muốn giải cứu bản thân mình là diệt trừ tham phóng khi Balamat thì mới giải cứu mình.

Xả thí Balamat = Tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí 

Tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí mình nhìn vô cái Tâm mình để mình hành xả Balamat. Rồi bây giờ mình nhìn qua đối tượng.

Kinh Hầu Vương Bổn Sinh Mahakapi Jataka, Ngài cứu ông Balamon mà Ngài không phân biệt ông Ba La Môn này tốt xấu, Ngài chỉ cứu thôi, từ dưới thung lũng sâu Ngài cõng ông Ba La Môn lên đến ngọn núi, rồi Ngài mệt nên nằm nghỉ thì ông Bà La Môn lấy cục đá đập bể đầu Ngài, thì Ngài đã xong việc giải cứu bản thân và giải cứu chúng sinh rồi. Đó là xả thí Balamat của Bậc Chánh Đẳng Giác.

Mình là Giải Cứu hàng Thinh Văn thì mình làm sao ?  Mình làm Đại Thiện Tương Ưng Trí cho xả thí Balamat. Đại Thiện Tương Ưng Trí soi xét chúng sinh mình đang xả thí Balamat của mình. Gặp chúng sinh đó là nghiệp chủ của mình, hay chúng sinh đó là pháp Balamat mình hành.

Mình lấy Đại Thiện Tương Ưng Trí, chúng sinh là nghiệp chủ của ta. Khi nó tớimình không biết nó là nghiệp chủ của mình hay là pháp Balamat của mình đang thực hiện nó đang đối diện cho mình thấy mình đang thực hiện, thì lúc bấy giờ giữa 2 cái mình chọn về nào mà  là Tương Ưng Trí lấy trí tuệ luôn rồi, lúc đó Trí Tuệ Balamat làm việc với Xả Thí Balamat.

Khi mình phân tách ra chi tiết, mình không biết là mình có Đại Thiện Tương Ưng Trí trong Xả Thí Balamat, làm tròn xong Balamat mình giải cứu bản thân và mượn chúng sinh này làm đối tượng để thực hiện giải cứu của mình. 

Rồi bắt đầu, khi mình biết được người đó không phải người tốt thì mình đi chứ không trở lại. Hầu Vương khi biết ông Balamon đập đầu mình làm máu chảy thì Hầu Vương không gần gủi nữa, Ngài bỏ xa ông Bà La Môn mà Ngài không bị đứt Balamat. 

Cho dù ngay cả bậc Chánh Đẳng  Giác cũng phải dùng trí.

Như vậy thì khi làm Balamat Giải Cứu ta cần có 2 cái : Ly Dục và Chú Nguyện Giải Thoát. Khi thực hành ta có Trí Tuệ trong Ly Tham và Giải Thoát.

Đức Phật khi Ngài còn là Bồ Tát, Ngài ra cổng thành Ngài thấy người già người bệnh người chết thì Ngài muốn Ly Dục, không còn ham muốn gì trong đời.

Khi quí Phật tử Giải Cứu là mình không mong cầu gì hết mà chỉ Ly Dục thôi. Hai nữa tôi muốn giải thoát khỏi cuộc đời này. Đó mới ý nghĩa là Giải Cứu Bản Thân mình, rồi lúc bấy giờ chính dùng Trí Tuệ Balamat này xả thí hành Balamat này để Giải Cứu Bản Thân mình với trạng thái này mình cũng có và dùng trí tuệ trong xả thí để Giải Cứu chúng sinh để thành tựu Balamat của mình cũng phải có.

Thứ 2 nữa khi Bồ Tát khi nguyện chỉ một lần thôi chứ không nguyện đi nguyện lại. Chẳng hạn nguyện Bồ Tát Thinh Văn thì nguyện một lần thôi, không lập đi lập lại. Và không phải mỗi lần làm lại nguyện.

Từ khi  hiểu được ý nghĩa chữ Giải Thoát, mình bắt đầu nguyện trong tâm hay nguyện ra lời, hay nguyện trước bàn thờ Phật thì quí Phật tử nguyện Thinh Văn Giác một lần thôi. Rồi từ đó làm cho tròn lời nguyện đó.  Và khi mình xong được Balamat đó rồi thì mình không có lập lại nữa, chứ đừng nói là chỉ lời nguyện không lập lại.

 Trong quyển Minh Sát Biên Niên Sử của Ngài Mingun, Ngài nói Bậc Bồ Tát thành tựu nhở Tứ Chánh Cần, nhờ Tinh Tấn. 

  "striving the striving" là tận tâm nỗ lực phấn đấu, không chờ đợi gì hết.

Vậy thì khi mình đang hành Balamat, ngay khi đang hành Balamat có đối tượng là bản thân của mình hay có đối tượng là chúng sanh thì mình đang sống với pháp này "striving the striving" là tận tâm và nỗ lực phấn đấu thì mới thành tựu.

Trong lời nguyện đó có chú nguyện, lập quyết tâm.

Hành Thiền Minh Sát Tuệ hay Hành Thiền Balamat ? Bất kỳ ngồi xuống, hay đang thiền hành, thiền tọa, thiền trụ, thiền ngọa, quí Phật tử đang hành thiền Minh Sát Tuệ hay đang hành thiền Balamat.

Thế thì khi quí Phật tử đang hành thiền Minh Sát Tuệ và theo dõi Thân, Thọ, Tâm Pháp của Thiền Tứ Niệm Xứ thì quí Phật tử đang hành đó cho chứng đắc của Thiền Minh Sát Tuệ hay đang dùng Thiền Minh Sát Tuệ này Giải Cứu bản thân mình để thành tựu Balamat cho con đường Giải Thoát. Hai cái đó khác nhau ./.


----------------------------------------------------------

Chú Thích

Ahaṃgāha (Bài Giá Tử)  = nghĩa tiếng Việt là hãnh diện, kiêu hãnh 

sukkhavipassaka: 'Can quán giả (Sukkhavipassaka) bậc thánh chứng ngộ khô khan, nghĩa là bậc đắc quả A-la-hán không có thiền, chỉ nhờ thuần thục tuệ minh sát.', là thuật ngữ chú giải dành cho người chưa đạt được bất kỳ trạng thái thiền định nào (jhāna, q.v.), chỉ chứng ngộ được nhờ sự hỗ trợ của tuệ giác (vipassanā, q.v.) một hoặc một số tầng thiền của những con đường siêu thế gian (s. ariyapuggala). Trong Visuddhi Magga - Thanh Tịnh Đạo XVIII, người này được gọi là Hành giả theo cỗ xe Thuần Quán - suddha-vipassanā-yānika, được phân biệt với người theo Chỉ Thừa Hành Giả' (samathayānika, q.v.). Mặc dù ý nghĩa chính của sukkha như dự định ở đây đã được nêu ở trên, các chú giải phụ (ví dụ D. Tīkā) cũng sử dụng nghĩa đen của sukkha, tức là 'khô': "Trí tuệ của ngài khô khan, thô ráp, không bị thấm ướt bởi hơi ẩm của thiền định tĩnh lặng. " Điều này biện minh cho việc thường xuyên diễn đạt thuật ngữ này bằng cách “có tầm nhìn khô khan” hoặc “có tuệ giác khô khan”, tuy nhiên, điều này không dẫn đến những quan niệm sai lầm về bản chất của thiền minh sát là “khô khan” hay “chỉ thuần túy trí tuệ”, trong khi trên thực tế sự phát triển tuệ giác sẽ tạo ra hỷ lạc (pīti) và cảm giác khẩn trương (saṃvega - lo âu) nơi hành giả. - (phần phụ lục.). 

(Trích trong Tự Điển Phật Học - Buddhist Dictionary -  Manual of Buddhist Terms and Doctrines, by NYANATILOKA MAHATHERA) Nguyễn Văn Hòa và Minh Hạnh dịch thuật


Thursday, November 20, 2025

075 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 23 tháng 9, 2023

                                                075 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 23 tháng 9, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 075 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Dāna: là bố thí, là phước hữu lậu, kiếp sau mình sinh lên hay tại kiếp này mình hưởng quả (pala) của phước hữu lậu, tức là có phước vật, nhưng có phiền não, là sợ người ta cướp, sợ người ta ăn cắp, sợ người ta tới giết mình. Dāna sống trong trạng thái của hữu lậu còn phiền não. 

Pariccāga: từ bỏ; từ bỏ; ban tặng; từ bỏ, hi sinh, là phước vô lậu, là phước giải thoát, mà phước vô lậu đó trổ ra trong đời sống hàng ngày là thoát khỏi những phiền não. 

Trên con đường muốn giải thoát có 2 con đường mình lên làm :

1. Muốn làm Dāna bố thí để mình hưởng lợi

2. Muốn làm Pariccāga để mình ra đi giải thoát.

Tất cả các vị Bồ Tát Bodhisatta, dù là Thinh Văn, hay là Độc Giác, hay là Chánh Đẳng Giác họ đang là Bodhisatta họ theo Pariccāga hơn là Dana.

Còn Phật tử người mà không có học thì họ thích làm Dana, họ không hiểu được Pariccāga. Nói theo danh từ ngoài thì Dana là phước Hiệp Thế, Pariccāga là phước Siêu Thế.

Mình làm những việc thiện với nguyện Pariccāga buông bỏ để giải thoát  không còn phiền não, nhưng phước Dana vẫn đi theo mình mà nó không làm phiền mình. Còn nếu mình làm thiện mà không có nguyện Pariccāga mà mình làm Dana thì đương nhiên Dana nó có phước nhưng nó sẽ làm phiền mình kéo theo nó, phải biết tác ý, mình không có vọng móng, nhưng nó theo ta như bóng với hình.

Các bậc Bodhisatta bậc Chánh Đẳng Giác thì Ngũ Đại Thí Pañca Pariccāga là các Ngài đi tới con đường Chánh Đẳng Giác. 

 Pariccāga gọi là Phóng Khí, là không để ý tới.

Dāna là Xả Thí.

Bồ Tát Sumedha là tiền thân của Đức Phật Gotama. Khi Bồ Tát Sumedha mở cửa kho chứa tài sản 7 đời của phụ thân Ngài để lại cho Ngài.  Ngài đứng phát ai xin gì Ngài cho cái đó, sau đó Ngài nghĩ ta ra đi mà còn đứng đây phát thì đó là còn ràng buột, Ngài mở cửa kho ai muốn lấy gì thì lấy và Ngài bỏ đi không để ý tới nữa. Đó gọi là Pariccāga.

 Dāna là bố thí có những nhỏ nhặt sẽ làm quí Phật tử phiền não, chẳng hạn như cá nhân tuyển thí chứ không tập thể thí, thí dụ như quí Phật tử ưa người đó thì cho, còn không ưa người đó thì không cho, đó là cá nhân tuyển thí , cho dù tới chùa lựa ông Sư của mình còn ông Sư khác không cúng thì đó cũng là Dāna chứ không phải là Pariccāga.  Còn khi phóng khí Pariccāga là Phật tử để cúng dường  ở bàn ai lấy thì lấy, chứ không có cá nhân tuyển thí.

Mỗi một pháp thiện của mình với tác ý gì, mình có niệm có kiểm soát không hay mình làm một cách máy móc theo thói quen của mình xưa nay không có chuẩn bị gì hết.

Mỗi vật thực mấy cô mang đến chùa, mỗi lễ vật mấy cô mang tới chùa hay mang tới cho người khác, làm như vậy thì mấy cô làm Dāna hay Pariccāga thì mấy cô phải có tác ý, chứ không phải làm máy móc hay làm không có trí tuệ.

 Mỗi một pháp thiện công đức nó cho mình con đường mình đi, mà con đường này mình đi mà mình không biết thì cái đó coi như là mất đi một phần năng lực, rồi quả trổ sinh ra mình lại mất đi một phần nữa.  Tại vì có khi mình không biết đón nhận, mình không biết nên mình không hoan hỉ đón nhận, có khi nó phản ứng ngược lại với quí Phật tử.

 Do đó, tai sao có những người nói tôi làm việc thiện phước hoài mà sao tôi phiền não hoài không được an vui.  Thấy người ta ít làm phước mà người ta lại được yên vui, còn mình sao bị phiền não hoài.  Những cái đó là do tác ý và trí tuệ của mình nó làm ra cho mình.

Nên mấy thiện công đức là của mình mà mình không làm chủ được mình trong những việc thiện công đức thì nghiệp chủ  Kammassakatā của mình trước kia do Vô Minh duyên Hành mình đã làm ra nó chụp mình.

Một đứa con mình sinh ra là cơm mới hay cơm cũ mình không biết. Rồi ngược lại mình làm con, mình đối với cha mẹ, cha mẹ là cơm mới hay là cơm cũ của mình. Đối với cha mẹ là cơm cũ của mình hay là mình đang làm cơm mới để mình hưởng, hay là mình đang đón nhận cơm cũ mà mình phải trả, mình không biết. Họ đứng vị trí làm con, mình đứng vị trí làm cha mẹ.

Mỗi người có : Cha mẹ có nghiệp cũ, con cái có nghiệp cũ, tương tác nhau mới gặp nhau. Nếu không tương tác với nhau, không kết hợp nhau thì không gặp nhau.

 Vậy thì khi mình hiểu được nghiệp cũ của nó, và khi mình tự biết được nghiệp cũ của mình, thì mình tạo ra nghiệp mới mình trở lại trong nghiệp cũ và mình nhìn ra nó không nhìn nghiệp cũ mà muốn nó trong nghiệp mới, thì mình phải có tác ý.

Thí dụ, mình sinh đứa con ra, cho nó đi học, từ tiểu học cho đến đại học, nhưng mình nhìn việc học của nó thì mình biết được nghiệp cũ của nó hay nghiệp mới của nó, nó học giỏi mình biết, nó học dở mình biết, đó là của cá nhân nó học. Còn khi nó ở trong nhà với mình, nó có hiếu nó nghe lời mình, nó bướng bỉnh cứng đầu hỗn hào bất cung kỉnh với mình đó là nghiệp cũ hay là nghiệp mới của mình mình biết.

Bây giờ nếu như mình muốn tương tác thì mình còn cộng nghiệp, còn không muốn tương tác mình rút lại thì không cộng nghiệp, thì ngày mơi, kiếp sau đường ai nấy đi, nó chỉ mượn kiếp này hay mình vay kiếp này, 2 người gặp nhau trong kiếp này, kiếp sau không gặp nhau.

 Con đối với cha mẹ cũng vậy.  Sariputta sinh ra trong gia đình Balamon, mẹ của Ngài là người cực đoan bà không muốn Ngài đi tu theo Đức Phật, gia đình Ngài có 7 anh em, Ngài là anh cả, em út là Revata,  Ngài độ đi tu hết, tất cả đều đắc Alahan.  Mẹ của Ngài không có niềm tin Tam Bảo và không tin vào phước báo nghiệp báo. Tới giờ chót ngày cuối cùng trước khi Ngài viên tịch, Ngài trở về căn nhà cũ của cha mẹ và Ngài viên tịch tại đó để Ngài độ cho mẹ của Ngài lúc đó chưa đắc quả thì Ngài phải đi rồi, tại vì tới cuối rồi. Từ khi Ngài biết được Đức Phật tới ngày cuối Ngài viên tịch là Ngài liên tục trở về nhà để cho mẹ Ngài để bát cho Ngài với 500 vị Tỳ Khưu đệ tử, Ngài tạo ra để mẹ Ngài làm việc thiện này, với thửa ruộng này là phước điền nhưng Ngài cũng không làm được, cho đến ngày cuối bà mới có một đức tin thôi thì Ngài viên tịch rồi. Ngài Xá Lợi Phất kiên trì và nhẫn nại.

 Nên Đức Phật nói Pháp nhẫn nại thì Sariputta là đệ nhất.

Thì một chuỗi dài của Sariputta để làm con đối với mẹ cha của mình, thì muốn làm như vậy thì Ngài bỏ nghiệp cũ của Ngài và tạo ra nghiệp mới, rồi nhìn lại nghiệp cũ của mẹ Ngài và tạo nghiệp mới cho Ngài.  Ngài bỏ nghiệp cũ của Ngài Ngài tạo nghiệp mới cho chính Ngài, rồi Ngài mới nhìn nghiệp cũ của mẹ của Ngài rồi Ngài mới tạo nghiệp mới cho mẹ Ngài.

Làm con cũng vậy, làm cha mẹ cũng vậy.

Như vậy thì trong đời sống hàng ngày nếu mình cứ sống trong nghiệp cũ của mình mà tương tác với gia đình mình với cha mẹ hay là con cái thì làm sao có nghiệp mới cho mình, cho con mình, cho gia đình mình ? 

Không có. Quí Phật tử đang sống trong nghiệp cũ thì làm sao nói là nghiệp mới được, tập khí mình còn, thói quen mình còn, tính nết mình còn, mình không sửa đổi thì mình đi qua với con mình, nó không chịu, cha mẹ cũng không chịu. Ngài Xá Lợi Phất hoàn toàn hết rồi, Ngài là Chí Thượng Thinh Văn, là đệ nhất cao tăng của Đức Phật mà Ngài cũng làm hết sức của Ngài. Nên quí Phật tử phải thấy rất là quan trọng.

Nghiệp cũ của mình là gì ?  

Nghiệp cũ có 2 loại :

1. Sống trong thói quen của phiền não 

2. Sống trong thói lập đi lập lại không chịu thay đổi

Sống theo thói quen của phiền não hay là sống theo thói quen của lập đi lập lại. Thí dụ bố thí trì giới sống lập đi lập lại không có thay đổi. Đó cũng là nghiệp cũ.

Hai nữa là quí Phật tử sống trong phiền não là tham sân si giận hờn hỉ nộ ái ố, sống trong đó một chuỗi dài như vậy, đó là nghiệp cũ của mình. Nghiệp cũ của mình là mình sống trong cái phiền não của mình hay là sống trong thói quen của mình.

Như mẹ Sư sáng thức dạy là làm một ly cà phê sữa đá để lên bàn thờ Phật để cúng dường Đức Phật, xong thì lên tụng kinh 1 tiếng rưỡi, tụng kinh xong thì mẹ Sư thỉnh ly cà phe sữa đá xuống dùng, rồi bắt đầu nấu cơm cho chồng con ăn, xong thì đi xả thí. Mẹ Sư cứ sống như vậy, không có cái gì là mới hết, chứ mẹ Sư không sống trong phiền não.

Còn mình đây, có người sống trong phiền não, không có gì thay đổi mới, có người sống trong tuổi già với nghiệp cũ của mình mà họ không hay. Nếu quí Phật tử sống trong trường hợp này thì cái gì là nghiệp mới của quí Phật tử ?

Nếu sống mà không có trong Pháp thì một là cô sống trong cái làm việc thiện lập đi lập lại.  Còn hơn nữa mà không có được pháp thiện lập đi lập lại hàng ngày mà mình có tạo ra do thói quen là sống trong phiền não lập đi lập lại, trong thói quen lập đi lập lại không có gì là mới, 100 năm sau gặp lại cũng vẵn như vậy không ra khỏi, và cái nghiệp đó nó lập đi lập lại cho tới kiếp sau, và cái nghiệp cũ của quá khứ nó lập đi lập lại và mình cứ hưởng cơm cũ này lập đi lập lại cho kiếp này mình sẽ đón nhận nữa, đó là may, còn không là rớt xuống nữa.

Rồi con mình sinh ra "sanh tử bất sanh tâm, sanh ngưu vô sanh giác" nghĩa là, con trâu sinh ra được cái thân chứ không sinh được cái sừng, sinh đứa con là sinh được thân của nó chứ không sinh được cái tâm của nó. Thì mình nhìn nó với một đứa con của nghiệp cũ hay đứa con mới của nghiệp mới, nếu sống mà không có trí và không có tác ý thì mình sẽ trôi lăn và nó cũng trôi lăn với kiếp sống của nó.

Nghiệp cũ của nó nếu như mình nhìn nó với nghiệp cũ của nó, khi mình vừa sinh nó ra thì mình nhìn nghiệp cũ của nó mình có biết không. Con mình sinh ra mình cùng với nó là nghiệp cũ.

 Giữa 2 lằn ranh cha mẹ và con cái. 

Con cái, những gì nó đang làm ra dù là cũ hay là mới, là cha mẹ mình phát nguyện không lập lại, chỉ tạo mới thôi thì mình mới có cái nghiệp mới được. Mình nhìn thấy nó là cái gương phản chiếu của cái nghiệp của mình thì mình mới tạo ra một cái nghiệp mới cho mình, chứ mình không có trách nó, thấy nó là mình giựt mình.  Nếu như mình biết nó có sự tương tác với mình trong cái nghiệp lực này mới kết nhau trong một gia đình.  Thì mình nhìn thấy nó những gì của nó, dù là cũ hay là mới, thì mình nói ta không lập lại cái này nữa, thì  mới có cơm mới.

Nếu mình không nhìn ra được thì chính mình ôm cái khổ của mình trong cái sự vô minh của mình mà mình không biết gì.

Trong thời hiện tại trong Thức này là Quả Dị Thục chứ không phải là Thức Đổng Lực.  Khi nhìn cái này (cha mẹ / con cái, nghiệp cũ nghiệp mới) thì là Thức Quả Dị Thục, mà khi nhìn thấy Quả Dị Thục này đang có chính mắt mình nhìn nó thì mình chỉ nhìn vô nó mà kết vô với thói quen của mình thì rớt vô trong Hiệp Thế.  Mà nhìn nghiệp cũ là Quả Dị Thục của mình thì mình chỉ nhìn đây chỉ là Danh Sắc thôi, thì bắt đầu mới thoát ly được.

Thức mình nhìn vô, đây là quả Dị Thục mà chỉ là Danh Sắc thôi.  Thì khi những cái gì nó đang là Danh Sắc hiện bày ra nó chỉ qua 6 cửa mắt, tai, mũi, miệng thôi.  Rồi nếu nhìn ra được cái đó chỉ là lục xúc (lục Xứ) thì nó chỉ là Xúc thì mới ra Thọ, chứ không nghiệp cũ hay nghiệp mới thì mới ra được.  Còn không là ôm nguyên một khối của nghiệp cũ, và ăn cơm cũ, chứ không có bữa nào là cơm mới, tại vì mình không có trí.

Xúc, Thọ, Ái, 3 cái đó là tâm sở (tứ đồng) nó là một cái khoen cột chúng sinh trong vòng thúc phược này.

Do đó, khi học qua Tứ Niệm Xứ ; Thân, Thọ Niệm Xứ mấy cô mới ra được 

để hình 55.32


 Liên Quan Tương Sinh                           Tứ Niệm Xứ 

  Danh / Sắc                          < -----        Thân Niệm Xứ

  Lục Xứ                              <-------

                                                              Thọ Niệm Xứ


Vậy là đang hành Tứ Niệm Xứ hay đang sống trong mãnh lực của Liên Quan Tương Sinh trong lúc mình đang hành thiền Vipassana mà không biết thì mình đang trong nghiệp ăn cơm cũ không có cơm mới.

Xúc, Thọ, bắt qua, chứ nó không nằm trong Thân Niệm Xứ nữa, nó đang là Thọ của Liên Quan Tương Sinh hay là Thọ mình đang niệm chỉ là Pháp, 2 cái đó là cũ và mới.

để hình 075 - 56.38


Vòng Liên Quan Tương Sinh nó làm cho mình rớt trong vòng luân hồi sinh tử, mà cái này đang ở trong hiện tại.  Thì khi Thức của mình biết được là quả dị thục, biết được ta đây chỉ là Danh và Sắc thôi, thì nếu nhìn với Thân Niệm Xứ là có niệm của cái mới, còn nếu không biết thì cái Danh Sắc mình đang niệm, đó là đang ở trong nghiệp cũ của mình đang hình thành và đang chi phối đang dẫn dắt đi.

 Vậy thì khi ngồi thiền mà thấy Danh Sắc này là thấy  Danh Sắc của Liên Quan Tương Sinh hay là Danh Sắc của Thân Niệm Xứ ?

Khi quí Phật tử ngồi thiền cái Thức của mình nhìn vô con người mình đang ngồi thiền là quả Dị Thục chứ chưa nói về Tâm Đổng Lực.  Thì với trạng thái đang hành thiền với Thân Niệm Xứ mình chỉ nhìn vô mình ngồi thiền đây chỉ là Danh Sắc thì mình sống trong Liên Quan Tương Sinh hay chỉ là trong Thân Niệm Xứ với Danh Sắc mà mình đang niệm. Danh Sắc của Liên Quan Tương Sinh hay Danh Sắc của cái niệm của Thân Niệm Xứ ?

Khi ngồi thiền mấy cô thấy đây là Danh Sắc của Thân Niệm Xứ hay cô thấy Danh Sắc của Liên Quan Tương Sinh ?

  Thiền sinh hỏi: khi mình hành Tứ Niệm Xứ thì về Danh Sắc này mình thấy rõ ràng là nó là cái nghiệp của quá khứ , nhờ Danh Sắc này mà khi mà mình thấy như vậy mình mới ra được con đường của Thân Niệm Xứ, tại vì nó là của nó chứ không phải là của mình.

HT trả lời : Đúng rồi, khi hành về Thân Niệm Xứ, nó qua Thọ, qua Tâm, qua Pháp, mình đang hành, mình nhìn về Danh Sắc, đó là tuệ đầu tiên, Tuệ Phân Biệt Danh Sắc, thì mình phân biệt tuệ Danh Sắc theo Thân Niệm Xứ của mình niệm thấy hay là mình thấy được lúc đang hành Thân Niệm Xứ thấy được Danh Sắc này của Liên Quan Tương Sinh của mình đang hiện bày của nghiệp cũ.

Tuệ Phân Biệt Danh Sắc Nāmarūpapariccheda ñāṇa tuệ thứ nhất của Tứ Niệm Xứ Satipatthana thì mình phân biệt được Danh và Sắc, đây là Danh, đây là Sắc của Liên Quan Tương Sinh hay Danh và Sắc của Thân Niệm Xứ ?

Anh Tâm Nhiệt nói khi vô ngồi mình niệm Thân Niệm Xứ đến một hồi sau Danh Sắc này nó đánh mình tơi tả mình chỉ thấy một chuỗi dài Liên Quan Tương Sinh thôi, chứ không thấy Pháp nào của Danh và Sắc của Niệm Xứ của mình hết. Thì mình thấy đúng không ?

 Nhưng đứng về trong Pháp Abhidhamma; Xúc, Thọ, Tưởng, thì Xúc, Thọ, Ái Dục chấp thủ, những pháp này toàn là tâm sở.  Thì đứng trong Tứ Niệm Xứ niệm Thân thì có Danh Sắc, mà trong Danh Sắc này Thân mình biết có Niệm Xứ, Thọ Thân có Niệm Xứ, Thân, Thọ, Tâm, Pháp, bắt đầu mình thấy Thân có Lục Xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.  

Còn trong Lục Xứ tiếp xúc ở đâu thì mình biết có xúc ở đó, sau cái Xúc thì ra Thọ thì bắt đầu, nếu mà có cái Thọ thì cái phần đang đi tới cái Thọ thì mình để Thọ Niệm Xứ làm, Thọ Niệm Xứ sẽ làm việc đó, chứ không phải chức năng Thân Niệm Xứ làm.

 Qua tới phần Ái Dục, Chấp Thủ, Nghiệp Hữu (Sinh Hữu), có Sinh, có Lão Tử.  Những giai đoạn này thuộc về Tâm Niệm Xứ.

Những giai đoạn từ Nghiệp Hữu nó qua Pháp Niệm Xứ 

Ái Dục nó của Liên Quan Tương Sinh là thuộc Tâm Niệm Xứ, Tâm biết, chứ Thọ không biết.

Chấp Thủ của Liên Quan Tương Sinh, Tâm biết chứ không phải Thọ biết.

Thọ chỉ có chức năng là cảm thọ, cảm giác, ghi nhận.

Ái, Chấp Thủ, Nghiệp Hữu, qua tới Pháp, ngoài chức năng của Tâm rồi, nó tạo tác ra nghiệp hữu nó ra sinh hữu, rồi Sinh Lão Tử, đó là Pháp bắt đầu nó theo Liên Quan Tương Sinh.

Lúc đó đi theo trình tự : Thân Niệm Xứ -->  Thọ Niệm Xứ -->Tâm Niệm Xứ -->  Pháp Niệm Xứ   là quí cô hành Niệm Xứ   Satipatthana   (tất cả trình tự này gọi là Nghiệp Mới)  

 Còn trình tự : Liên Quan Tương Sinh  --> Danh / Sắc  --> Lục Xứ -- > Xúc  --> Thọ (cũ) ---> Ái Dục ---> Chấp Thủ ---> Nghiệp Hữu (Sinh Hữu) --> Già / Lão Tử (là Nghiệp Cũ)     

 Như vậy thì khi biết được Danh / Sắc của Liên Quan Tương Sinh, biết được Danh / Sắc của Thân có Niệm, biết được đây chỉ là Danh Sắc trong Thân       

 Vậy thì khi  hành Thân Niệm Xứ    

Thân Niệm Xứ đi tới Thọ để biết tiếp Thọ hay là ở Thân Niệm Xứ  phải thấy được Thực Tính Thực Tướng, là nó có Nghiệp Cũ và Nghiệp Mới.

Thân Nghiệp Xứ mà đi tới Thọ, hay là trong Thân Niệm Xứ này thấy được Thực Tính Thực Tướng không cần tới Thọ là đã thấy được liền thì Nghiệp Cũ Nghiệp Mới.

- Thân Niệm Xứ này vượt qua khỏi Thực Tính Thực Tướng của nó rồi thì  xuống Thọ, thì bắt đầu là Thọ của Liên Quan Tương Sinh hay là Thọ Niệm Xứ. 

- Mà Thọ này đợi qua tới Tâm Niệm Xứ thì không có Nghiệp Cũ Nghiệp Mới, mà đang ở trong cái Nghiệp Cũ Nghiệp Mới.

Cha Mẹ là Thân Niệm Xứ, hay Cha Mẹ là Liên Quan Tương Sinh.

Con cái là Liên Quan Tương Sinh hay là Tứ Niệm Xứ, mình đổi. Nếu như con cái mình với nghiệp cũ là con cái của mình, với trạng thái Niệm Xứ mình nhìn thấy nó chỉ là Danh Sắc. Với cái Nghiệp của nó hiện bày ra nó mình nhìn thấy diễn tiến của nó theo Liên Quan Tương Sinh nó đang có của nó và mình niệm cái đó mình bắt đầu làm theo cái biết của mình thì mình đang có Nghiệp Mới và có cơm mới.

Quí Phật tử không có biết dùng cái đó, không có phát hiện được cái nào là cơm cũ cái nào là cơm mới của mình rồi tự mình làm khổ mình, ngay cả khi đang tu tập cũng tự mình làm khổ mình, rồi ngán vấn đề tu tập, nói tới tu tập có nhiều người sợ. Con cái cũng vậy, ngó tới con cái chúng chỉ làm khổ mình thôi chứ không thấy cái gì an vui cho mình là tại vì mình không biết cách nhìn, tại vì mình không có trí để giải quyết cho chính mình chứ không phải cho họ.

Ở đây, Tứ Niệm Xứ, ta cứ đi tuần tự, hết Thân Niệm Xứ rồi đến Thọ Niệm Xứ, đến Tâm Niệm Xứ, rồi đến Pháp Niệm Xứ.

Vòng Liên Quan Tương Sinh nó quay tròn trong vòng luân hồi, nó là Nghiệp Luân, Phiền Não Luân, rồi ra Dị Thục Quả Luân, 3 cái Luân này nó quay.  Thì khi thấy Danh Sắc này nó quay qua Lục Xứ, ta vừa biết Danh Sắc thì 6 căn ta tiếp xúc với 6 trần, bắt đầu ta biết nữa ta niệm tiếp nữa thì cái đó là Saṁsāra của vòng quay 

Còn khi tiếp xúc được Danh Sắc và khi Danh Sắc bắt đầu mở cửa nào trong Danh cũng được Sắc cũng được, trong 6 căn này nó mở cửa nào mình chỉ thấy là hồi nãy có Danh Sắc bây giờ có Lục Xứ đó là trạng thái của nó, còn không thì đi nữa, tại vì mình vuột.

Mình làm cái này hoàn toàn trong Liên Quan Tương Sinh chứ không trong sự tu tập bhavana.

Bhavana tu tập là phải có Tuệ Văn, Tuệ Tư, mới có Tuệ Tu, còn nếu không sẽ không có nghĩa lý gì cái bhavana.

Vậy thì phải chính mình đây ăn nghiệp cũ ăn nghiệp mới ăn cơm cũ ăn cơm mới đang sống trong nghiệp cũ đang sống nghiệp mới mà mình không biết, một ngày 24 giờ mình không biết mình sống trong nghiệp cũ hay sống trong nghiệp mới.

Một thiền sinh nói : Mình đang học Phật Pháp là mình đang ăn cơm mới. 

HT trả lời : đó là hình thức thô. Cơm mới là phải từ trong tri thức của mình, quí Phật tử ngồi nghe mà mất liền cái cũ thì đó là ăn cơm mới, nhưng ngồi nghe mà còn giữ lấy cái đó để rồi tuần sau cũng lập lại như vậy.

Sariputta là chàng thanh niên Upatisa sau khi nghe ĐĐ Assaji  nói chàng thanh niên Upatisa làm mới liền, và Ngài lập lại cái câu nói của ĐĐ Assaji  với người bạn Kolita Moggallàna thì người bạn này có cơm mới liền, Ngài lập lại cái của ĐĐ Assaji  hay là cái biết của bậc Thánh nhân Tu Đà Hườn nói cho Kolita nghe.

ĐĐ Assaji  nói thanh niên Upatisa nghe xong đắc quả Thất Lai, rồi thanh niên Upatisa tới nói cho Kolita Moggallàna nghe câu của ĐĐ Assaji  hay là của vị Thánh Thất Lai nói, rồi Kolita đắc quả Thất Lai là mới.

 Bây giờ quí Phật tử nghe rồi về kể cho con mình nghe. Quí Phật tử không thấy được cái mới, cái mới là không phải về lập lại, đứa con nói má chỉ là cái máy nghe thôi, con không thấy cái gì mới, nên đứa con không thay đổi. 

Nên mình phải bằng hành động con mình mới thấy lúc bấy giờ lời nói của mình mới có hiệu lực.

khi Upatisa tới nói với Kolita thì Kolita nhìn Upatisa không phải là người cũ mà Ngài đã thay đổi rồi thì Kolita mới lắng nghe, những cái lắng nghe đó Kolita mới nghiệm ra được cái mới của người mới chứ không phải cái cũ của người bạn cũ của mình. UpatisaKolita Chuyển Tộc (Gotrabhū)  từ phàm qua Thánh.

Cũng vậy, khi quí Phật tử nghe Pháp này (Tứ Niệm Xứ), khi hành Pháp này và nghiệm pháp này (Liên Quan Tương Sinh) thì phải là người mới để mà biết cái này chứ không phải là lập lại cái mà mình nghe này chỉ là trạng thái nghiệp cũ trùng lại thì mới có cái mới, phải Chuyển Tộc (Gotrabhū) mới ra cái mới

Vậy thì mình mới thấy Pháp mình học, sách mình đọc, những cái nghĩa lý Pháp nghĩa mình đọc rồi mà mình không có thay đổi, rồi mình ngồi xuống kể lại trùng tuyên lại đúng trong sách chưa chắc làm thay đổi người nghe

Hai người bạn  UpatisaKolita tới gặp Đức Phật thì 2 tuần lễ sau Kolita đắc Alahan sau đó 2 tuần tiếp Upatisa mới đắc quả Alahan, tức là Mục Kiền Liên đắc quả Alahan trước Ngài Xá Lợi Phật, mà Đức Phật nói Sariputta là đệ nhất trí tuệ còn Mục Kiền Liên là đệ nhất thần thông. Trí tuệ của Ngài Xá Lợi Phất chỉ dưới Đức Phật thôi.

Cùng nghe pháp Đức Phật mà Mục Kiền Liên đắc quả Alahan trước Ngài Xá Lợi Phật 2 tuần lễ sau mới đắc Alahan.

Chư Tăng đến hỏi Đức Phật tại sao Ngài Xá Lợi Phất là đệ nhất trí tuệ chí thượng thinh văn đại đệ tử của Đức Phật tại sao đắc Alahan trễ hơn DĐ Mục Kiền Liên chỉ là đệ nhất thần thông.

Thì Đức Phật Ngài trả lời : Không phải ngẫu nhiên mà là có nguyên nhân mà có pháp lý giải thích rõ ràng.

Đức Phật Ngài nói với một người đại trí tuệ với một người trí tuệ hoàn hảo người ta phải hoàn bị hết tất cả về trí tuệ của họ, họ không thể làm nhanh lẹ được, họ phải hoàn bị hết.

 Họ phải hoàn bị hết, thời gian để họ hoàn bị không kéo dài theo ý mình được, khi nào chín muồi thì nó tới. Như đi thi, trả lời bài thi theo cái học của mình hay là theo trí tuệ của mình theo thói quen của mình, theo cách xử của mình học trong trường lớp mà thầy giáo dậy là nó ra cái của quí Phật tử.

Thí dụ như mỗi lần Sư đi thi mẹ Sư nói không nạp bài trước, làm xong rồi phải đọc đi đọc lại, kiểm tra lại coi có sơ xót gì không, chắc rồi mớt đem đi nạp. Người mà ra sau chót hết không phải người đó là dở mà người ta hoàn bị người ta xem xét kỹ rồi mới đi nộp, mình đi ra trước không phải là mình giỏi hay là mình xuất xắc, có khi và có khi không phải.

 Ngài Mục Kiền Liên trên con đường Ngài tu, Ngài không nguyện là đệ nhất về Trí Tuệ, Ngài chỉ nguyện là đệ nhất về Thần Thông trong một thời Phật nào ra đời. Còn Ngài Xá Lợi Phất trong một kiếp Ngài nguyện Chánh Đẳng Chánh Giác mà bậc trí tuệ mà không thành tựu với cái xả thí của Ngài với con mắt của Ngài do vua trời Đế Thích thử rớt xuống Ngài vẫn làm trí tuệ Chí Thượng Thinh Văn và Ngài phải hoàn bị theo năng lượng tu tập của Ngài, và tới khi nào chín muồi nó thành tựu. chứ Ngài không nóng vội so đo với người.

Còn mình thì so đo sao người ta được mình không được, đó là tập khí kiết sử của mình chứ không phải Pháp, làm sao gột rửa cái Chuyển Tộc của mình được, sao qua được cái Dũ Tịnh (vodāna) của mình được, làm sao  qua được chuyển tộc (Gotrabhū) của mình được vì mình ở trong đó thì không ra được. Ngài cứ lọc rửa cho tới khi nào nó thành thì Ngài thành, chứ Ngài không vọng móng xác định ngày tháng.

Quí Phật tử trồng cây cần có thời gian để trồng mới ra được trái, nhưng thời gian của chính nó cho ra bông ra trái của nó, nhà nông chỉ biết theo tư kiến của mình.

Do đó Đức Phật Ngài trả lời Chư Tăng vì muốn hoàn bị với trí tuệ mà Ngài đã nguyện, do đó Ngài phải trau dồi cho đến khi nào thành tựu và hoàn bị chứ không có vọng móng, kỳ vọng hay là đặt một  nào trước hay sau, nhanh hay chậm, mà làm cho tới khi nào thành tựu thôi.

Vậy thì, trong đời sống hàng ngày quí Phật tử muốn có một có một cơm mới và  muốn tạo ra một nghiệp mới mình phải hoàn bị với pháp mới mà mình đang tu tập cho tới viên mãn chứ không phải nóng vội, mà từ từ nó ra.

Nghe một bài Pháp này về nói lại cho gia đình là không có nóng vội và phải thời cơ và đúng thời điểm thì mới có kết quả.

Trong Tạng Luật, vị Tỳ Khưu cáo tội một vị Tỳ Khưu khác, không phải là gặp đâu nói đó, mà phải đúng chỗ đúng thời, đúng điều kiện mới nói. 

Và ông Sư đi sám hối với Chư Tăng để nhập chúng lại sau khi bị cấm phòng để nhập chúng lại, thì ông Sư cũng phải đi lựa ông Sư nào hiểu biết mình chứ không lựa những Sư nào chống đối mình để xin nhập chúng. Nếu ông Sư lựa người chống đối mình để xin nhập chúng thì ổng không chịu không cho vì ông là người chống đối mình là chết rồi, thì phải lựa ông Sư biết mình hiểu mình thì ông Sư đó cho mình nhập chúng, đó là theo Tạng Luật. 

Do đó, người có trí họ phải biết khi mà mình hành thiền đắc hành thông là lẹ lắm, đâu có ai kiểm soát nhưng mình muốn trở thành người có trí sẽ có người kiểm soát mình vả người ta trắc nghiệm mình do đó mình phải hoàn bị thì người ta mới nhìn mình là người có trí, nếu mà sơ sót là không được.

Vậy thì mình biết cái nào là cái mới, cái nào là cái cũ, và mình sống trong cái cũ. Thứ hai nữa mình không có hoàn bị những cái gì cái mới của mình mình vội quá chưa chắc mình có cái mới hoàn bị. Phải kiên trì như Ngài Xá Lợi Phất thì mới trở thành bậc trí và có trí thật để mình xử dụng để có, chứ không phải do người ta đề cử.

Thì muốn có nghiệp mới phải làm cho hoàn mỹ và chính mình phải thay đổi của cái cũ của mình thì mình mới có cái nghiệp mới và từ đó đến làm cha đến con cái, rồi làm con cái với cha mẹ của mình phải có cái đó, chứ không thể nào nóng vội. Trong khoa học một người làm sai hai người cùng sửa 20 năm họ nuôi dưỡng trong tập khí này, mình phải có 20 năm nhẫn nại để sửa 20 năm sai lầm, chứ không phải một ngày một buổi là xong./.

--------------------------------------------------------------

pariccāga : (m.) giving up; abandonment; bestowal; renunciation. (m.) donation; charity. Pariccāga, (fr. pariccajati) 1. giving up, abandonment, sacrifice, renunciation A. I, 92 (āmisa° & dhamma° material & spiritual); Ps. II, 98; J. I, 12 (jīvita°); DhA.

pariccāga: (m.) từ bỏ; từ bỏ; ban tặng; từ bỏ. (m.) tặng phẩm; từ thiện. Pariccāga, (fr. pariccajati) 1. từ bỏ, từ bỏ, hy sinh, từ bỏ A. I, 92 (āmisa° & dhamma° vật chất & tinh thần); Ps. II, 98; J. I, 12 (jīvita°); DhA.

Chữ pariccāga = pari+ cāga; pari là trọn vẹn, cāga là lìa bỏ, bỏ đi. Chữ pariccāga theo nguyên ngữ là "buông bỏ trọn vẹn"