Monday, October 12, 2026

088 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 30 tháng 12, 2023

 088 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 30 tháng 12, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 088 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

NHỮNG PHÁP THOẠI CỦA ĐẠI TRƯỞNG LÃO 

IN THIS VERY LIFE

CHÍNH THỊ KỊM SINH

3. THẬP ĐỘI QUÂN ÁC MA

Trang 329 

Thiền định có thể được xem như một chiến tranh giữa những trạng thái tinh thần tịnh hảo và vô tịnh hảo. Về phía vô tịnh hảo là những lực lượng của các Pháp Phiền Não, còn được sở tri là "Thập Đội quân Ác Ma"' Trong Pali ngữ, Ác Ma có nghĩa là sát thủ.  Ông ấy là hóa thân của lực lượng sát tử phẩm hạnh cao thượng và cũng sát tử sự hiện sinh.  Những đội quân của Ông ấy đã sẵn sàng tấn công tất cả các hành giả, thậm chí chúng đã cố gắng áp phục Đức Phật vào đêm giác ngộ của Ngài

Trang 334

Thiền sinh nói: Khi mà nói tới 10 đội quân ma, thì có một câu Ngài nói: 

Câu 435

"Do ta sống như vậy, 

Đạt được thọ tối thượng, 

Tâm không cầu các dục,

 Khán kiến sự thuần khiết ở hữu tình."

Thiền sinh hỏi: Theo con nghĩ, do Ngài sống như vậy, do cái thọ có như vậy mà không có tầm cầu cái dục nào hết, thì lúc đó thấy chúng hữu tình, Ngài thấy với từ ái lúc đó, mới thấy thật sự với Từ Ái Ba La Mật chứ không có một chút xíu nào nghiên ngả trong ái luyến hay ô uế, chỉ là theo từ ái đó thì nhìn nó như vậy thì ra được cái Từ Ái đó.

HT trả lời: Phải rồi, đối với Đức Phật là bậc Chánh Đẳng Giác cái chữ Thiện Thệ (Sugata) của Ngài, Ngài nhìn chúng sinh lúc nào cũng vậy, thuần khiết trong sạch, Ngài không nhìn một khuyết điểm nào của họ.

Con người của mình, bị kiết sử của mình là mình nhìn khuyết điểm của người này hay của người khác, mình coi họ có trong sạch không. Còn đối với Ngài, Ngài nhìn chúng sinh lúc nào cũng thuần khiết trong sạch.

Nên hồi nãy Sư nói chữ "Thiện Thệ" là thân, ngữ, ý, đi tới con đường trong sạch của Ngài, chứ Ngài không có cái gì ô uế, bợn nhơ, nên Ngài mới có cái ân đức này. Cái ân đức này là do sở hành của Ngài.  Cũng như là Vô Thượng Sĩ (Anuttarapuruṣa), hai cái đó gần với nhau. Cái Thiện Thệ với Vô Thượng Sĩ là bậc tu sĩ này họ sống cuộc đời cao thượng, không có cái gì ô uế. Nhưng không được xưng là Vô Thượng Sư, cái chữ Vô Thượng Sư là tội lắm. Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai chỉ là Vô Thượng Sĩ, vị tu sĩ hay là bậc ẩn sĩ sống đời sống cao thượng thù thắng.  Thì sống đời sống cao thượng thù thắng đó của thân ngữ ý của Ngài thôi.

Thiện Thệ (Sugata): Nghĩa là khéo đi, khéo vượt qua. Ngài khéo nương theo Bát Chánh Đạo để đi đến đích đến tốt đẹp nhất là chấm dứt khổ đau (Niết Bàn). Ngài tự tại đi lại trong ba cõi để độ sinh mà không bị bất kỳ sợi dây ái dục hay ràng buộc nào làm vướng bận.

Vô Thượng Sĩ (Anuttarapuruṣa): Là bậc sĩ phu tối thượng, không ai hơn được. Về phương diện trí tuệ, đức hạnh, và sự tự tại tâm linh, Đức Phật là bậc cao quý nhất trong tất cả các hàng chúng sinh. Không có một ai ở thế gian hay xuất thế gian có thể vượt qua được Ngài. 

Sư dịch trong bộ Buddhavaṃsa Hệ Tộc Chư Phật thì Đức Phật Ngài nói, trước khi Ngài kể cho Ngài Xá Lợi Phất Hệ Tộc Chư Phật là hệ thống tông tộc của Chư Phật, nên chữ đó đề là Hệ Tộc. 

Nhưng ở Việt Nam thì Buddhavaṃsa dịch là Đại Phật Sử, không phải, Phật Sử lại khác.  

Nên từ ngữ vaṃsa họ đã không hiểu nghĩa chữ này. Mà vaṃsa nghĩa là Hệ Tộc, là Hệ Thống, Tông Tộc, Giòng Tộc, Gia Tộc.

 Có Hệ Thống, tức là từ trên xuống dưới,  Người trước có sao thì người sau mới có theo hệ thống từ ông bà rồi đến cha mẹ, rồi đến con cháu.  Một cái Hệ Thống chặt chẽ. 

Thí dụ: Khi mình nói, ông bà, rồi cha rồi mẹ, rồi cháu chắt, đó là Hệ Thống Gia Tộc.  

Thì các Ngài nói: Một người té vô trong vùng ô uế, họ thấy một hồ nước trong sạch sẽ mà họ không bước vô để tắm rửa cho mình sạch. Thì cũng như vậy, tức là cho dù chúng sanh thấy con đường bất tử, con đường giải thoát Niết-bàn là con đường bất tử mà họ không để ý, không đi, thì các Ngài đã đi, thì các Ngài là Vô Thượng Sĩ, chứ không phải là Vô Thượng Sư.

 Thí dụ như các quí Phật tử đang đi, Sư cũng đang đi, người ta thấy và người ta nói các vị tu sĩ đang đi trên con đường vô thượng, và cao thượng thù thắng.

Do đó, mình không hiểu cái ngã mạn của mình đề cao mình ngã mạn, mình xưng mình là vô thượng sư là nói lên cái kiến thức của mình.  Các vị tu sĩ, các vị ẩn sĩ, người ta đang đi trên đường cao thượng thù thắng vô thượng, như vậy thôi, chứ không có sư. Người ta đang đi, người ta đã đi. Rồi từ đó Ngài sống như vậy, Ngài được cái ân đức, cái đức hạnh Ngài có.

Khi mình đi vô học Phật Pháp rồi Sư mới nói: Khi vô giòng họ của Gotama rồi, là không có lá số nào giải thích được hết. Tại vì sao? Sở hành Cariya phẩm hạnh của người con của Gotama là Bát Chánh Đạo, chứ không phải thân, ngữ, ý của phàm phu tạo ra nghiệp báo. Nếu mà sống trong Bát Chánh Đạo thì không có lá số. Đức Phật Ngài cầm cái đầu của vị A La Hán tới gặp ông Bà La Môn, vì ông ta nói: "ta gõ 3 tiếng là ta biết được trú xứ của người đó đi", thì Ngài đem tới và nói: "này gõ đi", ông Bà La Môn gõ ba cái ông không biết, ông gõ ba cái nữa cũng không biết.  Đức Phật nói: "này Bà La Môn ngươi gõ hoài cũng không tìm ra đâu".

Vị Bà La Môn hỏi: Tại sao vậy?

Đức Phật trả lời: Là vì Alahan vô sanh, không ở trú xứ nào hết.

Ông gõ không ra, trong khi ông tuyên bố là ông gõ là ông biết trú xứ liền. Chỉ có người hiệp thế, cái người mà sống trong thân ngữ ý của hiệp thế thì ông gõ tìm được .

Do đó, Tuần trước Sư nói : "Cha ăn mặn con khát nước". Đó là mình cộng nghiệp với phàm phu thôi, khi mà mình đã Chuyển Tộc, như Ngài Aṅgulimāla nói: "Từ khi ta sinh ra trong giòng Thánh", thì Ngài không có nhìn về gia tộc của Ngài.

 Đức Phật Ngài đi về tới Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu), thì vua cha nói làm nhục giòng họ Sakya giòng tộc của Ngài.  Đức Phật nói: "Từ khi Như Lai vào giòng Phật."

Thì câu "cha ăn mặn con khát nước, con gái hưởng đức cha, con trai hưởng đức mẹ", cái đó là hiệp thế, giờ họ thoát, tử vi nó có sát xuất, nhưng nó không xác định được.

Đức Phật nói tất cả các con sông đều đổ về biển cả, vị của các con sông khác biệt, nhưng biển cả chỉ có một vị duy nhất là vị mặn. Tất cả chủng tộc vào trong giòng tộc của giáo đoàn, trong giáo hội của Như Lai đều có một chủng tộc, có một vị giải thoát thôi, không phân biệt Thủ Đà Na hay Bà La Môn, hay là Sát Đế Lỵ, hay nô lệ.

Thời Đức Phật có bốn giòng tộc, có bốn giai cấp; giai cấp giòng vua, giai cấp Bà-la-môn, giòng thương buôn, giòng thủ đà na, giòng nô lệ. Nhưng khi vô trong giáo đoàn của Đức Phật, giáo đoàn Tăng hay giáo đoàn Ni, đều là một, là đệ tử Đức Phật, có một vị duy nhất thôi, là vị Giải Thoát.

 Do đó, khi người ta nói tới đề tài đó, thí dụ người ta nói một đề tài nào đó mà thấy không nằm trong chánh pháp là mình hiểu họ dán nhãn kiến thức của họ ở đâu là mình biết liền.

Sư muốn nói quí Phật tử phải hiểu như vậy mới được, chứ còn không mình ù ù cạt cạt hoài bỏ công mình đi học.

Mai mốt bất cứ gặp người xuất gia hay là tại gia, người Phật tử hay là người tu, mình hỏi pháp danh, họ nói pháp danh là mình biết rồi, phải không?

Biên Niên Sử Chư Phật 01

Trang 205

Tam Minh

Sumittā (Diệu Hữu) là tiền thân của Yasodhara 

Trong khi Sumedha đang lập chí nguyện để chứng đắc Quả vị Phật, thì một thiếu nữ Bà La Môn tên là Sumittā (Diệu Hữu) đã đi đến tham gia vào những người đang tu tập trong sự hiện diện của Đức Phật.  Cô đã mang đến tám đóa sen tươi để tỏ lòng tôn kính với Đức Phật.  Khi cô đi vào giữa đám đông và ngay khi ấy đôi mắt của cô đã rớt vào Sumedha, thì cô đã bị mắc dính vào một tình yêu vĩ đại thật bất ngờ với Ngài.  Cho dù cô muốn cúng dường một ít lễ vật đến Ngài, nhưng cô chẳng có chi cả ngoài tám đóa sen tươi.  Thế rồi cô đã nói với Ngài: "Thưa Trưởng Lão Ẩn Sĩ, con xin cúng dường Ngài năm đóa sen tươi để Ngài có thể lấy chúng làm của riêng mình mà cúng dường đến Đức Phật.  Ba đóa sen tươi còn lại cho của riêng con để cúng dường đến Đức Phật".  Thế rồi cô đã trao năm đóa sen tươi đến Sumedha và đã bầy tỏ điều mong ước của mình khi nói rằng: "Thưa Trưởng Lão Ẩn Sĩ, trong suốt khoảng thời gian mà Ngài đang hoàn thành những Pháp Toàn Thiện cho Quả vị Phật, nguyện cho con có thể trở thành đối tác san sẻ với cuộc đời của Ngài".

Trang 207

Sumedha đã nhận lấy những đóa sen tươi từ người thiếu phụ trẻ Sumittā (Diệu Hữu) và ở giữa đám đông tụ tập, đã cúng dường những hoa nầy đến Đức Phật Nhiên Đăng đã đi về phía mình, và Ngài đã khấn nguyện cho việc chứng đắc bậc Hoàn Toàn Tự Giác Ngộ.  Quán sát cảnh tượng đã xẩy ra giữa Sumedha và Sumittā, Đức Phật đã tiên đoán ở giữa đám đông như sau: "Nầy Sumedha, người con gái Sumittā (Diệu Hữu) nầy sẽ là đối tác của con, giúp đỡ con bằng với hành động và sự nhiệt tình tương xứng để cho việc chứng đắc Quả vị Phật của con.  Cô sẽ làm cho con được hài lòng với từng mỗi nghĩ suy, lời nói và hành động của mình.  Cô sẽ khả ái ở trong ngoại hình, duyệt ý, ngọt ngào trong lời nói và khoái cảm trong tâm hồn.  Trong thời kỳ hiện hành của con khi là một vị Phật, trong kiếp sống cuối cùng của con, cô sẽ trở thành là một nữ đệ tử sẽ đón nhận hoàn toàn sự thừa kế tinh thần của con ở bậc Vô Sinh với những năng lực siêu nhiên ở mặt tâm linh (Lục Thắng Trí).

--------------------------------

Là Đức Phật Nhiên Đăng Ngài đã thọ ký cho Sumedha.

Thọ ký như vậy, mà Sumedha phải trải qua bốn A Tăng Kỳ asaṃkhyeya và một trăm ngàn đại kiếp.

 Khi được thọ ký thì Sumedha đã nguyện Đại Thinh Văn, chứ không Thường Độc Đại hay Thinh Văn thường.

Do đó, các quí Ngài là họ không có phải là ngẫu nhiên mà tất cả đều có một cái duyên tụ hội lại.  Ngài Sumedha khi Ngài nằm xuống dâng sắc thân này cho Đức Phật Nhiên Đăng Dīpankara và 400 ngàn vị Alahan đang đi về thành phố Rammavati, thì Ngài đâu có nghĩ tới Sumittā, nhưng khi Sumittā đi ra với 8 đóa sen tươi bà cũng không nghĩ tới Sumedha, nhưng cái duyên tụ hội lại.

Trong một đời quá khứ của Sumittā có nguyện là kiếp nào sinh lên bà sẽ là người bạn đối tác của Bồ Tát Chánh Đẳng Giác kiếp chót, phần này nằm trong Tiểu Bộ Kinh .  Do đó, khi kết hợp vô, thì bây giờ thời điểm mà Sumittā thành người bạn đối tác trong kiếp chót là thời điểm nào thì Đức Phật Nhiên Đăng Dīpankara thấy Sumedha sẽ trở thành Gotama thì Sumittā sẽ trở thành Yasodhara.

Sư muốn đi từng bước, tại vì mình đi con đường giải thoát Sư phải rào trước đón sau. 

Có đường đi của con của bậc giải thoát phải có giòng tộc đàng hoàng thì mới đi được. Thứ hai, mà con hay là của bậc giác ngộ giải thoát phải có gốc có Balamat thì mới bắt đầu đi được. Mà trước khi có Balamat đó phải có phát nguyện thì mới hành được, thì Sư đi từ từ từng bước.

Mấy cô thấy rõ con đường mình đi chưa, mình phải biết gốc mình có, rồi mình phải biết cái nào, mình phải biết phát nguyện. Mà cái đó các bậc tiền bối đi trước đã làm, mình lấy đó làm theo, không có gì khác hơn.

 Rồi mấy cô giựt mình thì mấy cô phải thấy thương cho chúng sinh, thì mình mới hiểu được tại sao có những bậc Chánh Đẳng Giác ra đời vì lòng bi mẫn đại từ đại bi mà độ chúng sinh là tại vì họ thấy như vậy.

Thấy tại sao mà Bồ Tát bậc Chánh Đẳng Giác thấy thương, lặn lội, tại vì nhìn thấy chúng sinh Ngài xúc động liền.  Đầu tiên nhất là gì? Ta là Phật đã thành,chúng sinh là Phật sẽ thành, biển trần khổ này ta phải vượt qua, Ngài sẽ cứu độ cho chúng sinh vượt qua.  Thì quí Phật tử phải hiểu được là bây giờ nếu như vậy mình có hệ tộc, mình có tài sản, có trình độ, thì mình mới thấy là mình độ chúng sinh, cứu chúng sinh, cứu thân bằng quyến thuộc, cứu họ hàng.

Mình thương dân tộc mình, thương đồng bào mình, thương cho đất nước mình. Mình chỉ nói dân tộc mình, đất nước mình thôi.

Vô trong từng mỗi bài, Mahavaṃsa (Đại Sử), Culavaṃsa Tiểu Sử), Angatavaṃsa (Vị Lai Sử) Buddhavaṃsa (Phật Sử), quí Phật tử sẽ thấy từng chi tiết của các Ngài đi qua thì phải giựt mình là công đức rất là thù thắng tuyệt đối, không có một cái khiếm khuyết gì.

Đức Phật Ngài nói mình té trong ổ ô uế mà có hồ nước trong sạch đó mà mình không biết tới mà rửa sự ô uế đó đi mà mình cứ giữ cái ô uế đó cho mình, vậy thì cái hồ đâu có dơ mà con người mình dơ thôi.

Do đó, thì khi mình nói Đạo không dơ chỉ có người mình làm dơ. Thứ hai nữa Đạo không mạt, chỉ có con người mình mạt. Đạo không có mạt pháp, chỉ có con người mình không bồi bổ trí thức.

Sư trở lại bài tuần trước.

Bữa trước Sư nói có bốn hạng người con.

1. Con mình sinh ra (tử tức) -----> đạo lý

2. Con mình đem về nuôi (dưỡng tử) -------> đạo lý gia phong lễ giáo của gia đình

3. Con của Chư Thiên (Thiên tử) ----------> đạo lý gọi là Thiên đạo

4. Con của thầy (Đệ tử - Phật tử).---------> đạo lý gọi là Phật đạo

Mỗi cái có đạo lý của nó, gia đình của mình có đạo lý, gia phong lễ giáo của mình. Từ cha mẹ ruột tới cha mẹ nuôi cũng vậy gia phong lễ giáo đạo lý của gia đình.  

Còn vị Thiên Chủ, thì người con của Thiên Chủ theo đạo lý của Thiên Chủ.  

Nếu như con của Phật, là đệ tử của người xuất gia, thì có đạo lý của vị đó, gọi là Phật đạo.

Chư Thiên có đạo lý là Thiên đạo.

Con của mình có đạo lý là gia phong lễ giáo.

Mà ở Phật đạo thì mình có Bát Chánh Đạo.

Thiên đạo thì có Tứ Vô Lượng Tâm.

Trong gia đạo có nhân, nghĩa, lễ, tín.

Thì khi thân, ngữ, ý, của mình đi theo con đường nào thì mình nuôi hạt giống đó, hay là mình đang sống trong đạo lý đó và mình trưởng dưỡng cái đó, mình sẽ có kết quả từ nơi đó. Nhân nào Quả nấy.

Sư hỏi: Trong bốn loại con, thì mấy cô có mấy hạng con trong người của mấy cô?

Nếu cô được sanh ra chỉ có cha mẹ ruột của mình thôi chứ không qua tay một người nào nuôi mình như là bảo mẫu.  Đức Phật Gotama có dưỡng mẫu.  Còn như các quí Phật tử ở đây, thì trong hai loại (1) và (2) thì có một hay cả hai luôn, vừa được sinh ra tại vì nuôi mình khó quá nên cha mẹ gửi qua dì, hay cô cậu chú bác nuôi dùm thì mình có hai là cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi. Còn nếu không có cha mẹ nuôi thì có cha mẹ ruột.

Bây giờ chỉ nói trong 2 vế (1) và (2). Thì mình ở trong vế nào?

Khi mình nói bốn hạng người con, mình phải coi lại tri kiến của mình hiểu thì mình mới xác định được hạt giống và con đường về sự sống của mình.  Nếu nói, giữa con nuôi và con ruột, ta chỉ là con nuôi của cha mẹ của ta thôi, sinh ra ta đi theo nghiệp chủ của mình chứ không theo nghiệp của cha mẹ.

Sự sinh ra đời của Siddhartha , con voi sáu ngà đi vào trong bụng mẹ, Hoàng Hậu Maya, bà 56 tuổi, không còn tính dục, hai vợ chồng Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Maya sống bát quan trường, Ngài đi vô tinh khiết, Ngài vẫn nói đây là mẹ ta, đây là cha ta, nhưng đó là giòng tộc của Sakya.

Cha mẹ của ta, họ Lê, họ Trần, họ Nguyễn, họ Trương v.v... quí Phật tử là con ruột, có cha mẹ sinh ra, rồi lớn lên bên cha mẹ ruột, 

- Tôi chưa từng có cơ may nào cha mẹ cho tôi cho ai hết, cha mẹ tôi nuôi tôi từ nhỏ tới lớn. 

Cái đó đúng, đó là chân ngôn, không có biện ngôn, lời nói đó không sai.   

Nhưng, nếu nói cái đó, thì mình có đi theo cái nghiệp đó không?

Do đó, giữa ruột và nuôi, là quí Phật tử biết không? Quí Phật tử khó để mà nhận định lắm.  Nếu mình nói thật, mình sống như vậy từ khi cha mẹ sinh ra, tới khi mình lớn lên trong vòng tay của cha mẹ, đó là mình nói thiệt, rồi mình đi theo nó, và từ đó mình đi theo con đường đó, không đi ra được. 

Tới khi quí Phật tử vô trong đường xuất gia, quy y Thầy, ở trong nhà chùa với ngôi Tam Bảo, luôn giữ chánh pháp, quí Phật tử thuộc dạng con nuôi.

 Ngài Sariputta tên là Upatissa, nhưng vô giòng xuất gia làm đệ tử Đức Phật, là Chí Thượng Thinh Văn đại trí tuệ, nhưng người ta gọi Ngài là con bà Sārī, bà  Sārī là mẹ ruột của Ngài, và chính bà Sārī khi bỏ bát cho Ngài, bà nói: "Ông ăn đi, ông thọ bát đi, rồi ông đi theo ông Cồ Đàm, ông bỏ tôi",  dằn vặt Ngài, Ngài không cãi bà Sārī, và đi đâu ai cũng kêu Ngài là con bà Sārī.

Ngài Mingun, tên của Ngài là Vicittasārā chứ không phải là Mingun. Mingun là tên làng nơi Ngài được sinh ra.  Ngài Mahasi tên là Sobhana, Ngài xuất gia Thầy đặt tên cho Ngài là Sobhana là Tịnh Hảo, và đặt Ngài nick name là  Mahasi tại vì buổi sáng Ngài đánh trống đánh thức hội chúng thức dậy ngồi thiền, nên Ngài được đặt tên là Mahasi. Ngài Webu sinh tại làng Webu. 

 Dần dần khi mà mình học tới trạng thái mình hiểu được Phật Pháp thì mình mới thấy rằng con ruột con nuôi kết gắng con người mình một cách không thể hiểu nổi.  Con Thiên tử và Phật tử mình chỉ nhấp nhóe nhớ tới nhớ lui. có khi nghĩ tới có khi không nghĩ, chứ không sống chết với mình.

Trên đường từ nhà đến chùa gặp ai cũng vậy, ít khi nào mình dám nói mình là người Phật tử, trừ khi mình đến chùa gặp hội chúng đó là hội chúng Phật tử của Phật giáo thì mình mới nói mình là Phật tử. Còn như đến nhà cậu hay nhà dì, nhà bác, nhà anh em, nhà bạn bè, mình không nói. Rồi khi mình đụng vô mình sẽ nói "tôi có cha có mẹ, tôi là con của cha mẹ tôi, tôi được sinh ra cha mẹ nuôi nấng tôi". 

Mình nói mình là Phật tử là khi nào đụng vô kiến thức hay là giới luật. Chẳng hạn như trong bữa tiệc mình tới dự người ta có rượu, mình dừng lại không uống, thì lúc đó người cha ruột của mình, người mẹ ruột của mình trong bữa tiệc đó thì mình đứng ở đâu? Thì lúc đó mình là con của Phật chứ không phải con của cha mẹ.

Một bữa tiệc thật sự, cha mẹ mình thiết đãi, chẳng hạn như ngày cưới của em trai mình hay em gái, chị gái của mình đãi tiệc, rồi trong đó có những cái mà nó khác với giới luật, mà mình là con của Phật, hay lúc đó con của cha mẹ, thì mình đứng ở góc độ nào?

 Khi người ta hỏi giữa ruột và nuôi, bạn đứng ở về nào?

Tui là con của cha mẹ tôi, không có ai khác nuôi tôi, nhưng đứng trong sinh hoạt mà có chút nào của Phật, có chút nào về tôn giáo thì mình đổi lòng liền.  Nếu không đổi lòng thì mình trái với con người mình.  Vậy thì cha mẹ mình nuôi mình bao nhiêu thời gian.  Mẹ của Ngài Sariputta để bát cho Ngài mà còn nói "Ông ăn đi, ông thọ bát đi, rồi ông đi theo ông Cồ Đàm, ông bỏ tôi." Mà Ngài vẫn đi theo Đức Phật.

Chính cái đó quí Phật tử phải suy nghĩ lại.  Chỉ có con đường giải thoát, thì đúng như lời Phật dạy mình đã học được, hay là mình sống ở đây (chùa, hay hội chúng Phật Pháp) là mình nói giải thoát, khi về  gia đình với cha mẹ thì mình nói là con của cha mẹ mình, thì mình không giải thoát, mình sống theo thân ngữ ý của cha mẹ mình.

 Sariputta, người mẹ bỏ bát cho Ngài trước 500 đệ tử của Ngài, bà nói: "Ông ăn đi, ông thọ bát đi, rồi ông đi theo ông Cồ Đàm, ông bỏ tôi", mà Ngài vẫn đi, mà tên của Ngài là Sariputta con bà Sārī, chứ Ngài không đổi tên, mà Đức Phật cũng không đặt pháp danh. Sống với cái nickname của mình, nhưng Ngài hành động theo con Phật.

Do đó, khi mình học tới phần bốn đứa con bốn hạng người con này, mình sẽ có sự trăn trở và sự ưu tư làm sao cho vun tròn vừa là con của cha mẹ mà cũng là đệ tử của Đức Phật một cách vun tròn chọn nghĩa.  Quí Phật tử sống với lương tâm với trí tuệ hiểu biết.

Đức Phật Ngài nói trong Tăng Chi Bộ Kinh, chữ hiếu của người con đối với cha mẹ, cõng vai phải là người mẹ, cõng vai trái là người cha, đi khắp cả thế gian này, cho ăn uống, tiểu tiện, đại tiện trên thân người cũng chưa báo hiếu được cha mẹ. Cách báo hiếu hiện thực và triệt để nhất, thành tựu nhất mà thù thắng nhất là đưa cha mẹ vào trong Tam Bảo, quy y Tam Bảo, sống trong giới hạnh, giới luật của người Phật tử. Đó là chữ hiếu.

Thế thì mình hướng dẫn cha mẹ ruột của mình trở về làm con Phật trong khi mình là con Phật mình mới làm được, và mình nhìn thấy là cha mẹ sinh ra mình chỉ là mượn cửa mà thôi, nếu quí Phật tử muốn đi theo con đường mình đã hứa nguyện, từ a tăng kỳ này tới a tăng kỳ kia. Ngài sống nửa kiếp là Ngài ra đi, Ngài không sống trọn một kiếp người nào, giòng cảnh vua, giòng cảnh Bà La Môn, giòng cảnh thương buôn, có gia đình hay không gia đình, nửa kiếp là Ngài ra đi, ẩn sĩ, vô trong rừng.

Tại sao Đức Phật nói: "Cửu huyền thất tổ". Mình chỉ nghĩ cho cha mẹ mình đây thôi, mình đâu có nghĩ cha mẹ trong quá khứ, mình chưa đủ chưa tròn. Mà tại sao mình biết cái đó, tại vì mình là con của Phật mình mới hiểu được  "Cửu Huyền Thất Tổ" này. Còn nếu như mình không phải là con Đức Phật mình không biết "Cửu Huyền Thất Tổ" này. Cha mẹ này chỉ là một kiếp, nhưng con của Phật kiếp nào sinh ra mình cũng là con của Phật, thì con đường đó chỉ có một, không có thay đổi.

Sumedha được Đức Phật Nhiên Đăng Dīpankara thọ ký suốt bốn A Tăng Kỳ asaṃkhyeya và một trăm ngàn đại kiếp cũng là con Phật.  Ngay tới Siddhartha con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và Hoàng Hậu Maya cũng là con của Phật. Và quí Phật tử nhìn được điều đó thì mình mới trở lại nhìn cha mẹ ruột mình sinh mình ra mới có giá trị thực sự chữ hiếu mình trọn vẹn đứng trên góc độ của người con Phật, thì mới đúng chữ hiếu cha mẹ ruột sinh mình ra, còn không thì đứng trật hết.

Nếu quí Phật tử không đứng là con của Phật thì chữ hiếu của quí Phật tử đối với cha mẹ của mình trong cửu huyền không đúng, không tròn.

 Bà Sārī, mẹ của Sariputta để bát Ngài mà bà hằn học giận dữ, Ngài đâu có bỏ, tới cuối cuộc đời Ngài xin về ở với người chồng của mẹ Ngài để độ ông. mà Ngài làm với góc độ nào? Bà mẹ nói:  Ông Đại Phạm Thiên này là Thượng Đế của ta, là vị Thiên Chủ của ta, ta tôn kính tôn thờ mà sao xuống đảnh lễ con ta. Thì Ngài Xá Lợi Phất đứng ở vị trí là con của Phật, thì Ngài mới nói được, Ngài mới nói người mẹ nuôi mẹ sinh mình ra được. Ngài đứng vị trí con của Phật mới nói người sinh mình ra được. Còn nếu đứng trong vị trí con của mẹ mình sinh ra mình, mình nói cha mẹ sẽ  không nghe, cha mẹ sẽ nói mày là con tao mà dạy cả tao sao.

Khi quí Phật tử là con của cha mẹ ruột, thì không có phương độ được, con của Phật mới độ được cha mẹ ruột mình. 

 "Nhất nhân hành, đạo cửu huyền thăng" - Một người tu hành đắc đạo, thì chín đời dòng họ (tổ tiên, ông bà, cha mẹ) đều được siêu thoát, thăng tiến lên cõi lành.

 Nếu đứng ở vị trí con ruột của cha mẹ mà không độ cha mẹ là không có đường, áo mặc không qua khỏi đầu

Mà không phải là mình hỗn, hay là cãi lại, nhưng có tâm nguyện đó thì mới đi đúng con đường để mà độ cha mẹ mình, nhất là cha mẹ mình không biết đọc, cái đó là trả hiếu thiết thật.  Ngài Xá Lợi Phất, Ngài là gương bằng đại trí tuệ, Ngài dùng trí tuệ chí thượng thinh văn của Ngài, Ngài chỉ độ cho mẹ của Ngài thôi, mà cái đó là cái nghiệp của mẹ Ngài nặng lắm, mà do cái đức của Ngài, chí thượng thinh văn này, Ngài báo hiếu, Ngài trả hiếu, trả cái ơn sinh ra mình là Ngài phải độ mẹ Ngài.

Là con của cha mẹ mình, mình độ cha mẹ mình để trả hiếu cha mẹ mình, nếu mà cô đứng vị trí là con của cha mẹ mình, thì khó có thể nói mà cha mẹ nghe mình.

Đức Phật Ngài cũng vậy, nếu Ngài ở trong hoàng cung, Ngài xin với vua cha ba điều; đừng già, đừng bệnh, đừng chết, tại vì Ngài biết được cha Ngài không thấy được ba con đường đó. Nếu Ngài ở lại hoàng cung thì cũng sẽ giống cha mẹ Ngài không thấy được ba con đường đó.

Trong bốn hạng người con, quí Phật tử là con của Phật đứng vị trí đó mới độ được cha mẹ ruột của mình.

 Nếu quí Phật tử hiểu được mình là con của Phật thì mình hành theo con đường của Phật, thì mình mới có năng lực để độ cha mẹ ruột của mình, đó là mình trả hiếu, bằng cái gì? Phật đi đường nào ta đi đường đó, ta mới có năng lực đó, ta mới độ được cha mẹ ruột của ta bằng con đường Pāramī  (Ba-la-mật)  .

Cha mẹ mình không biết con đường Pāramī  (Ba-la-mật), và tu như thế nào để được thành tựu con đường Pāramī  (Ba-la-mật).  Nhờ mình là con Phật nên mình mới biết.

Nếu không xác định được mình ở góc nào, gốc gác mình ở đâu thì mình không biết khai thác để mà độ cha mẹ.

Nếu nói kiến thức thì cha mẹ sẽ lấy kiến thức của cha mẹ mình nói mình thì mình sẽ thua.

Còn nói kiến thức của bậc Chư Thiên mà mình là con không nói lại được Chư Thiên.

 Chỉ có con của Phật hay là người Phật tử mới nói mới trình bày được mà rất có hiệu quả và có kết quả một cách rõ ràng.  Nếu vậy thì quí Phật tử phải mau mau trau dồi vị trí của mình là người Phật tử đúng thì mới làm bốn đứa con này.

Tôi là con Phật và tôi sẽ độ sẽ cứu được cha mẹ, đó là tâm nguyện, đó là đường đi của Phật đi, và Phật đi bởi con đường đó Ngài mới độ được cha mẹ của Ngài.

Tới Hạ thứ bảy Ngài quán xét về quá khứ và vị lai, họ đã làm gì, các vị Chư Phật quá khứ vị lai họ đã làm gì, thì Ngài nói tới Hạ thứ bảy, Ngài có 45 Hạ, mỗi năm Ngài vô mùa An Cư, thì cái Hạ thứ bảy này truyền thống Chư Phật quá khứ cũng như vị lai đi lên độ mẹ, mẹ ở trên cung trời Đao Lợi, Ngài đi lên trên đó thuyết giảng để độ mẹ.

 Mà làm sao Ngài độ được?  Ngài phải thành tựu Pāramī  (Ba-la-mật)  của Ngài.  Pháp Pāramī  (Ba-la-mật)  là pháp độ, thì Ngài mới độ được mẹ cha của Ngài. Ngài mới đổi được nghiệp báo của cha mẹ Ngài. 

Còn 7 ngày nữa là vua Tịnh Phạn mất, Ngài cách xa 60 do tuần, rất xa nên Ngài phải vận dụng thần thông cùng Chư Tăng về để độ vua cha, liên tục 7 ngày, không bỏ ngày nào Ngài ở bên cha để nói pháp và cha Ngài đắc A La Hán.  Nếu như hồi xưa mà Ngài không ra khỏi hoàng cung đi truyền đạo, Ngài không đắc đạo thành Phật thì Ngài ở trong hoàng cung thấy cha mình mất rồi khóc thì thua.

Quí Phật tử có phước, có phước hơn nữa là được chánh pháp, làm con Phật chính gốc từ trên xuống không có sai trật.  Thì quí Phật tử mới quay trở lại làm giống như Đức Phật quay trở lại tìm lại gốc giòng tộc của mình, giòng giống của mình, mình mới làm được.

Vậy thì, hai về (1) và (2) con ruột và con nuôi là con đường mình đi qua.  Còn Thiên tử và Phật tử là con đường mình phải có. Mình phải tự trang bị cho mình kiến thức chắc và chính xác, vì chính mình mới cứu mình được.

Kinh sách nếu như quí Phật tử không dùng không trang bị cho kiến thức của mình cho chính xác, thì kinh sách hay con đường tu tập của mình không có kết quả không được viên mãn, ai cũng vậy.

Do đó, khi quí Phật tử học với Sư là Sư động não quí Phật tử, chứ không nói suông suông được.

 Mà những cái đó quí Phật tử không nghĩ ra, không bao giờ nghĩ nó là bài học.  Nếu quí Phật tử nói là con ruột thì là trong kiếp này.  Nếu nói là Phật tử thì từ vô lượng kiếp, kiếp nào cũng là con Phật.  Còn nếu mà kiếp này là ruột thì chỉ là kiếp này thôi, kiếp sau khác nữa rồi.  Thì khi đó quí Phật tử đánh mất cái câu con ruột con Phật thì bao nhiêu Pāramī  (Ba-la-mật)  của quí Phật tử mất.

Sumedha từ khi gặp Đức Phật Nhiên Đăng Dīpankara cho tới khi thành Gotama chỉ có một Phật thôi, không thay đổi, và không biến mất, đi kiếp nào cũng chỉ một vị Phật và Bồ Tát.  Thì quí Phật tử giữ được cầu mối đó, giữ được kết nối đó liên tục và không gián đoạn và không bị đứt.  Còn nếu con ruột này con ruột kia thì bị đứt từng khúc mà không kết nối được, không biết đường đâu mà kết nữa.  Không ai nói cho mình thì mình phải thấy là mình mất gốc. 

 Nên chữ "Saraṇaṃ" Đức Phật nói "quay trở về " tại vì mình đi lạc, bị trôi lăn bao nhiêu kiếp rồi.  Mình là con của họ Nguyễn, họ Trần v.v... chứ mình không phải con Phật.

Mỗi một kiếp mình thay đổi, kiếp sau mình biết mình ở đâu không?  Nhưng nếu quí Phật tử biết trong khi kiếp này mình là con của Phật thì  kiếp sau mình cũng mình là con của Phật.

Như vậy thì khi mình trở về nhà cha mẹ nói hay là mình hiểu đường đi của mình và mình biết cách để độ cha mẹ, cái đó mình mới có giá trị.  Nếu mình không làm cái đó thì chữ "Hiếu" mình không có, mà mình đang sống với chữ "Bất Hiếu".  Cô nghe lời cha mẹ là cô đang bất hiếu, vì cô không độ được cha mẹ khi cha mẹ đang đi sai.  Cái đó là mình có tội.  Ở trong đó Pāramī  (Ba-la-mật)  của mình hay Bát Chánh Đạo của mình đi không chắc.

Bài học đó cho mình thấy, một bài học đơn giản; bốn hạng người con,  Mình học không xong, mình không vững chắc cái này.

Thì khi Đức Phật Nhiên Đăng Dīpankara  tới thì Ngài mới nhìn vô Sumedha nằm xuống thì Đức Phật Ngài nói "Vị này đã là con của Tam Bảo" .  Mà ngay khi đó Ngài đã thông thạo Ba bộ Vệ Đà (Tam Vệ Đà) Ngài là thầy của Mantra các câu thần chú của Ấn Độ cổ đại.  Nhưng mà Đức Phật Nhiên Đăng Dīpankara đã thọ ký sẽ trở thành Phật bốn a tăng kỳ nữa.

Thí dụ như, tới thời kỳ Phật Nhiên Đăng Dīpankara  từ đây cho tới 5 ngàn năm mà quí Phật tử chưa đắc đạo quả của con Đức Phật Gotama thì quí Phật tử có cơ hội gặp Đức Phật Di Lặc Maitreya, mình không rớt vô thời gian của Paccekabuddha Độc Giác Phật, thì gặp Phật Di Lặc Maitreya Ngài tới Ngài nhìn vô Ngài nói các vị này đã từng học Phật Pháp từng là con của Đức Phật Gotama thời giáo pháp của Gotama.

Quí Phật tử thấy giật mình chưa, không ai cho biết, không ai nói gì hết, mình không có Hệ Tộc, không có Giòng Tộc, không có Tông Chi Hệ Phái, mà không ai cho mình biết, mà mình cũng không biết, cứ đi hoài hết kiếp này, rồi mình thấy thương cho cha mẹ mình, cha mẹ của mình có hiểu là cha mẹ là con của Phật hay cha mẹ hiểu là cha mẹ là con của ông bà nội ngoại của mình.  Tới ngày nhắm mắt nghĩ là ba má đi theo ông bà.  Vì không ai nói không ai chỉ.  Nhưng hôm nay do hữu duyên nên Sư được nói, được nhắc nhở quí Phật tử.

Người ta nói bốn hạng người con này bạn là người con nào ? 

Trả lời là: Tôi là con Phật, cha mẹ ruột của tôi, cha mẹ nuôi của tôi đều là con của Phật hết, một mối, một gốc thôi.  Ruột hay nuôi cũng là con Phật, thì mình là một mối.  Còn ruột nuôi khác con của Phật thì là hai mối.

Chắc chắn mình có một mối trong người, còn không là hai mối.  Mà quí Phật tử biết mà trở lại đi tìm một mối đó thì khó độ lắm, còn sống mà chưa độ được thì sao mà đi tìm được, chưa kể bốn đường ác đạo mà cha mẹ rớt xuống đó làm sao cứu. Tri kiến của mình lung lay liền, không biết cách nào làm, trừ khi bậc A La Hán, mà A La Hán cũng không kịp, vì tới đó là Vô Sinh rồi, thì không kịp quay trở lại độ cha mẹ.

Quí Phật tử phải thức tỉnh.

 Do đó, bốn người con, cha mẹ của tôi là con Phật, tôi cũng là con Phật.  Cha mẹ ruột, cha mẹ nuôi của tôi đều là con Phật,  tôi cũng là con Phật.  Gia đình tôi cùng một giòng giống, một hệ thống của Phật. 

 Mà học Phật gì thời điểm này, trong giai đoạn này, giáo pháp của Gotama, thì mình biết mình là con Phật Gotama. Thì lúc bấy giờ mình có giấy khai sanh, thì lúc đó Đức Phật Di Lặc Maitreya tới gặp mình thì Ngài nói mình thuộc giòng họ Gotama.

Miến Điện cho mình bài học mà mình không học, các Ngài là Ābhivaṃsa chứ các Ngài không Mahavaṃsa hay Culavaṃsa mà là Ābhivaṃsa Các Ngài đi Ābhivaṃsa, Ngài Mingun cũng là Ābhivaṃsa (Bhaddanta Vicittasārābhivaṃsa) , Ngài Bhaddanta cũng là Ābhivaṃsa (Bhaddanta Paññāvaṃābhivaṃsa), Ngài Ashin Janakābhivaṃsa   cũng Ābhivaṃsa.

Mình phải học và mình phải sửa đổi tri kiến của mình lại. Mình không có nguồn gốc cha mẹ nuôi, cha mẹ ruột mình, nhưng mình muốn đưa cha mẹ của mình vô chung một mối với mình khi mình đã hiểu được nguồn gốc là cứu cánh.

Ngài Rahula khi Ngài đắc A La Hán lúc 7 tuổi, Ngài nói: Ta có diễm phúc ở trong đời này hai cái diễm phúc". Ngài Rahula nói: "Trong đời ta có hai cái diễm phúc, 1 là con của Đức Phật, 2 là Alahan (Vô Sanh). 

  Yasodhara đứng trên lầu, kế bên là Rahula lúc đó 7 tuổi, Đức Phật ở ngoài đi vô, bà nói: 

- "Kia là Đức Thế Tôn, cũng là cha con, xuống đòi tài sản của cha con đi".  

Rahula nghe lời người mẹ chạy xuống gặp Đức Phật và nói: 

- "Bạch Đức Thế Tôn có phải là cha con không?"

- "Phải"

- Cho con tài sản.

Thì Ngài không cho tài sản thế gian  Lokiya, Ngài cho Thánh Sản, Phật Tộc. Trong khi Rahula gọi là cha, mà Rahula là Phật tử của Đức Phật.

Mình không học được bày học đó.  Mình quay trở về ôm cha mẹ

Không dám mở lời nói về Đức Phật, không dám nói về giáo lý Đức Phật, nói là bị la liền

Rahula xin Đức Phật tài sản, và Ngài cho Thánh Sản.

Tại sao Yasodhara biết là Rahula này dù nhắm mắt cũng hiểu rằng Rahula cũng thừa hưởng tài sản do Tổ Phụ để lại, mà tại sao còn xin Đức Phật tài sản, mà Đức Phật lại ôm bình bát đi khất thực ngoài đường, Ngài là vô sản, mà lại xuống kêu Ngài đưa tài sản.  Nhưng Ngài cho Rahula Thánh Sản.

Nên Rahula nói: Trong đời ta có hai diễm phúc, hơn những người khác là được sinh ra là con của Đức Phật và được tài sản của Đức Phật là Alahan, Thánh Sản.

 Vậy thì quí Phật tử sinh ra không phải là con Đức Phật nhưng quí Phật tử được hưởng Thánh Sản của Phật, tại vì mình là Phật tử. Nhưng thật ra quí Phật tử sinh ra thời Phật Pháp còn tồn tại

Những bài kinh về câu chuyện bà Yasodhara kêu Rahula xin tài sản Đức Phật,  quí Phật tử đọc qua rồi và hiểu rồi, câu chuyện đó mình kể lại được. Nhưng mình không áp dụng tri kiến của mình được.  Mình không áp dụng tri kiến đó cho cuộc sống của mình trở thành cái giá trị được.

Kinh sách quí Phật tử không đọc là mất hết phước báu của mình mà mình không hay, quí Phật tử đánh mất hết, bỏ qua hết, không biết dùng, cho tới khi Nghiệp Chủ đến, cái khổ nó đến, cái bất thiện mà quá khứ vô minh mà mình đã tạo ra, Vô Minh duyên Hành tới lúc đó mình hoảng hốt hoang mang, mình không biết lấy cái gì để vượt qua đường này.

Quí Phật tử phải suy nghĩ lại, phải củng cố lại gốc gác của mình, từ đó mới trưởng dưỡng cái gốc đó mới lớn lên quí Phật tử mới hiểu đầy đủ hết, chứ còn không nó nhỏ xíu mình không đếm xỉa tới nó, bao giờ nó lớn nó phát ra.

Cô hành thiền, cô là Phật tử ngồi thiền hay là hành giả ngồi thiền.

Các trung tâm thiền, các chỗ thiền người ta dạy người ta chỉ nói hành giả thôi chứ người ta không nói Phật tử, chứ không biết khai thác là con của Phật đang hưởng tài sản của Phật, thì mình vô mình ngồi hưởng chứ không phải mình vô để làm theo họ đâu, mình không phải là con ngoài vòng, mình là con ruột vô để hưởng giáo pháp của Đức Phật mình đang hành.  Nhưng mà quí Phật tử không hiểu các trung tâm thiền, các trường thiền, các thiền Sư, các thiền sinh không có nói cái đó, thì mấy cô chỉ là hành giả thôi.

Sư khai thác tới tận cùng để quí Phật tử hưởng tận cùng cái giá trị của mình, sai lầm, và đánh mất, và mình không biết, uổng biết bao nhiêu lần.  Một bước, một ngày, một phút, một giây, mình phải khai thác được, mình phải hưởng được, mình phải nếm được cái giá trị của Phật.

Nên Đức Phật Ngài nói: "Ở bên Như Lai mà không hành giáo pháp Như Lai là ở xa Như Lai.  Ở xa mà hành giáo pháp Như Lai như ở gần Như Lai."

Sư muốn nhắc quí Phật tử phải suy nghĩ lại, phải củng cố gốc mấy cô lại vị trí mấy cô lại khi mà người ta hỏi, tuần trước mình có bài thi, tuần này mình cũng có bài thi, mỗi tuần mình đều có bài thi.  Mà bài thi nào, mấy cô làm bài thi không có kết quả tại vì mấy cô không có Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Tuần nào Sư giảng tụi con nghe cũng là bài mới, mà không có quí Sư nào giảng.  Sư nói, tại vì mấy cô không có sự liên kết. Sư có sự kết nối, nhưng mà Sư không nói ra thôi.

Mỗi căn cơ của chúng sanh, căn cơ của quí Phật tử là Sư mới làm được, Sư mới nói được, Sư mới trình bày được.  

Quí Phật tử nghiệm lại đi.  Tất cả là một trường thi, mỗi buổi học là một bài kiểm tra, và quí Phật tử sẽ thấy kiến thức của mình sẽ được bù đắp lên, chứ không mất.

Mỗi cuốn sách này quí Phật tử có hết nhưng khi cầm lên quí Phật tử không hiểu giá trị của cuốn sách đó, ủa tại sao cái tên của nó ở cái này ở bên Paṇḍitā thôi.  Nhưng mà không có, Sư đọc Paṇḍitābhivaṃsa . Sư đọc được quyển này (The Great Chronicle Of Buddhas - Biên Niên Sử của Chư Phật)  từ Paṇḍitābhivaṃsa.  chứ Sư không đọc quyển của Ngài Mingun Hệ Tộc Chư Phật.

Đó là Sư chỉ kỹ thuật được Đại Thiện Tương Ưng Trí này, chứ cô không thì cô không sài Đại Thiện Tương Ưng Trí, làm sao cô có Đại Thiện Tương Ưng Trí trong cuộc sống này để mà cô áp dụng được cái tài sản bảo bảo này để mà là con của Đức Phật chánh gốc được ./.   

----------------------------------------

Notes

---------------------------------------

Ābhivaṃsa - là một học vị hoặc danh hiệu cao quý được phong tặng cho các vị tu sĩ (vị Thiền sư hay Tỷ kheo) đạt trình độ học thuật Phật học xuất sắc bậc nhất.

-------------------------------

10 Ân đức Phật

1. Như Lai (Tathāgata).  Là bậc "đến như thế" hoặc "đi như thế".  Danh hiệu này chỉ bậc đã thấu suốt chân lý tuyệt đối (Chân Như), an trụ trong tự tính bất động, tự tại đi vào thế gian để cứu độ chúng sinh mà không hề bị lay chuyển hay rời xa Niết Bàn. 

2. Ứng Cúng (Arhat / A-la-hán).  Bậc đáng được cúng dường. Đức Phật đã đoạn trừ hoàn toàn mọi phiền não, lậu hoặc và vô minh. Ngài là bậc có giới đức thanh tịnh, công đức vô lượng, xứng đáng làm phước điền cho cả loài người và chư thiên gieo phước, cúng dường. 

3. Chính Biến Tri (Samyaksaṃbuddha) : Bậc hiểu biết chân chính và khắp tất cả. Ngài giác ngộ hoàn toàn các quy luật của vũ trụ, nhân quả, thấu hiểu đúng đắn vạn pháp một cách biên mãn mà không có bất kỳ sự sai lệch hay giới hạn nào. 

4. Minh Hạnh Túc (Vidyācaraṇasampanna)  Trí tuệ và phúc đức vẹn toàn.  "Minh" là tam minh (trí tuệ siêu việt), "Hạnh" là các công hạnh, đạo đức giải thoát. Ngài có sự kết hợp hoàn hảo giữa hiểu biết sâu sắc (Trí) và hành động từ bi, cứu độ chúng sinh (Đức). 

5. Thiện Thệ (Sugata) Khéo đi, khéo vượt qua.  Ngài khéo nương theo Bát Chánh Đạo để đi đến đích đến tốt đẹp nhất là chấm dứt khổ đau (Niết Bàn). Ngài tự tại đi lại trong ba cõi để độ sinh mà không bị bất kỳ sợi dây ái dục hay ràng buộc nào làm vướng bận.

6. Thế Gian Giải (Lokavid) , Bậc thấu hiểu rõ ràng về thế gian. Đức Phật thấu suốt bản chất của cả Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), am tường tâm lý, căn cơ, hoàn cảnh và nghiệp báo của mọi chúng sinh trong vũ trụ. 

7. Vô Thượng Sĩ (Anuttarapuruṣa), Bậc sĩ phu tối tôn tối thượng, không ai hơn được. Xét về phương diện trí tuệ, đức hạnh, và sự tự tại tâm linh, Đức Phật là bậc cao quý nhất trong tất cả các hàng chúng sinh. Không có một ai ở thế gian hay xuất thế gian có thể vượt qua được Ngài. 

8. Điều Ngự Trượng Phu (Puruṣadamiasārathi) Bậc trượng phu có khả năng điều phục, dẫn dắt chúng sinh. Đức Phật có thiện xảo dùng các phương pháp giáo hóa để nhiếp phục, uốn nắn những tâm tính ương ngạnh, chuyển hóa kẻ ác thành thiện (như câu chuyện độ hóa tướng cướp Angulimāla), hướng dẫn họ đi vào con đường giải thoát. 

9. Thiên Nhân Sư (Sāstādevamanusyānām) Bậc thầy của cõi trời và cõi người. Ngài là bậc Đạo sư vĩ đại, dẫn đường chỉ lối cho cả loài người và các vị chư thiên ở các tầng trời, giúp họ tránh xa nẻo ác, tu tập các thiện pháp để đạt tới sự giác ngộ. 

10.  Phật Thế Tôn (Buddha Bhagavān) Bậc Giác Ngộ được cả thế gian tôn kính. Danh hiệu này thường được gộp từ hai ý nghĩa:

. Phật: Bậc đã tự giác ngộ, đi giáo hóa cho người khác giác ngộ và đạt đến sự viên mãn.

. Thế Tôn: Bậc có đầy đủ đức hạnh và phước báu tối thượng, được tất cả các hàng chúng sinh ở thế gian đồng lòng kính trọng, tán thán. 


Saturday, September 26, 2026

087 Paṭṭhāna - Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha", "cha ăn mặn, con khát nước. - HT Sán Nhiên giảng ngày 30 tháng 12, 2023

 087 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 30 tháng 12, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 087 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Đề thi: "Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha", rồi "cha ăn mặn, con khát nước." Nghiệp báo đã có, nghiệp chủ nó đuổi theo, bạn giải quyết làm sao? 

Bây giờ Sư nhắc lại bài học cũ của mình khi mà nói tới Buddhavaṃsa Hệ Tộc Chư Phật  thì có:

Nghiệp Tộc

Gia Tộc

Xứ Tộc.

Có hai phần:

1. Thứ nhất nói về Đức Phật Gotama. 

2. Thứ hai là nói về Bản Thân mình.

Đức Phật Gotama

-  Nghiệp Tộc thì Đức Phật Gotama là Bồ Tát Bodhisattva

-  Gia Tộc của Ngài là Hoàng Tộc

- Xứ Tộc của Ngài là Trung Ấn Độ

Bản Thân Mình

- Nghiệp Tộc của mình là gì? 

Thì người nào có Nghiệp Chủ (Kammassakatā) thì đề là Nghiệp Chủ. 

Nghiệp Tộc của quí Phật tử là nam tộc, nữ tộc, tức là nghiệp nam, nghiệp nữ. Mình sinh ra là mình có nghiệp nam hoặc nghiệp nữ, là cái nghiệp của mình hình thành ra mình ra cái sắc thân của mình.

Rồi cái Nghiệp Tộc nói về Danh, là mình sinh ra là người nhị nhân, người tam nhân, hay là người thiện lành vô nhân. Thì cái Nghiệp Tộc của mình sinh ra mình phải biết.

- Gia Tộc của mình là gì? 

Thì người nào trung lưu thì đề trung lưu. hoặc thượng lưu, hoặc hạ lưu. Thượng, trung, hạ.

Nếu quí Phật tử điền được 3 cái Buddhavaṃsa của mình là quí Phật tử sẽ biết được con đường tu tập của mình.

Thí dụ như Xứ Tộc của Đức Phật là Trung Ấn Độ, nơi đó là trung tâm quả địa cầu là nơi các vị Bồ Tát kiếp chót thành Phật đều tới đó, họ có những ân đức đó, họ đi với pháp Pāramī Ba-la-mật của họ. 

Bây giờ mình nói tới mình. Mình sinh ở biên địa. Tại vì nước Việt Nam ở bên kia bờ của Thái Bình Dương.

Trong Buddhavaṃsa (Biên Niên Sử) nói đi từ East qua West, từ Bắc sang Nam, từ Đông sang Tây - from center to edge, thì mình ở đây, nếu mình nói đây centre = chính trung, edge = biên địa.

Nước VN ở biên địa, Thái Lan, Cambodia thì nằm trong đất liền. Còn thí dụ như trong nước mình như Vũng Tàu là biên địa phía bên bờ biển Thái Bình Dương. Như Phan Rang là biên địa, nó ở ngoài biển rồi, Sài Gòn là đất liền, là trung tâm.

Thiền sinh hỏi: sinh ra ở trung Ấn Độ, những người không phải Bồ Tát, những người bình thường, như người dân ở xứ Ấn Độ họ sinh ra họ được phước báu nào ?

HT trả lời: Nó có 2 vế: Sinh ra ở ngay Ấn Độ, nhưng phước mà sinh cùng thời Đức Phật lại khác, mà sau thời Đức Phật lại khác.  Như bây giờ là sinh sau thời Đức Phật. Sinh cùng thời Đức Phật thì phước đầy đủ, nhưng sau đó thì mất dần.

Do đó, khi viết Buddhavaṃsa của Đức Phật xong bắt đầu mình viết qua tới phiên mình thì mình ra được con đường tu tập của mình.

Khi Bồ Tát Siddhartha Ngài ngồi quán sát rồi Ngài kể lại cho Ngài Xá Lợi Phất khi Ngài Xá Lợi Phất hỏi là Ngài hiện bày thần thông, rồi Ngài hiện bày Pāramī Ba-la-mật, rồi như Ngài nói: "Từ khi ta phát nguyện để thành Phật thì ta phải coi lại những sự thành tựu của các Chư Phật quá khứ để mà làm biểu tượng, biểu hình, hình mẫu ta noi theo", chứ không phải là Đức Phật Ngài tự ên vạch con đường Ngài đi. Chứ không phải là Ngài tự hư cấu ra hay là tự nghĩ tưởng ra, Ngài phải coi lại những sự thành đạt kết quả của các Chư Phật.

Cũng như Sư nguyện Chánh Đẳng Giác, nhưng Sư được may mắn, thời này Sư coi được các Chư Phật quá khứ, trước nhất là Sư có được Đức Phật Gotama, làm biểu tượng, mẫu hình cho Sư noi theo được.

 Nếu như đến thời kỳ mình sinh ra, thí dụ như sau 5000 năm mình mới sinh ra mình không có.

Do đó, thì bắt đầu mình biết rồi thì mình không có 5000 trong cõi nhân loại, không có thì giờ, mình phải mau mau nguyện thành chủng tử của Tusita liền cho hết 5000 năm của Phật lịch, hết 5000 năm của Giáo Pháp: "Tôi nguyện xin trở về trú xứ của các vị Bồ Tát, ở nơi đó tôi tu tập tiếp chứ không bị gián đoạn."

 Đức Phật Ngài nói: "Khi ta còn ở trong Tusita group" không có rời ra. Tusita group dịch là quần thể Đâu Suất Đà, group dịch là quần thể.  Ở trong quần thể Chư Thiên mà các vị đó có chánh pháp, Ngài không có rời. Còn khi Ngài rớt xuống làm con sư tử, con voi, con khỉ, lúc đó Pāramī Ba-la-mật của Ngài đi chứ không phải là Ngài noi theo với một cái giáo pháp nào. Có lúc Đức Phật Ngài là con sư tử đi theo một vị Phật suốt một tuần lễ, không phải là Ngài học giáo pháp của vị Phật mà là đi theo cái lực của Đức Phật đó để Ngài nguyện thành Pāramī Ba-la-mật là không sát sinh, Ngài nhịn đói luôn trong một tuần lễ đó, sau đó Ngài mất luôn, Ngài trở về Tusita group.

Nên khi quí Phật tử có rớt xuống, nhưng mà rớt xuống ngay cả các vị Bồ Tát rớt xuống làm thú chứ không phải làm người, người có hai loại, người sinh thời giáo pháp Phật, người sinh vào thời không giáo pháp Phật, thì người trong hai thời đó, mình đây là người sinh vào thời không có Phật nhưng mà thời có giáo pháp Phật.  Còn tiếp nữa là sau này thì không biết, không có giáo pháp Phật không có thời Phật nữa. 

Thì khi Đức Phật Ngài rớt xuống làm thú, thì Ngài có hai đường để đi là đi theo Pāramī Ba-la-mật của Ngài đã kiên cố nguyện, hai nữa là thời có Phật mà Ngài là thú, chứ Ngài không có rời. Ngài sinh ra trong thời có Phật mà Ngài là thú sinh ra trong thời có Phật. Còn không được thời có Phật thì Ngài phải đi theo Pāramī Ba-la-mật của Ngài đã kiên cố.

Còn mình đây mình không có, các quí Phật tử mình phải lo cái chỗ đó.  Nên mình có giáo pháp, mình có chánh pháp, mình có môi trường tu tập là mình phải nắm bắt liền còn không là mình phải có nguyện.

Trong quần thể của Tusita Ngài ở trong đó không rời kiếp chót của Ngài là khi Ngài xong kiếp chót của Ngài là kiếp chót nào? Là Vesadon, Vessantara

Bên Thái Lan tất cả những ngày lễ Vesak, Vessantara ngày Tam Hợp họ đều đóng kịch diễn tuồng Vesadon là Vessantara. Là sau khi Ngài xong xả thí Pāramī Ba-la-mật này Ngài trở về quần thể Tusita cho tới khi Chư Thiên thỉnh Ngài xuống. Chư Thiên tới với Ngài họ chỉ nói một câu là: "It is the time for you - đây là tới thời cho Ngài". Thì lúc đó Ngài mới quán sát 5 điều, lúc đó Ngài đang ở Tusita group Ngài quán sát 5 điều là: 

1. Nơi nào mà ta đi ---> Trung Ấn Độ.

2. Thời điểm nào mà ta đi ---> Thời điểm 100 năm của nhân loại

3. Gia đình nào ta đến ---->  Ngài coi cha mẹ của Ngài

4. Xứ tộc nào ta đến ----->  Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu)

5. Gia Tộc nào ta tới -----> Giòng Gotama

Đó là điều Ngài phải quán sát. Tuổi thọ chúng sinh, hội chúng lúc đó rồi Ngài mới đi xuống trần. Rồi Ngài đồng ý thì Ngài cắt đứt giai đoạn mà Ngài đang hành Pāramī Ba-la-mật ở tại quần thể Tusita, và Ngài hạ sinh vô trong thai bào của người mẹ.

Quí Phật tử phải nhớ, nên Sư nhắc quí Phật tử nhớ, cũng như Sư nhắc cho Sư, Ngài Tịnh Sự cũng nhắc cho Sư cũng vậy. Các quí Phật tử phải nhớ 3 điều. Nhớ giai đoạn này mình có 3 điều là:

1. Được sinh làm người.

2. Được gặp Phật Pháp, Chánh Pháp.

3. Có cơ hội được tu tập.

 Có Chánh Pháp mà họ không biết. Họ vẫn còn nói thời này là thời mạt pháp. Không phải, mạt là mình mạt, chứ Phật Pháp không mạt, mình mới qua 2567 năm, mới qua một nửa. Và mình có môi trường tu tập, có điều kiện tu tập và có cơ sở tu tập, là mình có Xứ Tộc. Rồi tụt xuống nữa thì không biết làm sao.

Sư chia sẻ với quí Phật tử. Khi Sư đi xa về, vô rửa mặt rửa tay xong là vào phòng làm việc ngay, ngồi gõ máy, tối gõ, sáng gõ, trưa gõ, chiều gõ. Mà tất cả các Bồ Tát Chánh Đẳng Giác đều có Tứ Chánh Cần. Nên các vị Bồ Tát nên đi theo là noi gương con đường mà các vị Phật đi, họ noi theo đó tu tập làm điểm tựa, mà mình đây cũng có rồi mà mình không làm. Sư nhắc thôi, mà Sư cũng nói, Sư cũng vậy hà. Quí Phật tử đâu bao giờ nói lá xanh khóc là vàng, lá vàng khóc lá xanh, đó là sự vô thường, nên Sư chỉ nhắc nhở hoài, ráng lo tu, có cơ hội đừng bỏ qua, đọc ít đọc nhiều cũng phải chịu khó đọc để có chủng tử. Bồ Tát đi tìm một câu thôi "các Pháp hữu vi là vô thường" xong là bị con dạ xoa nuốt. Còn mình đây không có, khi vô thường nó đến là không kịp nữa.

Còn Nghiệp Chủ kéo mình nữa, quí Phật tử đã sài credit card rồi thì chủ của credit card không buông mình đâu.  Quí Phật tử tu giải thoát là chạy trốn nghiệp.  Như Aṅgulimāla giết 999 người, để mà trả nghiệp thì bao giờ mới được giải thoát, gặp Đức Phật Aṅgulimāla buông dao xuống quay lại tu thì ông đắc Alahan, mà còn chưa hết ông bị đá chọi vào đầu máu chảy, ngày nào đi bát cũng bị người ta đánh tại vì vợ con bị giết, gia đình tan nát, giờ ông đi tu nhờ được Đức Phật che chở mà trở thành Alahan, Đức Phật nói hãy trả cái nghiệp dư xót của mình, cái này còn dư xót lại, cái này là hữu dư y Niết-bàn, bây giờ là Vô Sinh là ông chạy được. 

Mình đâu có được như Aṅgulimāla, mình thấy cái gương trước mắt. Ông chạy vù một cái là qua cửa Vô Sinh.

Còn quí Phật tử mình may mắn thì hẹn, nhưng không biết hẹn tới khi nào giải quyết xong cái hẹn của mình, là kẹt rồi.

 Nên Sư viết lại cái Nghiệp Tộc của Đức Phật lúc bấy giờ Ngài là Bồ Tát rồi. Bồ Tát tức là Ngài đã 23 Tăng Kỳ, 400,000 đại kiếp rồi, kiếp này là kiếp chót. 

Còn mình đây không có tư tưởng sắt đá thì Nghiệp Tộc của mình là gì ? Thiện, bất thiện, cả hai.

Gia Tộc của Đức Phật là gì? Gia Tộc của Đức Phật là Hoàng Tộc.

Gia Tộc của mình là gì ? mình không thấy, còn Ngài có sẵn hết rồi, Ngài tới để thọ hưởng thôi, tại vì Ngài đã làm hết rồi, kiếp này là kiếp chót, mà Ngài không phải trả 6 năm của Ngài do có một lần Ngài khinh suất thôi mà Ngài phải trả 6 năm tìm đạo. Các vị Phật kia đâu có dài lê thê như Đức Phật. Đức Phật Gotama phải trả dài và khổ sở nhất. 

Hai mươi ba tăng kỳ Ngài tu, 100,000 đại kiếp Ngài tu, nhưng Ngài sống trên đời này có 80 năm, ngắn nhất trong các vị Phật, mà trong 80 năm thì Ngài hưởng vị Phật có 45 năm, từ 1 đến 35 năm Ngài ở ngoài đời, từ thành Phật là 35 tuổi cho đến 45 năm là 80 tuổi, Vô Dư Y Niết-bàn, chấm dứt, mà trong 45 năm đó đâu phải là ngọt ngào hết đâu, cũng bị mắng chửi, bị lăn đá chảy máu chân, rồi đủ thứ hết. Nhưng mà Ngài xong rồi. 

Tới phiên mình thì sao? Bây giờ mình nói Gia Tộc của mình.

Mình sinh ra. Đầu tiên mình sinh ra trong gia đình có chánh kiến không? Trong quốc độ có quốc giáo không? Gia đình mình có chánh kiến không, hay là gia đình mình không có chánh kiến. Tới giờ vẫn còn cúng cơm, còn cúng vật thực. Mà giờ có người có chánh kiến, có người biết chánh pháp, mà nói không có nghe thì là thua rồi. Cũng như có người đi xuất gia, có con xuất gia, có chánh pháp mà kinh sách không đọc. Cái nghiệp chúng sanh nặng quá, cái Nghiệp Tộc nặng hơn Gia Tộc. Gia Tộc chỉ là một yếu tố nhỏ, Nghiệp Tộc bao trùm luôn Gia Tộc lọt vào trong, đừng nói tới Xứ Tộc nữa.

Nghiệp Tộc của mình có cả thiện và bất thiện. Còn Nghiệp Tộc của Đức Phật mình ở kiếp chót là Bồ Tát Chánh Đẳng Giác, Gia Tộc của Ngài là hoàng tộc ở trong cung điện là Ngài không tạo điều ác. Còn mình đây, mình ở trong Gia Tộc, mình coi lại đi, thời cha mẹ nghèo buôn gánh bán bưng, phát sinh trộm cắp, phải làm hết để mưu sinh nuôi con, nuôi gia đình, rồi nói thật nói láo, ngũ giới không giữ, cũng phải làm để có tiền để nuôi con, Gia Tộc mình mà, cái nghiệp của mình mà. Rồi mình coi, mình nghĩ giờ mình được rồi, còn Gia Tộc mình trải qua hồi lúc nghèo khó hồi ông cha của mình trải qua nghèo khó.

Đức Phật Ngài sinh ra, có Vua Cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là Hoàng Hậu Maya sống trong hoàng cung toàn làm việc thiện, mà hai ông bà giữ bát quan trai trường. Mà Ngài ở trong hoàng cung đâu có việc gì bất thiện, Ngài chỉ hưởng phước thôi. 

Còn mình đây không có, bây giờ mình ngồi đây, Sư cùng với quí Phật tử ngồi đây là mình đang hưởng phước. Hồi lúc ba mẹ sinh mình ra cho tới khi mình có ngày hôm nay mình ngồi nghĩ lại coi, Gia Tộc mình đã chạy qua bao nhiêu cái nghiệp, rồi bây giờ mình cắt hết mấy cái đó để mình giải thoát, hay là mình cắt hết mấy cái đó đi để mình không trả quả, thì mình làm cách gì để mình vượt mau nhanh được như Ngài Aṅgulimāla, khi mà ông giết 999 người, rồi ông cắt hết cái nghiệp để trả nợ vay mượn của 999 người này thì trong thời gian ngắn này là phải nhanh tới Alahan, mà Alahan xong rồi thì cũng phải trả cái dư xót. 

Mình có làm được như Ngài Aṅgulimāla chưa, chưa được. Tại vì thời này mình chưa có Phật. Thứ hai nữa, thời này Pāramī Ba-la-mật mình chưa đủ, người sinh ra thời Đức Phật là họ đã có Pāramī Ba-la-mật đủ. Mình phải bồi đắp, nếu không nỗ lực thì sẽ trôi lăn.

Sư nói đây không phải để mình bi quan hay mặt cảm, mà để mình thức tỉnh.

Ông bà mình nói câu:  "Cha ăn mặn, con khát nước". Nghiệp Câu Sinh nhau. Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha.

Người ta nói: "Cha ăn mặn, con khát nước." Con gái hưởng đức cha, con trai hưởng đức mẹ". Giờ làm sao mà xóa được, gặp người cha mà ngày xưa đi lính thì có nghiệp sát, vì nhà binh thì có nghiệp sát, thì cha ăn mặn rồi con khát nước.

Nên quí Phật tử phải hiểu khi mình không học Paṭṭhāṇa, không học về Duyên, mình không học về 7 bước của Phát Thú Paṭṭhāṇa là quí Phật tử tắc nghẽn liền, nhất là trong Nikaya Kinh Tạng là chết, nguyên tắc là nguyên tắc, nhất là Tạng Luật còn chết nữa, vì nó là cán cân, nó không lệch lạc, không thiên vị, đâu ra đó, một với một là hai, không có du di, không linh động, không uyển chuyển, không có châm chế. Như ông luận sư đó chỉ bứt ngọn cỏ thôi mà đi địa ngục.

Đối với Abhidhamma thì không có, không phải mình bào chữa hay mình chạy, hay mình chữa lửa cho mình. Nhưng Abhidhamma phải Tương Ưng Trí, còn cái kia họ nói luật chứ không nói Đại Thiện Tương Ưng Trí hay Đại Thiện Bất Tương Ưng Trí.

 Do đó, khi câu hỏi: "Cha ăn mặn, con khát nước." Con gái hưởng đức cha, con trai hưởng đức mẹ. Cha ăn mặn con khát nước". Bạn giải quyết sao về Nghiệp Báo của bạn khi bạn đã có Nghiệp Chủ?  

Thiền sinh hỏi: Sư nói cái câu đó là làm sao để mình ra khỏi Nghiệp Chủ đó khi đã có Nghiệp Báo.

HT trả lời: Nghiệp Báo là Nghiệp Chủ.

Thiền sinh: Nhưng mà cái Nghiệp Báo đó không phải trên người con, mà là của người cha mà.

HT trả lời: Câu Sinh Nhau. Hồi lúc mà người cha làm cái gì đó thì người con hưởng cái đó rồi, một thành bốn.

Sư cho thí dụ là, cha mình là lính, sĩ quan, hay là tướng, hay là tá, hay là lính thường thôi. Cha lãnh lương lính rồi đem về nuôi con bằng đồng tiền đó. Mà cha phải đi làm nghiệp sát này là vì nhà binh.

Thiền sinh hỏi: Trước Sư nói là mình chỉ để ý cái nghiệp hiện tại của mình ngay lúc đó. Vậy thì nghiệp quá khứ mình đâu có chuyển được?

HT trả lời: 

Những gì Sư nói thì không bao giờ Sư nói dư, và không bao giờ Sư nói chơi, Sư nói đều có gợi ý, nhưng quí Phật tử không hiểu được cái gợi ý.  Như Đức Phật một bậc Chánh Đẳng Giác có thể xử dụng năng lực của Iddhipāda Tứ Thần Túc để kéo dài mạng sống thêm một kiếp trái đất, nhưng Ananda không thỉnh mời Ngài mà vuột mất, Đức Phật 3 lần Ngài gợi ý mà Ananda không thực hiện thì Marā nhảy vô, thì lúc đó Ananda thỉnh Đức Phật ở lại nhưng không kịp. Đức Phật nói: "Đủ rồi Ananda, ba lần Như Lai gợi ý nhưng Ananda không nghe, Như Lai đã thọ ký với Ác Ma Marā rồi, thì còn ba tháng nữa thôi.

 Hồi nãy Sư nói về Hệ Tộc Chư Phật là khi Đức Phật Ngài về hoàng cung các hoàng thân quốc thích  coi Ngài là hoàng tộc không coi Ngài là Phật. Nhưng Đức Phật hiển lộ thần thông và nói: "Ta không còn là giòng Sakiya mà ta là chủng tộc Phật". 

Giờ Sư nói tiếp hồi nãy nói là Đức Phật Ngài coi những thành quả  đạt được của các Chư Phật làm biểu tượng để Ngài noi theo, nếu như có Phật thì Ngài hành theo, nhưng mà Ngài là thú thì Ngài hành Pāramī Ba-la-mật, còn không thì Ngài theo đường đi của các Chư Phật.

Do đó, khi người ta đặt câu hỏi: "Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha", rồi "cha ăn mặn, con khát nước." Nghiệp báo đã có, nghiệp chủ nó đuổi theo, bạn giải quyết làm sao? 

HT trả lời: Tôi là chủng tộc Phật, tôi có quy y, tôi là con của Phật. Con của Phật có bốn loại.

 Do đó, quí Phật tử là con của Phật rồi thì quí Phật tử phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí  với Câu Sinh Nghiệp với Phật và mình không còn nghĩ tới nghiệp cha nghiệp mẹ, thì quí Phật tử mới đi con đường an toàn, mà đường đó quí Phật tử được hết giòng tộc Pāramī Ba-la-mật của Đức Phật rồi, của vị Thầy của mình rồi.

Người Mỹ là người nước ngoài, bà họ gì tôi không biết, nhưng khi bà lấy chồng thì bà theo họ chồng mình, tức là bà bỏ tộc của mình và bà theo tộc của người chồng.

Khi mình quy y, nếu mình không biết dùng cái Tộc của quy y của Phật hay là Thầy Tổ mình thì mình bỏ mất,  mình sống theo kiết sử của mình theo  thói quen của mình và mình Câu Sinh Nghiệp riêng và mình không có Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Con có bốn hạng:

1. Con ruột -----> Nghiệp

2. Con nuôi -----> Nghiệp

3. Thiên tử ------> Nghiệp

4. Đệ tử. -------> Nghiệp

Quí Phật tử muốn là con hạng nào thì hưởng nghiệp đó.

Mình không biết liền. Khi mình nhìn thấy cái nghiệp của nó, con đường đi của nghiệp đó, Aṅgulimāla đâu có nhìn cái nghiệp mà 999, mà Sư nói cái nghiệp hiện tại của Aṅgulimāla là ông đang Câu Sinh với Nghiệp của Đức Phật, vì ông là con Đức Phật. Nếu ông không nghĩ đến Đức Phật (không câu sinh) mà nghĩ đến gia đình của ông thì ông phải trả cái nghiệp sát của ông, và ông không có đường giải thoát.

Vậy thì quí Phật tử  là tộc chúng là gì? Là Tộc Chủng Phật

Gia Tộc quí Phật tử là Gia Tộc gì? Là Phật Tộc

 Con có bốn loại con, nếu mà Thầy nói cái câu :"Cha ăn mặn con khát nước." Đó là con Hành Tộc. Nhưng con của Thánh Tộc họ không khát nước, tại vì Thánh không làm gì sai mà làm việc thiện, thì con đang sống theo Thánh Tộc, tại vì con có quy y, con là Phật Tộc, Thánh Tộc. Đó là cách giải thoát.

 Nên đề thi của Sư không phải là đề thi Pháp Cú mà là gài bẫy.

Từ khi tôi biết Phật, từ khi tôi quy y Phật, tôi là Tộc Chủng Phật. Không phải mình xóa bỏ dĩ vãng, không phải mình xóa bỏ nguồn gốc gia tộc của mình.  Nhưng mình không có thì giờ. Mình phải bình tỉnh và trí tuệ để mình xử dụng phương pháp. 

Minh phải bình tỉnh và trí tuệ mình bình tỉnh để mà mình xử dụng phương pháp này, thì quí Phật tử mới có cơ may thoát ra. Không phải Sư chỉ cho mình thoát, cái đó là sự thật. Đức Phật Ngài Khi Ngài đi bát trở về thì Yasodhara (Da Du Đà La) bảo Rahula (La Hầu La) vô nói với ông nội là Đức Phật đi bát là làm nhục giòng Sakya, giòng tộc của mình là vua, không để con mình đi xin ăn.

Đức Phật nói: "Không, phụ vương, hôm nay Như Lai là chủng tộc Phật, người không để bát, ta phải đi khất thực, sống chánh niệm chánh mạng,"

Đức Phật đã nói như vậy trước mặt cha. Ngài đâu phải tốt cho họ đâu, nhưng mà Ngài biết dùng cái trí tuệ của Ngài để độ cha Ngài. Nếu quí Phật tử không biết cái này mà gặp người cha mình còn sống thì quí Phật tử không độ được cha mình, không chuyển nghiệp của cha mình.

Đức Phật Ngài nói câu đó, Ngài vừa dùng trí tuệ của Ngài và Ngài vừa chuyển được vua cha. Ngài không có ngã mạn, nhưng Ngài nói thật.

Con thì có bốn loại con, thì quí Phật tử muốn giữ đứa con nào thì giữ,  muốn giữ con nào thì giữ nghiệp con của mình. Nhưng người trí sẽ dùng cái nghiệp của mình. Ngay cả vị thiên tử lọt vô ngay ranh giới của hai vị Thiên Chủ, thì mặt người thiên tử đó mà nhìn về Thiên Chủ nào thì là con của vị Thiên Chủ đó, mà đã là con họ thì họ phải hưởng nghiệp của vị Thiên Chủ này.

Quí Phật tử là con hạng nào trong bốn hạng con?

Khi mình đứng ở đâu là mình hưởng cái phước đó liền, hưởng cái nghiệp đó liền. Đó là Câu Sinh Nghiệp Paṭṭhāṇa 

Đức Phật gặp mấy người đệ tử Ngài như Cūlapanthaka ở gần Đức Phật mà bốn tháng không thuộc một câu kệ.  Đêm đó ông buồn quá, ông đi ra nói với người anh là Mahāpanthaka đã đắt Alahan, nói câu kệ học không thuộc lòng mà ăn của đàn na tín thí thì mang tội, thì anh cho em ra đời được không, về làm cư sĩ hộ độ Tam Bảo, tốt hơn ở trong chùa mà ăn của đàn na tín thí rồi mắc nợ. Người anh nói đúng rồi, thôi em về đi, sống đời người cư sĩ hộ độ Tam Bảo 

 Nói xong với người anh rồi, sáng mang đồ đạt đi về. Thì Đức Phật Ngài biết, Ngài độ.  Ngài hỏi Cūlapanthaka xuất gia làm đệ tử của ai?  Cūlapanthaka trả lời: là đệ tử của Đức Thế Tôn.

Đức Phật nói: Vậy sao không hỏi Như Lai mà đi hỏi người khác?

Làm con thì phải hỏi người cha, chứ sao lại hỏi người khác.  Tức là Ngài nhận một cái trách nhiệm của Ngài, và Ngài đánh thức người kia vị trí của mình.

Cái đó là bậc Chánh Đẳng Giác hay là bậc Alahan hay bậc trí tuệ, đâu có tránh né, nhưng người ta biết trách nhiệm, biết dẫn dắt, biết dìu dắt người con ra khỏi cái nghiệp của mình.

Bảy Pháp của bậc Giáo Thọ là không cho đệ tử làm sai, mà chỉ khuyến khích đệ tử làm đúng thôi, chứ không cho làm sai. Đó là một trong bảy pháp của vị Giáo Thọ.  

Nhưng mà tự mình quên. Mình quy y Phật, kính Phật, mình làm theo lời Phật dạy hay là mình làm theo kiết sử tập khí thói quen của mình, mình đâu phải là con Phật đâu. Mà cứ đòi mỗi Đức Phật từ bi hỉ xả.  Đức Phật Ngài cũng như người cha, Ngài từ bi hỉ xả tha lỗi cho mình đi. Nhưng mình lại không có tha lỗi, mình không thay đổi, chuyển tộc, không có chủng tử Phật Tộc, là quí Phật tử không có Câu Sanh Nghiệp với Phật.

 Bữa nay là cuối năm, Sư muốn quí Phật tử Chuyển Tộc và mình đi tới cái đường Tộc Chủng này, cái Chủng Tộc này thù thắng và mình sẽ có những lợi lạc với Câu Sanh Nghiệp. Mình không đánh mất.

 Quí Phật tử ngồi nghiệm lại, bây giờ quí Phật tử nghe lại bài pháp. Thật sự quí Phật tử sai hết, vì sống theo tập khí cái phàm tộc của mình, Tôi, Ta của mình, rồi bào chữa, biện giải, giải thích.

 Do đó, quí Phật tử mới thấy tại sao giá trị của Chánh Pháp, cái thời của Đức Phật cái giá trị Chánh Pháp là gì? 

Đức Phật nói: Lấy Giáo Pháp làm Thầy.  Tại vì khi Như Lai mất, không ai chỉ dạy thì lấy Kinh Sách để chỉ dạy cho mình, lấy đó làm y cứ mình hành theo.  

Nhưng mà mình không có. Mình không lấy chánh pháp, mình không thừa hành chánh pháp, Sư đến nhà, Sư thấy Kinh Sách để đó là Sư biết người này không thừa hành chánh pháp rồi.  Mà họ một ngày một giây một giờ họ sống trong thân ngữ ý họ tạo ra bao nhiêu nghiệp nữa.

Còn Bát Chánh Đạo; Chánh Nghiệp không có, Chánh Hạnh mình không có, Chánh Mạng mình không có, mình sẽ đi ra. Chánh Mạng, Chánh Nghiệp, Chánh Ngữ, trong ba giới phần đó của Bát Chánh Đạo mình không lấy Chánh Pháp mình làm chuẩn thì coi như là mình bị Tà Nghiệp, Tà Mạng, Tà Ngữ trong mỗi giờ mỗi ngày.

Khi Phụ Vương phẫn nộ bực tức nói làm nhục giòng họ Sakya, làm nhục giòng họ của Phụ Vương, đi xin ăn khất thực.

Đức Phật nói: Như Lai là chủng tộc Chư Phật.  Ngài không nói Ngài là chủng tộc của Phụ Vương.

Khi người ta đưa ra đề tài cho bài thi: Nếu bạn ở trong nghiệp của cha, mà cha làm nghiệp sát, sớm muộn gì bạn cũng phải trả quả báo này. Thì là bạn Câu Sanh Nghiệp với người cha. 

Nên Aṅgulimāla khi bị chọt đá, thì Đức Phật nói; sau này Aṅgulimāla giúp cho những sản phụ sinh khó thì Aṅgulimāla sẽ bớt đi cái nghiệp bị người ta chọt đá tại vì người ta hận thù. Thì ông ngồi bên đây, bà sản phụ sinh khó bên kia, ông đọc: "Từ ngày tôi đắc quả Thánh  không có làm gì sai trật về thân, ngữ, ý, mong rằng sản phụ này sanh dễ", thì người sản phụ đó sanh con được liền.  Một câu nói rất là mộc mạc.

Câu nói : "Từ ngày tôi là tộc Thánh", khai thác câu nói đó là Đại Thiện Tương Ưng Trí, khai thác ngay chỗ đó là mình Câu Sanh Nghiệp, cái hay của nó là mình hưởng giòng nghiệp đó liền.

Ngài nói "Từ ngày tôi vào Thánh Tộc, thân ngữ ý tôi thanh tịnh trong sạch, mong rằng lời nói chân thật này vị sản phụ sinh khó sinh được dễ dàng". Đứa bé được sinh ra liền.

Thì quí Phật tử cũng vậy. Khi Nghiệp Chủ Kammassakatā của quí Phật tử tới, bất kỳ ở đâu, trên máy bay, trên xe lửa, trên xe hơi, quí Phật tử phải nhớ nói: "Từ ngày tôi quy y Phật, từ ngày tôi là Phật tử, từ ngày tôi thọ giới thì tôi có chủng tộc Phật trong người tôi, mong rằng nghiệp chủ này không đủ để khống chế".

Đừng có lấy vỏ phàm tục của mình mà nói. Mình phải khôn ngoan bằng trí tuệ.

Nên phài biết như thế để đánh tan đi cái câu: "Cha ăn mặn, con khát nước". "Cha lấy đức cho con gái, Mẹ lấy đức cho con trai" chưa chắc. 

Chỉ có Phật Tộc, Đức Phật cái nghiệp của Phật, cái đó mới là ăn chắc mà bền và nó an toàn hơn. Cái thế gian hiệp thế này thì 50/50. Không có ai là hoàn hảo, cha mẹ có tu cả đời đi nữa cũng không thằng được. Mình đã quy y Phật rồi, mình sống nương vào Tam Bảo.

Nên Đức Phật nói quay về nương nhờ Tam Bảo, mà mình đây không có, mình lấy cái tôi cái ta của mình để đương đầu với Nghiệp Chủ Nghiệp Báo mà từ vô minh làm ra mà mình không biết nó đến đánh mình thì mình đánh sao lợi.

Nhớ chưa, Đức Phật Ngài cũng dùng Phật Tộc, Ngài coi Chư Phật đi như thế nào ta đi thế đó.  Các đệ tử Đức Phật đều nương vào Tam Bảo, chứ không đi theo chủng tộc phàm phu mình./.

--------------------------------

Notes:

--------------------------

Nghiệp Chủ - Kammassakatā (tiếng Pāḷi) là một giáo lý nền tảng trong Phật giáo, mang ý nghĩa là "nghiệp là tài sản duy nhất/riêng biệt của chính mình" hoặc "sở hữu nghiệp". Thuật ngữ này khẳng định rằng mỗi chúng sinh là chủ nhân duy nhất đối với các hành vi (nghiệp) do chính mình tạo ra và phải tự chịu trách nhiệm về quả báo của những hành vi đó. 

Nghiệp Báo - Karma-vipaka, theo luật nhân quả, "nghiệp" là nguyên nhân (hành động có chủ ý), còn "báo" là kết quả (sự phản hồi, gánh chịu hậu quả hoặc nhận phần thưởng). Nếu bạn gieo hành động thiện, bạn sẽ nhận lại quả báo an vui; ngược lại, nếu gieo hành động bất thiện (ác nghiệp), bạn sẽ phải nhận lại quả báo đau khổ.


----------------------------

Bảy Pháp của bậc Giáo Thọ:  người thầy mang trọng trách giáo hóa luôn phải thành tựu đầy đủ 7 đức tính này để dẫn dắt đệ tử: 

1. Khả ái, khả ý (Pali: Piyo): Người thầy sống có lòng từ mẫn, có cách cư xử và tác phong khiến đệ tử cảm thấy dễ mến, dễ gần, tạo ra không gian tu học ấm áp. 

2. Tôn trọng, đáng kính (Garu): Thầy là người có giới đức trang nghiêm, tâm hồn tự tại, khiến người đệ tử tự nhiên sinh lòng kính trọng và nể phục.

3. Đáng được bắt chước, đáng ca ngợi (Bhāvanīyo): Thầy có trí tuệ sâu sắc, thân giáo và khẩu giáo đều là tấm gương sáng để đệ tử noi theo. 

4. Nhà thuyết giả, biết nói lời khuyên răn (Vattā): Thầy khéo léo sử dụng ngôn từ, biết khi nào cần giáo huấn, chỉ ra lỗi sai để răn dạy, sách tấn đệ tử tiến bộ.

5. Kham nhẫn lời nói (Vacanakkhamo): Thầy có tâm bao dung lớn lao, nhẫn nại lắng nghe những lời bộc bạch, thắc mắc, thậm chí là sự bướng bỉnh hay những lời thô vụng của đệ tử mà không khởi tâm sân hận. 

6. Nói lời sâu kín, giảng giải giáo pháp thâm sâu (Gambhīrañca kathaṃ kattā): Thầy có khả năng phân tích và truyền dạy những giáo lý vi diệu, cốt tủy của Chánh pháp để khai mở trí tuệ cho đệ tử.

 7. Không hối thúc, ép buộc những điều không hợp lý (No ca aṭṭhāne niyojeti): Thầy không bao giờ hướng dẫn hay ép buộc đệ tử làm những việc phi pháp, mê lầm hoặc sai đường đạo

---------------------------------

Câu Sinh có nghĩa là Cùng Sinh

Sahajatakamma = Câu Sanh Nghiệp hay Đồng Sinh Nghiệp

1. Sahajāta (Câu sanh / Đồng sinh): Cùng sinh khởi lên một lúc.

2. Kamma (Nghiệp): Hành động hay ý muốn, mà chi pháp chân đế chính là tâm sở Tư (Cetanā).

Khi kết hợp lại, Sahajatakamma-paccaya được gọi là Câu Sinh Nghiêp Duyên. Đây là một trong 24 duyên hệ hệ trọng hệ thống duyên khởi của Paṭṭhāṇa (Đại Phát Thú)

Trong đời sống hằng ngày, bất kỳ khi nào một tâm (thức) khởi lên, luôn luôn có tâm sở Tư (Cetanā) đi cùng. Theo hệ thống của Paṭṭhāna, tâm sở Tư này không chỉ tích lũy để cho quả ở tương lai xa (gọi là Dị thời nghiệp duyên - Nānākkhaṇika kamma), mà ngay tại sát-na hiện tại, nó còn đóng vai trò đôn đốc, điều hành và phối hợp tất cả các tâm sở đồng sinh khác cùng hoạt động. 

(Đại Phát Thú. Tập III, trang 207)

1. CÂU SANH NGHỆP DUYÊN 

(SAHAJĀTAKAMMAPACCAYA) 

Vacanattha — Chú Giải: 

"Kāyangavācangacittangābhisankharanabhūtena cittappayogasankhātena kiriypabhāvena paccayo upakātrakoti = Kammapaccayo"- Pháp giúp đỡ ủng hộ theo hình thái của hành động tạo tác mà có liên quan với phương cách hiểu biết của Tâm, tức là Pháp giúp đỡ tạo tác với trạng thái tử nơi thân, từ nơi lời và tâm, gọi là Nghiệp Duyên

GIẢI THÍCH TÓM TẮT CÂU SANH NGHIỆP DUYÊN

Câu Sanh Nghiệp Duyên đây, có ý nghĩa đến Tâm Sở Tư, chính là Nghiệp câu sanh với Pháp Sở Duyên và giúp đỡ tạo tác với Pháp Sở Duyên.  Nó có ý nghĩa là Pháp Tương Ưng, đó là Tâm và Tâm Sở đang làm nhiệm vụ thâu bắt lấy Cảnh, có Cảnh Sắc đang hiện hữu, v.v. thì Tâm Sở Tư cũng cùng câu sanh với nhiệm vụ là giúp đỡ tạo tác trong việc tiếp thâu các Cảnh đó.  Ví như, một khi đã tiếp xúc với Cảnh Sắc rồi, Tâm Tham cùng với Tâm Sở sanh khởi thì Tâm Sở Tư giúp đỡ sắp đặt cho Tâm Tham đó đến tiếp thâu lấy Cảnh Sắc một cách trọn vẹn.  Khi Tâm Tham sanh khởi một cách trọn vẹn rồi thì tùy theo trạng thái của Thân hoặc Lởi mà sanh khởi ảnh hưởng từ nơi Tâm Tham đó, cũng thường hiện bày ra trạng thái của Tham.  Sự việc nầy là như vậy, cũng là do bởi chính mãnh lực của Tư căn Tham. Do đó, Tâm Sở Tư nầy mới được gọi là Câu Sanh Nghiệp Duyên

-----------------------------