Monday, June 22, 2026

081 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 18 tháng 11, 2023

 081 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 18 tháng 11, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 081 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Xả Thí có 2 vế: Một là,Xả Thí Ba-la-mật, hai là, Xả Thí Thiện.

Xả Thí Thiện thì đừng để ý tới chuyện bỏn xẻn, mình chỉ làm xả thí thôi, có điều kiện cho thì cho.

Nhưng khi nói Xả Thí Ba-la-mật là Xả Thí Toàn Thiện phải có 2 vế;  là tôi xả thí này ra để tôi diệt cái bỏn xẻn của tôi, là diệt cái bỏn xẻn này có 5 bỏn xẻn (pañca Macchariya) là 5 bỏn xẻn.

Bỏn xẻn có 5 loại là:

1- Bỏn xẻn chỗ ớ (āvāsa macchariya).

2- Bỏn xẻn thân tộc (kula macchariya)

3- Bỏn xẻn lợi lộc (lābha macchariya)

4- Bỏn xẻn danh tiếng (vaṇṇ macchariya)

5- Bỏn xẻn pháp.macchariya (dhamma macchariya)

 Tật đố (issà) và bỏn xẻn (macchariya) là 2 pháp bất thiện ngủ ngầm.

Thế gian người ta bỏn xẻn về dòng giống, như con vua thì lấy con vua. Nhưng người Phật tử mình, ngay cả ông Sư hay người xuất gia thì thường bỏn xẻn trí tuệ, như là dấu nghề, người đời họ dấu nghề nhưng người tu là bỏn xẻn Phật Pháp.

Tinh Tấn Ba-la-mật hơn tinh tấn thường. 

Tinh Tấn có 3:

- Tinh Tấn

- Chánh Tinh Tấn

- Tinh Tấn Ba-la-mật

 Tinh Tấn suông thì có chánh và tà, mình chỉ có siêng năng thôi.

Chánh Tinh Tấn là mình chỉ có một phía thôi, mình làm việc cho tốt còn cái tà mình không có. Chánh Tinh Tấn làm dải đãi lui sụt.

Tinh Tấn Ba-la-mật là nó vừa trị Tinh Tấn Tà nó còn trị dải đãi, vừa trị cái lười biếng. Chánh Tinh Tấn làm dải đãi lui sụt thì nó mới ra toàn thiện.

Như vậy thì, bây giờ mình nói việc mình tu, một ngày mình tu; đọc kinh, ngồi thiền, đọc sách.

Mình viết ra Tinh Tấn có 3; Tinh Tấn, Chánh Tinh Tấn, Tinh Tấn Ba-la-mật, thì trong đời sống hàng ngày, một ngày thì làm được mấy loại Tinh Tấn ? Và có bao nhiêu Chánh Tinh Tấn ? Có bao nhiêu Tinh Tấn Ba-la-mật, mình lọc ra.

 Khi Ác Ma tới, Ngài không coi Ác Ma, Ngài không coi binh ma, Ngài không coi sự hùng dữ khủng khiếp đó. Khi mấy cô nhìn thấy ma, mấy cô coi nó chứ mấy cô không coi mình. Nên Đức Phật Ngài nói mình không chuẩn bị tư lương, không chuẩn bị vốn hành trang lên đường xa.

Khi Ác Ma tới Chư Thiên bỏ chạy hết.

Mấy cái đó mình phải ngồi nghiệm ra mới trì độ con đường mình tu.

Vậy thì bữa nay mình có Tinh Tấn trong tu tập, Tinh Tấn trong đời sống, Tinh Tấn trong sinh hoạt, thì mình có Tinh Tấn loại nào mình bắt đầu lọc ra, và chính mình biết thôi.

Xả Thí

Xả Thí Thiện

Xả Thí Ba-la-mật

Nói Xả Thí, ai cũng có Xả Thí, mà Xả Thí Thiện thì khác hơn Xả Thí suông.

Tinh Tấn Ba-la-mật là phải vượt qua khỏi nghiệp duyên nghiệp báo, hay những phiền não, chứ không phải là Tinh Tấn mình chỉ vượt qua giải đãi thôi, hay là vượt qua lười biếng thôi, cái đó là sai.

Tinh Tấn Ba-la-mật không thể làm bởi trí tuệ thông thường được, phải là Thắng Trí mới được. Mà Thắng Trí là phải tích lũy nhiều, có một bề dài trải nghiệm nhiều nó mới ra chất lượng lớn cho trí tuệ này thù thắng. Nên mỗi việc gì mình cũng dùng trí, tập hoài, cái trí bắt đầu dầy dặn lên hay là nó kiên cố hơn hay là nó sắc bén hơn, thì mới có kết quả được.

Xả Thí thì có xả thí tà, xả thí chánh, hay là xả thí toàn thiện, xả thí thiện, hay là xả thí thiện, xả thí ba-la-mật.

Trong cái tu tập bắt đầu mình nhìn mình, rồi mình nhìn qua các người khác hoặc nhìn người thân của mình hay người quen của mình, rồi nhìn qua chúng sinh, mình rút tỉa ra được.

Thì khi rút tỉa ra được cái đó thì mình đang đi trên con đường Thiền An Chỉ, đem tâm quan sát người đó, hoan hỉ người đó để rồi mới Minh Sát, rồi giải quyết được sự việc đó.  Là mình áp dụng 2 cái Thiền An Chỉ và Thiền Minh Sát cho mình và cho người, mới ra được.

 Khi mình tìm ra được cái đó thì bắt đầu qua Pháp Hành


                  - Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm

Bhāvanā 

                  - Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ


Thì Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm

Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ

Thì mới ra được cho mình / cho tha nhân.  Mình phải có Pháp Hành để tu tập. Cái này là để thực hành

Khi nói tới Pārami Pháp Toàn Thiện phải thực hành thì tạo quả mới ra được . 

Đạo cũng 2 vế:

1. Sát Trừ Phiền Não, 

2. Chứng Đắc Niết Bàn.

Hai cái đó, thì mình nhìn Sát Trừ Bỏn Xẻn, tiêu trừ bỏn xẻn thành tựu xả thí viên mãn.

Chữ Pāramī = âm là Ba-la-mật = dịch là Đáo Bỉ Ngạn - đến bờ an vui

Đáo là đến

Bỉ là an vui

Ngạn là bờ sông.

Arahat, Arahant âm là A-la-hán nghĩa là vô sinh, là không tục sinh nữa.

Tu Đà Hườn là âm của Sotāpanna dịch là bậc Thất Lai, mình tập cách dịch, không sài âm nữa vì nó không có nghĩa, rồi mình không hiểu được nghĩa thì mình hiểu sai ý của từ ngữ đó.

Pārami đến bờ an vui, tức là làm sao để đến bờ an vui.

Khi đi trong các chi thiền; 

Tầm --> Cảnh 

Tứ  -->  Cảnh

Hỷ ---> Cảnh

Lạc --> Cảnh

Nhất Tâm --> chỉ còn 1

Tầm tới Cảnh, còn 2, còn tâm còn cảnh. 

Thí dụ, bờ sông mình đi xuống tàu đi qua bờ bên kia, thì Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, tới bờ bên kia thì chỉ còn 1 là Nhất Tâm.

Thì khi mình đi tới Pārami (Ba-la-mật) mình đi Sát Trừ Phiền Não. Ba-la-mật này mà đi đang Sát Trừ Phiền Não, Tâm Đạo thì hành Ba-la-mật Sát Trừ Phiền Não.

Thì trong khi mình đi Pārami Xả Thí Ba-la-mật đưa đến Giải Thoát Đạo Quả,

Xả Thí Ba-la-mật  / --->  /  Giải Thoát Đạo Quả, 

                       thì ở giữa là Ác Ma

 Giờ mình đặt câu của Đức Phật khi còn là Bồ Tát ngồi dưới cội cây,  do nhờ Xả Thí Ba-la-mật Ngài thằng được Ác Ma đi đến Đạo Quả, thì ở giữa là Ác Ma, một bên là Xả Thí Ba-la-mật, một bên là Đạo Quả

Xả Thí Ba-la-mật của Bồ Tát Giác Hữu Tình

Xả Thí Ba-la-mật  / --->  /  Giải Thoát Đạo Quả, 

 Bodhisatta                       Bậc Chánh Đẳng Giác

Giác Hữu Tình                   Níp-bàn

Quí Phật tử đang ở trong vế nào ? vế 1 hay 2. Ở trong 2 vế, thì khoảng trống ở giữa.

Ngài đi Xả Thí Ba-la-mật đến bờ an vui, thì trong Xả Thí Ba-la-mật Ngài đi tới bờ an vui thì pháp nghịch của Ngài, như mình học, lực đẩy, lực kéo, lực trì cản , thì trong khi Ngài đi như vậy pháp nghịch của Ngài là ác ma, bỏn xẻn, hay pháp bất thiện, phiền não, thì lúc đó Ngài biết, các quí Phật tử mình biế.

Khi Xả Thí thì có 2 là vật chất và tinh thần.  Mình có 2 loại xả thí; xả thí vật chất và tinh thần. Nó chỉ là một cảnh thôi, nó chỉ là một đối tượng thôi. 

1. Thí dụ như xả thí vật chất, mà trong xả thí vật chất này mình xả thí ba-la-mật.

2. Còn khi xả thí pháp, một pháp thoại hay một lời dạy của Đức Phật, hay kinh sách, thì cái đó là xả thí về tinh thần.

3. Còn xả thí vừa vật chất vừa tinh thần.

Tức là xả thí có 3 loại: 

1. Vật chất đơn

2. Tinh thần đơn

3. Vật chất và tinh thần

Có những cái mình chỉ có xả thí vật chất thôi, không có cái gì trong tinh thần được. Thí dụ, trên đường đi gặp nhiều người ăn xin, lúc bấy giờ đối với người ăn xin là đối tượng để mình xả thí, thì mình xả thí vật chất đơn thuần.

Sư nói cái này chỉ nói về Cảnh thôi, Sư đi từng vế. 

Thì có khi mình chỉ đi vật chất với đối tượng đó thôi, mình bố thí xong mình đi. 

Có những cái người ta không cần gì về vật chất nhưng người ta cần tinh thần, mà lúc bấy giờ mình cho vật chất thì là không đúng, người ta cần tinh thần.

Bây giờ thí dụ một người giàu có nhưng họ đang đau khổ về tinh thần thì lúc đó mình không cho họ vật chất, họ cần tinh thần thì mình bổ túc tinh thần cho họ. 

Thì lúc đó, có khi là xả thí vật chất, có khi xả thí là tinh thần, có khi cả vật chất và tinh thần. Thì cái đó là đối tượng.

Nên mình làm mình biết, mình phải biết. Thì tại sao mình biết cái này là vật chất thôi ? Tại sao mình biết cái này là tinh thần thôi ? Là mình phải biết vì trí tuệ của mình làm điều này, chứ không phải làm không có trí 

Thì khi mình đứng trong cái đó mình làm được việc xả thí vừa vật chất vừa tinh thần thì xả thí của mình là mình được một việc Xả Thí Thiện. Cái này mình mượn đối tượng, có khi chính mình là đối tượng và họ là đối tượng, mình có cả hai. Trong khi mình làm cái này thì mình có một xả thí, bắt đầu mình làm qua Ba-la-mật.

Tới Xả Thí Ba-la-mật. Mình làm Xả Thí Ba-la-mật thì mình được diệt trừ phiền não, giải cứu, giải thoát. 

 Pārami Xả Thí Ba-la-mật đưa đến Giải Thoát Đạo Quả, là mình giải cứu để giải thoát thì nó ra ý nghĩa đó.

Thế thì khi mình xả thí, mình nói mình diệt trừ cái bỏn xẻn trong mình, là mình mượn đối tượng để mình diệt trừ bỏn xẻn của mình hay là sự dính mắc của mình, xả thí ra. Nhưng trong khi đó mình giải cứu mình thoát khỏi cái phiền não này, thoát khỏi luân hồi, thoát khỏi khổ đau. Mình phải có cái đó thì mới ra được.

Nên trong quyển Biên Niên Sử Ngài Mingun nói Pārami là giải cứu, rồi mới giải thoát, chứ không nói suông Đáo Bị Ngạn đến bờ an vui, nên sau này Sư sợ người học của mình người VN mình thôi chứ người nước ngoài người ta không có, Sư sợ các quí Phật tử VN mình, cái chữ Bồ Tát họ mang một chức năng lớn lắm, trong khi chữ Bồ Tát mà mình đang nói là họ đang tu tập để họ giải thoát cho họ, thì mình không để chữ Đức Bồ Tát được, mình phải để là bậc Giác Hữu Tình, chứ chữ Bồ Tát kia nghĩa là cứu độ, ra tay tế độ có thần lực có nhiệm màu có phép.

Thì chữ Balamat (Pārami) mình đang đi trên đường là bậc giác hữu tình, mình đang giải cứu mình, giải thoát mình và cứu độ chúng sinh. Thì trong khi đó những cái mà mình làm được bố thí vật chất cho người tức là mình hiểu được cái cách xả thí cho mình một cái Ba-la-mật.

Nếu không hiểu cái vế bố thí có lúc cần vật chất, có lúc cần tinh thần, có lúc cả hai vật chất và tinh thần, thì trong lúc mình xả thí thiện, xả thí Ba-la-mật, có lúc mình đang là giải cứu hay mình chỉ làm được việc thiện thôi mà chưa có giải thoát mình còn ở trong cái xả thí này hưởng lợi.

Mình mới thấy tại sao mượn chúng sinh làm đối tượng hành Ba-la-mật (Pārami) . Tại vì không có việc làm này, không có trường hợp này, không có người này, mình không có giải cứu mình được.

Cái vi tế là mình phải giựt mình mà mình nghiệm ra được không và không được là mình phải học.

Bồ Tát Sĩ Đạt Đa lúc Ngài còn ở trong hoàng cung Ngài không có cái gì để giải cứu Ngài, Ngài cứu người ta được, tiền tài, danh vọng, 3 tòa lâu đài, 4 hầm châu báu, Nhưng Ngài nói ta phải giải cứu ta.

Chữ giải cứu này là nằm ở trong chữ Ba-la-mật (Pārami), Ngài nói ta phải giải thoát cho ta, thì nó nằm ở chữ Ba-la-mật (Pārami).

Thì khi mình đứng trong trường hợp như Bồ Tát Sĩ Đạt Đa, tiền tài, danh vọng, mình có hết, hay là mình hưởng ? Cái đó mới hiện ra trạng thái vì sao cướp nội tạng của người ta là vì để kéo dài tuổi thọ mình lên, tại vì người ta sợ chết chứ người ta đâu có giải cứu. Đi cướp của người khác để làm cho tuổi thọ mình tăng lên, nội tạng họ được làm mới để cho tuổi thọ của họ được tăng lên. Chứ thật ra không phải Ba-la-mật. Mình ở trong cái đó mình mới thấy mình chưa giải cứu mình, chưa có giải thoát mình một khi mình đắm chìm trong đó.

Nên chữ Ba-la-mật (Pārami) rất là cao quí, nó có tính chất là tối thượng, là sự nhiệm màu. Thật sự chữ giải cứu là giải cứu phiền não.

Cho dù đầy đủ như Sĩ Đạt Đa trong hoàng cung thì Ngài vẫn còn trong phiền não. Mình đây cũng vậy.

Sư ngồi đây tu, Sư nói với quí Phật tử mình ở đây an vui chứ ở ngoài khổ lắm, phiền não đầy, người nào cũng có, và không thoát ra được. Nhưng mình giải cứu mình trước, mình ở trong chùa mình đã ở trong trạng thái an lành rồi, mình giải cứu mình trước, mình giải thoát phiền não mình trước.

Do đó, những cái đó làm cho mình phải thấy rằng là những pháp Ba-la-mật (Pārami) này là mình phải đặt cái vế đầu tiên là mình phải giải cứu cho mình, phải giải thoát cho mình, thì cái đó đi qua con đường Ba-la-mật (Pārami).

Khi Đức Phật Ngài Sumedha tu tập từ Dāna tới Pariccāga gọi là Phóng Khí, Ngài không còn lựa chọn nữa, còn xả thí là còn lựa chọn, Pariccāga gọi là Phóng Khí là bỏ đi luôn. Bảy ngày đầu Sumedha còn mở cửa kho cho dân chúng vào muốn lấy gì thì Ngài cho, sau Ngài nghĩ ta đã cho rồi thì còn đứng giữ cửa làm gì nữa, thì Ngài bỏ đi luôn, ai tới lấy gì cũng được, đó là Pariccāga là Phóng Khí. Tức là lúc đó Ngài đã đi tới Ngài vô Dāna rồi Ngài giải cứu sau tới Pariccāga gọi là Phóng Khí là Ngài giải thoát, ra khỏi phiền não

Thiền sinh hỏi: như lời Sư dạy,  vậy là tất cả 10 Ba-la-mật (Pārami) hay là 30 Ba-la-mật thì tùy mình, làm một Ba-la-mật là có 2 vế, cái thứ hai là giải thoát phiền não?

HT trả lời: Mà cái đó là 2 vế Ba-la-mật (Pārami)  là giải cứu và giải thoát. Mà làm đúng 2 cái này là thành Ba-la-mật (Pārami) , một Ba-la-mật (Pārami) , mình giải cứu cái phiền não, rồi mình giải thoát cái phiền não. Mình bị kẹt trong cái phiền não này mình phải giải cứu nó, sau đó mình thoát ra khỏi cái này thành một cái Ba-la-mật (Pārami) hay là thành tựu. 

Nhưng mình không có, thường thường mình làm có một vế. 

Do đó khi mình làm được mấy cái này, mình viết xuống mình mới thấy thật sự là mình còn phải tu tập trao dồi nhiều, mà không có thì giờ, đối với các quí Phật tử đây Sư lo là không có thì giờ để mà bỏ phí nữa.

Do đó mình phải thấy mình xả thí Dāna mà mình chưa Phóng Khí (Pariccāga), mình xả thí mình chưa phóng khí, nếu mình chưa giải cứu mình thì không có giải thoát, mình phải giải cứu mình mới giải thoát. Cả hai vế đó không rời, nó luôn luôn đi đôi.

Đức Phật Ngài nói chỉ có Ba-la-mật (Pārami). mới đi đến giải thoát. Nếu như là đệ tử Đức Phật tại gia hay xuất gia cũng vậy mà không hành Ba-la-mật (Pārami) thì còn luân hồi, tái sinh trở lại là nhân, thiên. Mà gương thấy trước mắt quí Phật tử phải học, đừng có quên, là Đại Phạm Thiên Sahampati. Hai người cùng tu, Bồ Tát đi con đường Ba-la-mật (Pārami) nguyện giải thoát, còn Sahampati đi con đường Thiền Chỉ, sinh về cõi trời Sắc Giới làm vị Đại Phạm Thiên.

Mình tự giải cứu những phiền não thì mới giải thoát khỏi phiền não, không ai giải cứu cho mình, không ai giải thoát cho mình.

Sacca có 2 pháp là Sacca Vādā = Chân Ngôn (lời nói chân thật)

                             Sacca Kiriyā = Chân Hạnh (hành động chân thật)

Sống bằng lời nói chân thật và hành động chân thật thì có quyền lực, không ai đánh đổi mình được, mà mình nói người ta có sự khiếp phục.

Đức Phật Ngài nói 2 pháp sinh ra có quyền lực là phải chân ngôn và chân hạnh.

Từ ngữ: Như Lai Tathāgata là Như Lai nói sao làm vậy, nghĩ sao nói vậy.

Có một cô kỹ nữ ngồi bên giòng sông, nước sông chảy cuồn cuộn, ông vua và đoàn quân đi tới muốn qua sông, thì bà nguyện: Từ khi tôi sinh ra với sắc đẹp này tôi chỉ là sự vui chơi cho tất cả vị có tiền, do lời chân thật này và hành động chân thật này xin cho giòng sông này ngưng lại để vua và đoàn quân đi qua." 

và ông vua cùng đoàn quân đi qua được, ông vua hỏi: Ngươi có phải là Chư Thiên không, ngươi có phải là Dạ Xoa không, ngươi có phải là Atula không ? Bà trả lời là không, vua hỏi tiếp thế tại sao nước đang chạy mà ngưng lại, bà trả lời tôi chỉ có lời nói chân thật, và tôi có một đời sống chân thật chân ngôn.

 Bây giờ, con người mà không có chân thật, và hành động của họ không có chân thật thì làm sao có quyền lực, họ sống trong sợ hãi thì sao có dũng khí dũng mãnh được. 

Nên Đức Phật nói  2 pháp Sacca Vādā = Chân Ngôn (lời nói chân thật) ,  Sacca Kiriyā = Chân Hạnh (hành động chân thật) là người có quyền lực

Mấy cô phải sống chân thật, lời nói phải chân thật, không mua bán, không đi tìm kiếm, nó đến một cách rất là phi thường. Đức Phật nói đó là mãnh lực phi thường.

Lời nói chân thật, hành động chân thật nó phải nằm trong Ba-la-mật (Pārami) 

          Sacca nằm trong Ý

          Vādā nằm trong Ngữ

          Kiriyā nằm trong thân

Ý mình phải chân thật thì lời nói mình mới chân thật, hành động về Thân mình mới chân thật.

Như thế thì khi muốn có Sacca Vādā = Chân Ngôn (lời nói chân thật) thì lời nói mình phải chân thật. Muốn có hành động chân thật thì ý của mình phải chân thật mình mới có hành động chân thật được, chứ không có đi hai chiều, không có 2 cái đảo ngược nhau được. Thì mình mới được an vui, và mình tự giải cứu mình trước, rồi sau đó mình giải thoát cái khổ.

Thiền sinh hỏi: Thưa Sư, có người họ vừa tà ngôn vừa tà hạnh mà họ lại có quyền lực.

HT trả lời: Họ ăn cơm nguội. Tích truyện bà Vishaka nói cha chồng ăn cơm nguội “siu nguội” (purārakaṃ) như sau:

Ngày nọ, khi Migāra đang ăn một món cháo thật bổ dưỡng nấu bằng gạo trộn mật ong, đựng trong bát bằng vàng. Một thầy tỳ khưu đến trước nhà trì bình khất thực. Visākhā đang hầu quạt cha chồng nên đứng qua một bên cho ông thấy rõ vị sa môn mà phát tâm sớt bát. Nhưng Migāra giả vờ không thấy và vẫn tiếp tục ăn.

 Visākhā bèn nói với vị sa môn: “Bạch ngài, xin hãy đến nơi khác hóa duyên. Cha chồng tôi đang ăn cơm nguội!”

Người cha chồng, Migāra, rất giận dữ khi nghe những lời mà ông xem như sỉ nhục này, muốn đuổi cô ra khỏi nhà ngay  Ông bèn mời tám vị cố vấn để phàn nàn về người con dâu. 

Visākhā giải thích rằng tất cả những phước báu mà ta được thọ hưởng hôm nay đều là quả lành của những thiện nghiệp trong quá khứ,  cũng như ăn thức ăn cũ mà thôi; không cúng dường chư tăng là không tạo nên công đức mới cho quả lành mai hậu. Nghe những lời này, các vị cố vấn kết luận rằng thái độ của cô không có gì sai quấy. 

 Mà cái đó trong thập thiện lực, tức là trí tuệ của Đức Phật có 10 lực, thì Ngài nói truy tìm nghiệp tam thời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Ngài có tam thời nghiệp trí, Ngài biết được lực quá khứ, nghiệp lực hiện tại, nghiệp lực vị lai.

Nếu như ông cha chồng này giàu có thì biết là quá khứ ông có làm phước, mà bây giờ ông không gieo trồng thì trong vị lai ông không có nữa, đó là 3 thời rồi.

Mình học rồi mình áp dụng thì mình có trí tuệ của Đức Phật. Có lần Sư nói mình mượn trí tuệ của Đức Phật, chứ mình không có sẵn, mà mình muốn có thì mình phải áp dụng lời Đức Phật.

Ở đời này người ăn cơm nguội nhiều lắm, nhưng họ không biết là họ đang ăn cơm nguội. Còn người ăn cơm mới thì ít, tại vì họ ít biết để làm phước để có cơm mới ăn.

Đi đến bờ an vui, tức là từ nơi phiền não để đến bờ an vui, mà trong cái đến bờ an vui bỏ phiền não thì mình phải tự giải cứu mình. Mình giải cứu mình được thì mình mới giải thoát được, rồi mình ra khỏi cái phiền não mình tới nơi không còn phiền não nữa.

Nếu mình trong Ba-la-mật (Pārami) mình cũng phải có Thiền An Chỉ Samadhi, và cũng có Thiền Minh Sát Vipassana, và trong cái đó mình tu tập và trong tu tập đó phải có trí tuệ.

Trong Thiền An Chỉ Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, thì không có trí

Trong Thiền Minh Sát Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ, thì có trí (Tuệ)

Thiền sinh hỏi: Thưa Sư, trong Thiền An Chỉ Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, đó là tới Tứ Thiền thì lúc đó là mình tu tiếp nữa là nó có Thắng-trí (abhiññā), thì nó là thắng trí, là Tuệ (Trí) ?

HT trả lời: Muốn có có 5 chi thiền trong Thiền An Chỉ Samādhi là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, mình phải trong Đại Thiện Tương Ưng Trí. 

Trong 5 chi thiền Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí. Thì khi tới trạng thái Nhất Thống (Nhất Tâm) là Định, và Định đi xuống tới Tuệ, Đại Thiện Tương Ưng Trí + Tuệ = Thắng-trí (abhiññā)

Mình có nhiều cách để đi tới Đạo Quả, mà tại vì mình không có cái tâm để đi tới Đạo Quả, hay là tầm cầu Đạo Quả, hay là tu tập để được Đạo Quả, mà mình bị nghiệp báo quá khứ lậu hoặc triền cái nó lôi kéo mình.

Ngay cả người xuất gia cũng vậy, họ gột rửa hết rồi, họ cắt ái đi xuất gia, nhưng tới khi vô trong môi trường của Tam Bảo, danh thơm, tiếng tốt, lợi lộc, tất cả những cái nó tới là họ vuột hết. Cái người tu mắc nợ nặng hơn người bên ngoài, tại vì họ thọ ơn của Tam Bảo, người bên ngoài không có mắc nợ, như đồng tiền của ông Sư, hay tài vật Tam Bảo. 

Cũng như miếng đất mà không có gieo trồng mà muốn cho người ta dọn dẹp cỏ lác gai góc thì mình thiếu nợ người ta công làm sạch miếng đất. Còn cái miếng đất người ta đã gieo trồng rồi thì người vô muốn lấy những thứ mình gieo trồng và người ta dọn sạch cỏ gai cho mình thì mình không thiếu nợ. Còn cái kia không làm ra mà muốn người ta dọn sạch sẽ miếng đất của mình là mình thiếu nợ.

Thì ngay khi mình đang ở trong trường hợp đầy đủ như vậy mình vẫn còn bị.

Vậy thi khi, trong đời sống hàng ngày mình dùng trí tuệ của Đức Phật Tam Thời Nghiẹp Trí mười Như Lai trí lực (Tathāgatabalañāṇa), hôm nay mình có cái này tức là quá khứ mình có, và nếu hôm nay mình không gieo nữa hay là mình không vun bồi nữa thì ngày mai mình sẽ không có. Kiếp này là quá khứ có, vị lai có là do kiếp này vun bồi. Mình không tự giải cứu thì mình không giải thoát.

Trong Ngũ Ác Ma (pañca-māra) viết lên tờ giấy xem quí Phật tử sợ loại ma nào nhất ? Hay loại ma nào quí Phật tử không dám đối diện nó.

 Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:

1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.

2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra) (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.

3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.

4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.

5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.

Khi quí Phật tử nói sợ Ngũ Uẩn Ma thì coi lại phần Māra trong cuốn Chính Thị Kim Sinh.

Ngũ Uẩn Ma; Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, nếu mà nó trơn thì không có gì để là ma, Sắc thân mình mà nó trơn không có cái gì thì không có gì là Māra. Còn nếu như Thọ của mình mà nó trơn, nó không có cái gì thì không có Māra. Tưởng cũng vậy, Hành cũng vậy, Thức cũng vậy.

Ngũ Uẩn Ma là cái bàn, cái ghế, căn nhà, chiếc xe, đồng hồ, vật dụng để nó giống cơm nguội, còn nếu nó tinh khiết thanh tịnh thì đâu có bị.

Bây giờ như Bồ Tát (bậc Giác Hữu Tình) hay Đức Phật, hay các bậc Thánh Nhân, các Ngài không nói Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra) , mà các Ngài nói Phiền Não Ma (Kilesamāra).

 Phiền Não Ma (Kilesamāra) xâm nhập vô Pháp Hành nó là ác ma, nó xâm nhập vô trong uẩn làm Thủ Uẩn Ma. Không nói diệt trừ thủ uẩn mà nói diệt trừ phiền não.

Ngũ Uẩn Ma do từ Phiền Não Ma ra. Đối với Đức Phật và các bậc Thánh chỉ diệt trừ phiền não chứ không diệt trừ ngũ uẩn.

Khi mà quí Phật tử nói sợ Ngũ Uẩn Ma là không đúng, Ngũ Uẩn của mình mà ma nhập vô là do phiền não.

Ngũ Uẩn của Đức Phật, Ngũ Uẩn của các bậc Thánh Nhân, Ngũ Uẩn của các người tu tập diệt trừ được phiền não thì Ngũ Uẩn của họ là thanh tịnh thuần tịnh. 

Phiền Não sinh ra Ngũ Uẩn, phiền não tái sinh ra Ngũ Uẩn. Mình bỏ kiếp này này mà phiền não còn thì tái sinh ra một Ngũ Uẩn khác.

Cho dù quí Phật tử không có ngũ uẩn thì vẫn có nghiệp hữu trong thế gian và đi đến đâu nó cũng xâm nhập tấn công mình, ngũ uẩn này hay ngũ uẩn kia cũng vậy, nó nằm trong lưới của phiền não.

 Bây giờ mình mới hiểu được, thì khi mình hành Ba-la-mật (Pārami) với 2 vế Sát Trừ Phiền Não và thành tựu Ba-la-mật (Pārami) thì quí Phật tử mình phải Sát Trừ Phiền Não này với pháp Ba-la-mật (Pārami) để Sát Trừ Phiền Não mà mình đang có, và không nói một chiều được. Một là tài vật, hai là tinh thần, ba là vừa vật chất vừa tinh thần với đối tượng đó và chính mình cũng là đối tượng đó, mình phải biết, mình phải trí tuệ để mình giải quyết, chứ không phải mình nói suông. Cái đó mới là trí.

Trong khi mình đi hành Ba-la-mật (Pārami) mình đi cả 2 luôn vì mình đang tu tập:

                  - Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm

Bhāvanā 

                  - Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ

thì 5 chi Thiền này của Thiền An Chỉ để hành Ba-la-mật (Pārami) thì sẽ thấy Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm với cảnh là đối tượng mình hành Ba-la-mật (Pārami) này với Tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí, sau đó mình mới nghiệm cái pháp Ba-la-mật (Pārami) mình đang hành đó mình an trú cái pháp hành mình đang có rồi Trí Tuệ này mới ra để mình mới giải quyết được Đạo Quả Giải Thoát.

Vậy thì người ta hỏi người đang hành thiền An Chỉ Samādhi có trí tuệ không ?

 Trả lời là có. 

Trí Tuệ nằm ở đâu ? Nằm ở Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Đại Thiện Tương Ưng Trí đi vô tới phần Thiền Minh Sát tới Thắng Trí.

Tuệ thứ 1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc

                             Niệm    Danh / Sắc

                             Định     Danh / Sắc

                             Tuệ      Danh / Sắc

  Tuệ này là quí Phật tử đang hành Minh Sát Trí Vipassanā, đó là quí Phật tử đang đi Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ, thì dĩ nhiên là quí Phật tử có áp dụng Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm vô trong Vipassanā.

Rồi bây giờ mình quay ngược vấn đề, với một Minh Sát Trí mà quí Phật tử đi vào trong con đường hành Ba-la-mật (Pārami) thì đi bằng cái nào?

Tôi tu Ba-la-mật (Pārami) với Minh Sát Trí Vipassanā thì đi bằng cái nào ?

Bây giờ mình áp dụng phương pháp này tu Ba-la-mật (Pārami)

Vậy thì khi quí Phật tử đi Minh Sát Trí Vipassanā mà đang hành Ba-la-mật (Pārami) trên VipassanāVipassanā trở thành cảnh hay là đối tượng cho mình để mình hành.

Tuệ thứ nhất Phân Biệt Danh Sắc Ba-la-mật (Pārami)

Ở đây mình không nói Chế Định, mình nói về Siêu Lý.

Tuệ thứ 1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc

                    Niệm    Danh : Tôi / Ta / Sinh / Diệt (Thọ, Tưởng, Hành, Thức)

                                Sắc: Tôi / Ta / Hoại Diệt

                                Định     Danh / 

                                            Sắc

                                 Tuệ      Danh / 

                                             Sắc

Thì cái phiền não của Danh mà mình niệm ra được là cái gì mình mới thấy được là cái gì? cái Tôi / Ta / Sinh / Diệt, là cái nào ?

 Tuệ Phân Biệt Danh Sắc khi mình tìm ra được nó thì mình mới phân biệt được 2 thành phần trong con người mình và mình không còn lầm nữa

Thì đầu tiên là bấy lâu nay nếu mình hành Ba-la-mật (Pārami) cho tuệ thứ nhất này thì Danh này đó là một cái phiền não là vì mình hiểu lầm có tôi, ta của mình trong đây.

 Cái phiền não Danh mà mình niệm được để mà phân biệt được nó hiển lộ từ nơi trạng thái "Tôi, Ta" chứ không phải Sinh Diệt. Sinh Diệt không có phiền não, mà cái "Tôi, Ta" mới là cái phiền não, và mình phải tu Ba-la-mật (Pārami).

Vậy thì khi quí Phật tử niệm được "Tôi, Ta" trong cái Danh này thì mình mới hành Ba-la-mật (Pārami) được, rồi mới giải cứu thì mới giải thoát.

            Danh --> Thọ,  Tưởng, Hành, Thức

            Sắc -->  Tôi, Ta, Hoại, Diệt.

Sắc này giờ mình tìm ra được là nó phiền não, cũng vậy sắc này là "Tôi, Ta" thôi. Nó không nằm trong Pháp Thực Tính thì mình hành Ba-la-mật (Pārami) . 

Nếu quí Phật tử không tìm ra được cái đó trong cái niệm này là quí Phật tử niệm Minh Sát Tuệ thôi, niệm trong cái suông thôi. Chứ mà bây giờ niệm mỗi một cái tuệ thứ nhất nó có một cái phiền não của nó thì cái đó  hành Ba-la-mật (Pārami)  để giải cứu nó, giải thoát cái phiền não đó thì qua cái Ba-la-mật (Pārami) trong cái Minh Sát Trí.

Như thế thì nói lại, bấy lâu nay nếu mình hành Minh Sát Trí là mình có được Minh Sát Trí. Nhưng nếu hành Ba-la-mật (Pārami) thì mình chưa, mình đi con đường Minh Sát Trí thôi, biết phân biệt Danh Sắc nhưng chưa diệt phiền não. Phiền não vẫn còn và con đường Minh Sát Trí chỉ có Tuệ biết thôi chứ giải thoát hay giải cứu mình chưa có.

Giống như người học sinh vô lớp học thi cử đỗ đạt thì là người học thức chứ chưa phải là họ giải thoát được cái phiền não trong cuộc đời. Còn khi họ học xong rồi ra đời thì có thêm những chuyện phiền não khác họ không thấy, họ lấy cái kiến thức của họ che lấp đi và họ sống trong cái nghề của họ để sống cho qua ngày tháng.

Ngay cả các nhà Sư xuất gia cũng vậy, học xong rồi, có kiến thức rồi đi thuyết giảng, nhưng họ không có trong giải cức giải thoát, cái phiền não của họ thì họ trở thành một người pháp sư giảng sư giỏi lắm, nhưng mà trở về chính mình phiền não vẫn còn, tức là chưa có kết quả của Ba-la-mật (Pārami) và con đường đó còn luân hồi.

Thì khi tuệ thứ nhất mà mình phân biệt được Danh và Sắc, hay mình nói theo kiểu chế định là tinh thần và thể xác nó chỉ là một ổ phiền não "Tôi, Ta"  thôi thì mình đi Ba-la-mật (Pārami), khi mình áp dụng cái đó với phương pháp của Thiền Minh Sát Trí mà mình đi Ba-la-mật (Pārami) này thì mình được Ba-la-mật (Pārami) vượt qua từng giai đoạn của Minh Sát Trí, thì mình đi tới đường Đạo Quả đó mới có kết quả.

 Mình đi như vậy mới ra được Đạo Quả, Thuận Tùng (anuloma) , Cận Hành (upacāra), Chuyển Tộc (Gotrabhū), Đạo (Magga) và Quả (Phala) nó mới có.

 Còn kia mình đi tới Hành Xả Trí (Saṅkhārupekkhā ñāṇa) cái mình trở lại, không đi qua được, vì không có sát trừ phiền não nên không đi qua được.

---------------------------------------------

MƯỜI SÁU  TUỆ MINH SÁT - 16 Tuệ Minh Sát (Vipassanāñāṇa)

Tuệ thứ 1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc.

Tuệ thứ 2. Paccayapariggaha ñāṇa: Tuệ nhận biết nhân của mỗi sắc pháp và danh pháp cùng sự tương duyên giữa hai pháp.Tuệ phân biệt nhân duyên.

Tuệ thứ 3. Sammasana ñāṇa: Tuệ thấu đạt, nhận thức danh-sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā). (Phổ Thông Trí)

Tuệ thứ 4. Udayabbaya ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). Tuệ sanh diệt.

Tuệ thứ 5. Bhaṅga ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc. Tuệ diệt. 

Tuệ thứ 6. Bhaya ñāṇa: Tuệ kinh sợ.

 Tuệ thứ 7. Ādīnava ñāṇa: Tuệ quán chiếu hiểm họa, tức quán chiếu trạng thái nguy hiểm của các hành. Quá Hoạn Trí, Bố úy trí: Cái trí thấy được sự đáng sợ của các hành. Khi hành giả tu tập về quán diệt sung mãn, sẽ thấy tính chất của các hành thật khủng khiếp, khi y muốn sống yên ổn.

Tuệ thứ 8. Nibbidā ñāṇa: Tuệ quán chiếu tình trạng chán nản. Quyết Ly Trí

Tuê thứ 9. Muñcitukamyatā ñāṇa: Tuệ muốn giải thoát. Dục Thoát Trí

Tuệ thứ 10. Saṅkhārupekkhā ñāṇa:  Tuệ xả hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các hành. Hành Xả Trí

Tuệ thứ 11. Paṭisaṅkhā ñāṇa: Tuệ suy tư

Tuệ thứ 12. Saccānulomika ñāṇa: Tuệ thuận thứ (thuận theo thực tế, tức thuận theo Tứ Diệu Ðế).

Tuệ thứ 13. Gotrabhū ñāṇa: Tuệ chuyển tánh, vào lúc "chuyển thay dòng dõi" (tức từ phàm trở nên Thánh).

Tuệ thứ 14. Magga ñāṇa: Ðạo tuệ.

Tuệ thứ 15. Phala ñāṇa: Quả tuệ.

Tuệ thứ 16. Paccavekkhaṇa ñāṇa: Tuệ ôn duyệt.

--------------------------------------------

Khi mình tu Minh Sát Trí, Sư thường hay nói là mình hành Đạo hay hành Thiền. Nếu mình hành Đạo, mình áp dụng Ba-la-mật (Pārami) thì mình nhìn thấy Danh và Sắc trong phân biệt này chỉ là một sự phiền não thôi, và mình phải giải cứu cái này và mình phải giải thoát nó, và mình không có lập lại.

Thiền sinh hỏi: Lúc mình hành Minh Sát Trí Vipassana thì dĩ nhiên mình cũng phối hợp giữa cái Ba-la-mật (Pārami) ở trong đó rồi ?

HT trả lời: Chưa, mình thường thường nặng về vấn để tìm ra được Danh Sắc "tôi phát hiện được danh, tôi phát hiện được sắc" chứ mình không để ý tới phiền não ở trong đó.

Thiền sinh hỏi tiếp: Khi có Niệm có Định có Tuệ rồi thì có Chánh Kiến. Khi có Chánh Kiến rồi thì thấy Tập Đế và Khổ Đế, mà khi thấy được Tập Đế và Khổ Đế là mình phân biệt được "Tôi, Ta" là phiền não, ngay khi đó mình đi ra mình mới là áp dụng Ba-la-mật (Pārami) là Bố Thí Ba-la-mật (Pārami) hay Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) , Trí Tuệ Ba-la-mật (Pārami) thì lúc đó mình đi luôn, chứ thật sự cái này khỏi cần phải đi từng đoạn từng đoạn.

HT trả lời: Khi mà cô nói cái đó là cô có hướng nhìn. Hồi trước tới giờ mình không biết con người có 2 thành phần tinh thần và thể xác, hay danh từ Siêu Lý là Danh và Sắc, giờ mình tìm ra được.

 Hít vô là Sắc, mà biết hít vô là Danh. 

Biết chân dở là Danh, chân dở là Sắc.

 Đó là phân biệt Danh Sắc, bắt đầu mình khắn khích cái đó, chứ mình không thấy đó là phiền não.

Rồi bắt đầu mình tìm cái nhân sanh ra Danh Sắc, đó là tuệ thứ hai

Tuệ thứ 2. Paccayapariggaha ñāṇa: Tuệ nhận biết nhân của mỗi sắc pháp và danh pháp cùng sự tương duyên giữa hai pháp.Tuệ phân biệt nhân duyên.

Rồi tuệ thứ 3, tu một thời gian mình thấy nó. Nó có Sanh Diệt thì mình thấy Tam Tướng, chứ mình không thấy nó phiền não, mình không thấy mình đang hành Ba-la-mật (Pārami)

Tuệ thứ 3. Sammasana ñāṇa: Tuệ thấu đạt, nhận thức danh-sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā). (Phổ Thông Trí)

Nếu mình trở lại là khi mình có Chánh Kiến, mình thấy được 2 vế là Tập Đế và Khổ Đế.  Trong Tập Đế nó là phiền não, trong Khổ Đế đó là rừng phiền não, Nibbana là không có phiền não. Mình có Chánh Kiến, mình thấy được 2 vế là Tập Đế và Khổ Đế, nhưng mình không thấy nó là phiền não. 

Chính cái đó giờ mình tu lại. Chỉ cần một sát na hay một pháp hành, chỉ là một lần mình tìm ra được, tôi hành Ba-la-mật (Pārami) chính xác với 2 vế tôi phải giải cứu phiền não này, tôi giải thoát khỏi phiền não này trong phần Danh và Sắc mà tôi phân biệt được trong con người tôi rõ như vậy.

Thiền sinh hỏi: Mình nói trong Danh có phiền não, trong Sắc có phiền não, vậy phiền não trong Danh là cái gì ?

HT trả lời: Phiền não trong Danh là Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Phiền não trong Sắc là Sắc Uẩn. Mình nói theo Siêu Lý, cái đó là một rừng phiền não. 

Bây giờ mình nói Tứ Xuất Sinh Xứ của Sắc (Catusamuṭṭhànikarùpa) là Nghiệp Lực, Tâm Thức, Vật Thực, Qúy Tiết, cũng là một phiền não. 

Tứ Nhân Sanh Tâm, Tứ Nhân Sanh Danh là nghiệp quá hhứ, cảnh, căn và hành sự tác ý, cũng là phiền não.

Thế thì khi mà mình lấy được Chánh Kiến mà 2 vế thấy được cái hướng đi là Tập Đế là phiền não, Khổ Đế là một rừng phiền não thì mình mới có ly tham, ly sân, ly oan trái trong Danh Sắc này mình mới có Chánh Tư Duy, còn ngoài ra mình nói lý thuyết suông.

 Ly tham cái gì, nếu mà ngũ uẩn thường không có phiền não không có bất tịnh thì mình đâu cần ly, mà thật ra mình không có thuần, mình phải tu tập, mà chễnh mãng việc tu tập, ngừng trong tu tập, không tinh tấn trong tu tập là phiền não sinh lên. Nên nếu mình tu tập mà không có Ba-la-mật (Pārami) thì mình không giải cứu và mình cứ tiếp tục đè phiền não rồi phiền não mọc lên lại. 

Tại sao mà Thắng-trí (abhiññā),  tâm Đại Thiện Tương Ưng kết hợp với Minh Sát Trí, thấy được Thực Tinh, Thực Tướng thì mới là Thắng-trí (abhiññā). Còn cái kia mới là tuệ ñāna thôi như Đại Thiện Tương Ưng Trí thôi với 5 chi thiền. Quan sát với cảnh, hoan hỉ với cảnh, an vui với cảnh và nhiếp tâm với cảnh, chỉ vậy thôi, mình với trí mình làm vậy thôi chứ không abhi.

(Abhi nghĩa là vi tế hoặc thâm diệu), 

Nhưng khi mà abhi đi Ba-la-mật (Pārami) với Minh Sát Trí, vừa diệt trừ phiền não, vừa giải thoát chính mình, nên mới có câu là giải thoát tri kiến.

Có Chánh Kiến thấy được 2 vế mới giải được, có Chánh Tư Duy mới ly tham, ly sân, ly oán hận. Chứ ly tham không có suông như vậy được, phải ly tham trong các phiền não, ly sân trong các phiền não, ly oán hận trong oan trái phiền não, chứ không phải không có đối tượng, trong tư duy này.

Do đó, mình phải nghiệm lại qua tới phần định mà thấy được Danh, thấy được Sắc thì cô mới thấy mới sợ. Qua tới phần tuệ, trong Danh và Sắc mà mình đi tiếp  Ba-la-mật (Pārami)  mình mới thấy rõ, Sư chưa nói tới.

 Do đó, khi mình niệm được Danh và Sắc trong tuệ thứ nhất Tuệ Phân Biệt thì mình có Ba-la-mật (Pārami) liền trong đó là mình thấy đây là Danh Sắc phiền não thì mình phải giải cứu, 

- Bước thứ hai mình định vô Ba-la-mật (Pārami) chứ không phải mình định vô trong phần Danh Sắc.

- Bước thứ ba, cái tuệ vô trong phần Ba-la-mật (Pārami) của mình định của Danh Sắc mình mới ra được.

Khi mình qua cái niệm liền là mình đã có Ba-la-mật (Pārami) thì cái định tiếp của Danh Sắc này là phiền não không phài, thì đi Ba-la-mật (Pārami) tiếp, thì cái tuệ đi tiếp là Đạo Quả.

Cái tuệ thứ hai mình tìm được cái nhân và cái quả. Tuệ thứ ba là vô Tam Tướng liền. Nếu đi Minh Sát Trí liền, không phải như vậy, đó là công thức thôi, nhưng nếu đi Ba-la-mật (Pārami) mình mới thấy được tam tướng, chứ còn nếu đi Minh Sát Trí là mình chỉ thấy Pháp thôi, lấy thực tính thực tướng suông thôi chứ không có Ba-la-mật (Pārami) .

Nếu như người đắc được tuệ thứ ba là Phổ Thông Trí; Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, họ có giải thoát nếu họ thấy được tam tướng, đó là một, thứ hai là trong đời sống hàng ngày họ còn tái phạm lại những cái gì mà không phải là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã mà họ vẫn còn bị tái phạm trong cái phiền não này. 

Cũng giống như xả thí Ba-la-mật (Pārami) với xả thí thường. Xả thí thường thì không diệt được bỏn xẻn, hay không diệt được phiền não. Thì khi vẫn xả thí các phiền não vẫn còn. Nhưng nếu xả thí có Ba-la-mật (Pārami) thì cái xả thí này kết hợp với phiền não này thì một lần xả thí những lần sau thì không có cái nào mà phiền não tấn công được việc xả thí này, mình đi tới được. 

Thì câu đó cho mình ra được câu trả lời giải quyết được người đạt được tam tướng Phổ Thông Trí mà không có Ba-la-mật (Pārami) người đó chỉ đi công thức thôi, họ chưa giải thoát, họ thấy Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, nhưng ra khỏi Minh Sát Trí này, ra khỏi pháp tu này, qua khỏi niệm hiện tại này, họ trở lại vẫn còn cái phiền não đó không ra, thì làm sao đi tới Sinh Diệt, tới Hoại Diệt, Yểm Ly, Dục Thoát

 Do đó, một câu hỏi cho một câu trả lời, mình mới thấy được sự tu tập của mình và mình biết là mình đang đi trên con đường nào cho mình thấy tu tập con đường đó.

Khi đi tới Tuệ Phân Biệt Danh Sắc. Danh đó thuộc về vật chất hay là Danh thuộc về tinh thần. Danh đó phiền não thuộc về vật chất hay là tinh thần. Cả 3 cái đó mình phải tìm ra được.

Sắc đó là phiền não đó nó thuộc về vật chất, hay thuộc về tinh thần, hay là cả hai vật chất và tinh thần trong cái Sắc đó. Như có người cho nhưng không cần về tinh thần, có người không cần vật chất mà họ cần tinh thần thôi.

Thì khi phân biệt được Danh và Sắc mình đây là một cái phiền não thì bắt đầu mình đi  Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) trong tuệ thứ nhất. Tuệ Phân Biệt Danh Sắc  đi Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) thì lúc đó Danh mà mình đang Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) với cái Danh phiền não này là tinh thần hay là vật chất ?

Cái Sắc mà phiền não mình đang phát hiện được trong phần phân biệt Danh Sắc nó là vật chất hay tinh thần, hay là vừa vật chất và tinh thần ? 

Không trả lời được vì mình chưa có trải nghiệm.

Thì Sư trả lời là. Khi quí Phật tử đi tới phần tuệ Phân Biệt Danh và Sắc với Ba-la-mật (Pārami) xả thí chứ chưa nói tới 10 Ba-la-mật (Pārami) , nếu nói tới 10 Ba-la-mật (Pārami) thì sẽ thấy thù thắng lắm.

Thì khi Danh này là phiền não mà mình đang hành để giải cứu nó thì nó chỉ thuần túy là vật chất thôi, nó không có tinh thần trong đó, mà đem tinh thần vô  giải đáp nó là chỉ có một cái lý giải của kiết sử, nó không có Ba-la-mật (Pārami) , đó Danh nó chỉ là vậy mình biết rồi, không nói tới nó nữa, mình nhìn thấy nó là mình phiền não là mình tránh thôi, nó đã trả lời cho mình là phiền não rồi nó không có gì để mà nói tới nó, mà ngồi xuống để giải thích nó nữa, nó thấy ra nguyên khối rắn chắc, trong Thọ, Tưởng, Hành, Thức này nó chỉ là những phiền não, cũng như Sắc phiền não này nó cũng là vậy thôi, mình không có giải thích. Cái người mà ngồi mà giải thích đó là cái người đó phải bậc Chánh Đẳng Giác thấy rồi là giải thoát, thấy rồi là giải cứu, mình không có đi về mặt tinh thần nữa, mình lấy vật chất mình đi, vừa thấy vật, vừa thấy danh là đi liền, thấy sắc phiền não là đi liền, đó chỉ là vật chất thôi.  Mà đã vật chất nó là vô tri vô giác, không giải thích được.

Thì khi thấy Danh là phiền não, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này coi nó là một phiền não thì nó là vô tri rồi. Mà ngồi xuống giải thích nó, nó giải thích hơn mình, và mình không có kết quả trong cái tu này.

Do đó, Chánh Tư Duy, khi thấy Chánh Kiến, Khổ Đế, Tập Đế, Chánh Tư Duy là ly tham chứ không diệt tham, ly sân chứ không diệt sân. Mình đọc kỹ từ ngữ đó mình mới thấy là nó là vật chất thôi. Nếu nói diệt là phải nói về tinh thần, gặp nó là ly, không có gì để nói nữa, nó còn biết mà nói thì mình có tinh thần để mà nói, còn nó không biết để nói nữa, và nó không cần để mà nói nữa, thì mình chỉ thấy nó là vật chất thôi, mình đi tránh nó.

Nên khi Đức Phật Ngài thấy được Bệnh, Lão, Tử, Tăng, thì Ngài thấy được là Sinh, Già, Bệnh, Chết, và Níp-bàn, ly chứ không diệt, Ngài không có qua khỏi Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, nhưng Ngài ly khỏi Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã và không tái sinh lại.

Từ đó quí Phật tử mới có Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định, dùng Ba-la-mật (Pārami) để mà đi, chứ không phải Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định trong pháp hành mà mình có để mà mình hành tiếp.

Ly chứ không diệt và không tái lập lại nữa, không tái sinh lại nữa, và tôi không có trở lại nữa, và tôi không muốn chuyện đó lập đi lập lại nữa. Nó là phiền não, mình ly từ Ý. Từ Ý nó ra Ngữ.

Nên quí Phật tử phải hiểu Chánh Tư Duy với Ba-la-mật (Pārami) là ly chứ không diệt.

Chánh Kiến với Ba-la-mật (Pārami) thì thấy Danh và Sắc này là Tập Đế và Khổ Đế. 

Chánh Kiến có Ba-la-mật (Pārami) thì lấy Danh và Sắc này là Tập Đế và Khổ Đế.

Chánh Tư Duy có Ba-la-mật (Pārami) lấy Danh và Sắc này phải ly tham, ly sân, ly oán hận chứ không diệt.

Khi mà  ly tham, ly sân, ly oán hận, tham nó không có sự sống. Quí Phật tử ở trong đó tham mới có sự sống, ly tham không có sự sống, ly sân thì sân không có sự sống, ly tức là mình không để ý tới nó, không quan tâm tới nó, thì sự sống đó, sự đang có nó bắt đầu mất dần.

Cái tham nếu còn để ý tới nó là nó còn lên xuống, còn không để ý tới tham mà chỉ tập trung Ba-la-mật (Pārami) toàn thiện thì tham không có cơ hội để sống, sân không có cơ hội để sống.

Ngày nào mà không để ý tới tham, là quí Phật tử đang ly tham, thì cái tham đó không có mạng sống. Ngày nào không để ý tới Sân thì quí Phật tử đang ly Sân, thì Sân không có mạng sống. 

Còn để ý tới nó, dù là để diệt nó hay làm giảm nó thì nó có sự sống và nó có lời lý giải của nó với mình, mình không đủ sức để lý giải nó.

chữ Ly với chữ Diệt, hiểu là chữ Ly là mình rời nó, không để ý tới nó. Còn chữ Diệt là mình còn dính mắt tới nói, mình đối diện với nó là một thắng hai thua và nó có thể có còn trở lại, nếu nó thắng mình thì nó trở lại, nếu nó không thắng mình thì nó mất./.                    

                          

-----------------------------------------

Notes: Từ Internet

Dứt Bỏ (cāga). Chữ pariccāga = pari+ cāga; 

 pari là trọn vẹn, 

cāga là lìa bỏ, bỏ đi.

 Chữ pariccāga là phóng khí, theo nguyên ngữ là "buông bỏ trọn vẹn" 

-----------------------------------

Mười trí lực (Dasabalañāṇa), hay mười Như Lai trí lực (Tathāgatabalañāṇa):

1. Trí hiểu nguyên lý và phi nguyên lý (Ṭhānāṭhānañāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự kiện, cái gì có thể xảy ra và cái gì không thể xảy ra.

2. Trí biết quả nghiệp (Kammavipākañāṇa), đức Như Lai biết rõ các hạnh nghiệp của chúng sanh, thiện ác dẫn đến quả dị thục tốt xấu ra sao? Quả trổ mức độ như thế nào?

3. Trí biết đạo lộ mọi sanh thú (Sabbatthagāminīpaṭipadāñāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự thực hành là con đường dẫn đến tái sanh trong những cõi vui và cõi khổ, biết rõ hành động đưa đến lợi ích hiện tại, lợi ích tương lai và lợi ích tối thượng.

4. Trí biết bản chất dị biệt (Nānādhātuñāṇa), đức Như Lai biết rõ thế gian có bản chất đa dạng như uẩn sai biệt, xứ sai biệt, và giới sai biệt.

5. Trí biết khuynh hướng dị biệt (Nānādhimuttikañāṇa), đức Như Lai biết rõ sự khác biệt khuynh hướng của chúng sanh, có chúng sanh khuynh hướng hạ liệt, có chúng sanh khuynh hướng cao thượng, chúng sanh đồng khuynh hướng sẽ thuận dòng với nhau, hạ liệt thân cận hạ liệt, cao thượng thân cận cao thượng, dù ở quá khứ hay hiện tại cũng vậy.

6. Trí biết thượng hạ căn (Indriyaparopariyattañāṇa), đức Như Lai biết rõ căn cơ cao thấp của chúng sanh, biết rõ chúng sanh có kiến chấp như vậy tiềm miên như vậy, sở hành như vậy, có căn trì độn, có căn lanh lợi, có tính khó dạy, có tính dễ dạy, có khả năng giác ngộ hay không thể giác ngộ.

7. Trí biết sự nhiễm-tịnh-ly của thiền định (Jhānādisaṅkilesādiñāṇa), đức Như Lai biết rõ sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất ly của thiền định, nhập định và sự giải thoát.

8. Trí biết tiền kiếp (Pubbenivāsānussatiñāṇa), đức Như Lai có trí nhớ chính xác và nhớ nhiều về các kiếp sống quá khứ, từng nét đại cương và chi tiết đa dạng.

9. Trí biết sự sanh tử (Cutūpapātañāṇa), đức Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân ngài thấy rõ sự sống chết của chúng sanh; biết chúng sanh này sanh đến chỗ hèn hạ hoặc cao sang, xấu xí hay xinh đẹp, hạnh phúc hay đau khổ, là do hạnh nghiệp như vậy. Chúng sanh đi đến tùy theo nghiệp.

10. Trí đoạn lậu (Āsavakkhayañāṇa), đức Như Lai tự mình thắng tri vô lậu tâm giải thoát, đoạn tận các lậu hoặc. Ngài biết rõ sự đoạn diệt hoàn toàn các lậu hoặc như vậy.

M.I.69; A.V.33; Vbh.336.

-------------------------------

309] Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:

1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.

2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.

3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.

4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.

5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.


Wednesday, May 20, 2026

080 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 11 tháng 11, 2023

 080 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 11 tháng 11, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 080 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Có hai mảnh đất, một mảnh đất bỏ trống không trồng cây gì hết, thì đương nhiên sẽ mọc lên cây dại, cây rừng, cây gai.  Một miếng đất trồng cây có 3 loại là danh mộc, tạp mộc, kỳ hoa dị thảo cây ăn trái v.v.

Tạp mộc người ta lấy đem về làm củi đốt mùa đông sưởi ấm cho gia đình. 

Danh mộc đem về làm vật gia dụng như bàn ghế tủ giường.

Kỳ hoa dị thảo người ta cắt bông hoa cúng Phật hay là trang trí trong nhà cho đẹp, cây ăn trái thì hái trái ăn.

Thứ hai, trong miếng đất có trồng cây cỏ cũng còn. Dưới bóng cây có bóng mát che thì cỏ mọc ít chứ không hết cỏ, trừ khi mình đổ xi măng đè lấp cỏ thì cỏ tiệt luôn, còn không thì cỏ vẫn còn. Thì người ta muốn vô miếng đất có trồng cây để lấy danh mộc hay tạp mộc người ta phải dọn cỏ cho miếng đất này, còn hơn là miếng đất không trồng trọt bỏ hoang.  

Thứ 3, người ta muốn lấy cây trái người ta phải dọn cỏ sạch người ta mới lấy được cây trái về cho gia đình ăn.

Thì giữa 2 miếng đất này, miếng đất không trồng trọt bây giờ mình muốn người ta vô dọn cỏ mình phải mướn người.  Miếng đất có trồng trọt mình không mướn mà họ tự làm khi họ vào hái trái hay hái rau. 

Do đó, đối với quí Tăng, các chùa không có gieo trồng mà muốn hưởng thì người ta vô làm cho mình mình mắc nợ. Còn cái này mình gieo trồng rồi giờ họ muốn vô lấy thì họ làm mà mình không có mắc nợ mà họ hưởng cái đó và mình cũng hưởng.

Thì khi một vị Sư gieo trồng, in kinh sách, người ta vào thỉnh kinh sách, hay họ vào nghe Pháp, hay họ tham dự khóa tu, thì người ta vào dọn cỏ cho mình, và mình có gieo trồng thì mình được gặt hái, mà người ta cũng gặt hái, thì đó là thành tựu Ba-la-mật.

Để hành Ba-la-mật cho viên mãn mình phải coi mình có gieo trồng cái gì để mình cho chúng sinh dùng cái Ba-la-mật của mình để mình thành tựu cái Ba-la-mật mình viên mãn.

Nên lúc nào Sư cũng gieo trồng, miếng đất của Sư gieo trồng nhiều lắm. Nhìn trở lại các chùa các Tăng Ni không gieo trồng mà muốn gặt hái, muốn người ta vô dọn đất dọn cỏ xây cất to lớn, cái đó là nợ.

Đối với quí Phật tử cũng vậy, mình phải coi 2 miếng đất.

Đức Phật đi khất thực cùng chúng Tỳ Khưu, vị bà la môn bá hộ tên là Bharadvaja có hàng trăm trăm người nông dân đang cày ruộng cho ông trong ngày hôm đó. Chận đường Phật và các vị khất sĩ, ông nói:

- Chúng tôi là nông dân, chúng tôi phải cày sâu cuốc bẫm, bỏ phân, chăm bón và gặt hái mới có được gạo ăn, còn các vị không làm gì cả, không sản xuất gì hết mà các vị cũng ăn. 

Đức Phật nói:

- Có chứ, chúng tôi cũng có cày, cuốc, gieo trồng, bỏ phân chăm bón và gặt hái.

- Cày của quý vị đâu, cuốc của quý vị đâu, bò của các vị đâu, hạt giống của các vị đâu? Các vị chăm bón cái gì, săn sóc cái gì, gặt hái cái gì?

Phật nói:

- Hạt giống của chúng tôi là niềm tin. Đất của chúng tôi là chân tâm. Cày của chúng tôi là chánh niệm. Bò của chúng tôi là sự tinh tiến. Mùa màng của chúng tôi là sự hiểu biết và thương yêu. Điền chủ! Nếu không có niềm tin, sự hiểu biết và lòng thương yêu thì cuộc đời sẽ khô cằn và đau khổ lắm. Chúng tôi cũng gieo trồng và cũng gặt hái như điền chủ.

Đức Phật Ngài đâu có nói sai, Ngài là người nói lời chân thật, lời chân ngôn sacca-vādī, và câu chuyện của lời nói của Ngài là Sacca-kiriyā chân hạnh, Ngài có gieo trồng, Ngài có làm.

Nên mình biết cái tu của mình mà không có trí là cái họa cho đường tu của mình, ngay cả người ở trong chùa. Chùa to Phật lớn chỉ là một cái họa thôi. Con đường của mình cũng vậy, mảnh đất của mình có gieo trồng thì lúc bấy giờ mảnh đất sẽ chứng minh mình có gieo trồng. Còn nếu như không có gieo trồng thì lúc Chư Thiên bỏ chạy hết không có ai chứng minh cho mình hết thì Ác Ma vô lượm mình, quí Phật tử phải thức tỉnh.

Thí dụ, Sư nghe Phật tử bệnh Sư muốn cứu bệnh nhân, Sư có gieo trồng, do đó Sư mới cứu được. Thì trong khi đó Sư nói vô chùa lấy mấy cây apple Sư trồng thì họ vô lấy thì họ phải làm cỏ, mà họ làm cỏ đó sạch sẽ.  Mình không có trồng cây mà họ vô làm cỏ cho mình một ngày là một công nợ, đó là cách mình tạo Ba-la-mật mình phải có, và cách mình tạo phải đúng chứ còn không là không có một cái gì hết.

Mấy cái cây này Sư trồng Sư cho quí Phật tử là Sư làm xong Ba-la-mật.

Mấy cô phải hiểu mình không có làm và mình không biết làm mà mình muốn hưởng thì là miếng đất bỏ hoang.

Còn mình biết làm thì mình biết hưởng và mình có gặt hái.

Đức Phật Ngài khi Ngài còn là Bồ Tát tới khi đụng chuyện là Chư Thiên bỏ chạy hết, chỉ có mảnh đất ở lại với Ngài. Mà Ngài đã sống với mặt đất thì bây giờ Ác Ma tới Ngài, mà Ngài với mặt đất là một nên Ngài không lo. Còn mình không sống với mặt đất, mình có danh sắc của mình đây thì mình lo, tại vì mình không có cái gì để đối phó, đụng tới mình là mình có vui, buồn, hỉ, nộ, ái, ố, khổ đau, tới liền, chứ mình đâu có sống mặt đất với mình là một. 

Trí của Ngài phải thù thắng hơn của Thinh Văn Giác, tại vì Thinh Văn Giác là đường đó bậc Chánh Đẳng Giác đã làm sẵn rồi, các quí Ngài đi đúng Minh Sát Trí.  Ngài làm sạch rừng cây cỏ dại này rồi Ngài gieo trồng lên nữa thì phải có trí tuệ.

Dưới mặt đất, dưới sắc thân 32 thể trược này của mình cái nào cứng hơn ? Thì chắc chắn mặt đất cứng hơn, cái 32 thể trược này không đủ cứng, thì khi áp lực của Ba-la-mật đè xuống nếu mình đi với danh sắc 32 thể trược này mình không làm được nếu mình chưa cứng như mảnh đất.

Bữa nay nếu Sư không chia sẻ điều này thì quí Phật tử không chịu nổi Ba-la-mật ở cấp độ cao, đừng nói chi Parami thường, mình càng lên cao thì gió càng lớn, mình ra khơi xa thì sóng càng lớn, mình chưa trang bị đủ thì không thành công, có khi mình mất trước khi Ba-la-mật thành, điều này rất quan trọng mà quí Phật tử không để ý, tại vì mình đụng vô chỉ có danh sắc thôi, mình không nói suông, mình phải giải thích, phải giải quyết, và mình phải sửa đổi.

Sửa đổi bằng cách nào ? Mình phải tìm phương pháp. Đọc lại bài Hành Xả Ba-la-mật, đọc từng chữ của Ngài Mingun nói.  

Trong 10 Ba-la-mật: Trí Tuệ Ba-la-mật đi với Đại Thiện Tương Ưng Trí. Trí Tuệ Ba-la-mật đi với nhân Vô Si.  Nhưng Hành Xả này nó vượt qua trạng thái đó với trí tuệ phải giải quyết tám ngọn gió đời của chính nghiệp lực của mình chứ không phải là với cảnh đang có, cái nghiệp lực của mình chứ không phải là cảnh, nếu là cảnh thì không phải là Ba-la-mật, cái nghiệp lực của mình.

Vậy thì trở lại, nếu quí Phật tử hành không đúng thì một Sát Na Đạo có 2 chức năng;  một là Sát Trừ Phiền Não, hai là thấy cảnh Niết-bàn.  Vậy thì khi xả thí Ba-la-mật là đang diệt tánh bỏn xẻn và thành tựu việc Phóng Khí  Pariccāga, một động tác mà làm được 2 điều đó thì quí Phật tử có chủng tử của Đạo Quả.


              Sát trừ phiền não

Đạo

             Chứng đắc Níp-bàn ----> Rỗng Không, Vô Ngã, Vô Thường


 Xả thí Ba-la-mật ------> Sát trừ bỏn xẻn

                          ------> Thành tựu Phóng Khí 

Một Sát Na chứ nếu mà rời ra là không đúng.

Mình làm cái đó lúc nào cũng đi đôi thì nó mới có chủng tử hay là có nền tảng, mình xây dựng từ Ba-la-mật mới phóng lên được sự giải thoát, Tâm Đạo Tâm Quả của mình.

Còn nếu chia hai, cái này thì đang Phóng Khí thôi, mình đang xả thí này là mình đang Phóng Khí, là đang cho ra.  Xưa này mình quan niệm xả thí là cho ra, nhưng mình không quán tỉnh giác này là đang sát trừ cái bỏn xẻn, cái cố hữu bỏn xẻn của mình thì mình bị vuột mất. 

 Mình phải thấy mình làm lúc nào, làm một vế hay hai vế, một cái tâm mình đi ra mình không bắt 2 cảnh được, do đó, mình phải thấy là 2 cái đó  lọng cọng trong khi thực tập.

Khi quí Phật tử đang thực hiện xả thí Ba-la-mật thì nó là Niệm, còn Sát Trừ Bỏn Xẻn và Thành Tựu Phóng Khí là Tỉnh Giác. 

Niệm Xả Thí phải Tỉnh Giác 2 vế Sát Trừ Bỏn Xẻn và Thành Tựu Phóng Khí, thì mới được.

Còn nếu Xả Thí, Sát Trừ Bỏn Xẻn, Thành Tựu Phóng Khí đều là Niệm thì mấy cô không có.

Vậy thì mình thấy rõ việc xả thí là diệt trừ bỏn xẻn, cái cố hữu, cái tập khí của mình là keo kiệt không buông ra, thì hai cái diệt trừ bỏn xẻn và thành tựu phóng khí lúc nào cũng có mà chỉ trong một sát na, một cái tâm hay một hành động mình thôi, chỉ trong một sát na mình làm một lúc 2 việc.

Qua tới phần trì giới Ba-la-Mật thì Sát Trừ cái gì trong sự trì giới và  thành tựu cái gì trong trì giới Ba-la-mật. 

Thì trong trì giới sila, nếu trì giới thì trì giới gì ? 

Thí dụ như giới nguyện, phận sự của giới nguyện là gì ?  Thì mình phải tìm.

Chức năng của giới ngăn ngừa làm gì? 

Giới Sát Trừ làm cái gì ? Mình phải tìm ra được cái đó.

Qua phần Sila, mình đi 3 giới:

Giới nguyện có 2 là Sát Trừ và Thành Tựu

Thì chức năng của giới nguyện nó làm cái gì mà sát trừ 

Giới ngăn ngừa có 2 là Sát Trừ và Thành Tựu

Thì chức năng của giới ngăn ngừa nó làm cái gì mà sát trừ 

Giới Sát Trừ có 2 là Sát Trừ và Thành Tựu.

Thì chức năng của giới Sát Trừ nó làm cái gì mà sát trừ.

Khi quí Phật tử đi trên Trì Giới Ba-la-mật, cái chức năng trên vế 1 của giới sát trừ là không dễ dui với thân, ngữ, ý, phóng dật thân ngữ ý.  Sát trừ phóng dật thân ngữ ý là chức năng của giới sát trừ, mình phải thu thúc thân ngữ ý mới thành tựu sự giải thoát.

Vế thứ 2 là Thành Tựu Giải Thoát Hiệp Thế và Siêu Thế.

Thành Tựu Giải Thoát là thoát được 4 đường ác đạo.  Về giữ giới thoát được 4 đường ác đạo là nhân thiên là hiệp thế. Sự giải thoát là Niết-bàn.

Thì khi mình nguyện một giới là mình đang có một tỉnh giác là tôi đang diệt trừ sự phóng dật của thân ngữ ý này. Và Thành Tựu là cắt đứt con đường 4 đường ác đạo hay là con đường sinh tử luân hồi, thành tựu giải thoát hiệp thế và siêu thế.

Khi đi vào trì giới Ba-la-mật, nếu giữ một giới, nếu giữ giới nguyện giữ một giới thôi là mất một về.  Nếu nguyện giữ giới mà không hiểu được 2 vế thì  giữ có một vế thì đi công thức của Đạo Quả.

              Sát trừ phiền não

Đạo

             Chứng đắc Níp-bàn ----> Rỗng Không, Vô Ngã, Vô Thường

 Mà đi từ Ba-la-mật này tới Ba-la-mật kia mình ráp lại đi tới cửa Đạo mới ráp Sát Na Đạo này được.

Vậy thì khi phương tiện đưa đến cứu cánh của trì giới là ngăn ngừa thu thúc thân ngữ ý mà đưa đến cứu cánh là giải thoát luân hồi.  Mượn cửa Giới Nguyện để ngăn ngừa giới Sát Trừ này là để làm phương tiện chặn thói quen thân ngữ ý của mình phóng dật, cái tập khí, cái kiết sử, cái thói quen thân ngữ ý của mình, buông lung phóng dật.

Bây giờ mình làm như là mình làm cái vòng kiềm tỏa để bó chặc thân ngữ ý mình không để nó phóng dật, nhưng cứu cánh của nó là đưa mình giải thoát, chứ nó không làm cái gì để cho mình sinh tử luân hồi lại, thì mấy cái đó quí Phật tử làm một cái nguyện trì giới Ba-la-mật là làm được 2 giới.

Một nguyện xả thí Ba-la-mật làm được 2 vế.

Một nguyện ly dục Ba-la-mật làm được 2 vế thì mới ra được Đạo Quả.

              Sát trừ phiền não

Đạo

             Chứng đắc Níp-bàn ----> Rỗng Không, Vô Ngã, Vô Thường


Chứ còn không là đi suông suông, một là phải trở lại làm vế thứ 2.

Thí dụ như bây giờ đi con đường xả thí Ba-la-mật 

Xả thí Ba-la-mật ------> Sát trừ bỏn xẻn

                          ------> Thành tựu Phóng Khí 

thì thường thường là đi Phóng Khí nhưng không sát trừ bỏn xẻn, mình nhìn cảnh, nhìn người, nhìn việc làm mà mình không nhìn Tâm mình đang gột rửa này. 

Quí Phật tử phải ngồi nghiệm lại, làm được cái này thì mỗi một cái nguyện của mình, mỗi cái Ba-la-mật của mình như miếng đất trồng cây, cô bỏ một cây vô, nếu là người có trí thì họ bỏ vô một danh mộc, người mà không có trí thì bỏ tạp mộc, còn hơn là miếng đất bỏ hoang. Con người mà không có con đường Ba-la-mật nào thì mình đang ở trong miếng đất bỏ hoang thôi, rồi một ngày nào đó mình cũng vô dùng miếng đất đó được, khi để kiếp này qua đến kiếp kia mà không tu tập không gieo trồng thì một kiếp nữa một mảnh đất đó của mình không nhìn vô nổi, và mình nhìn đi, nhìn người thân của mình mà họ không tu tập đừng nói chi là có Ba-la-mật mình sẽ thấy thân, ngữ, ý của họ như một cánh đồng hoang, một miếng đất hoang mình không dám tới gần.  Còn nếu mình có trồng người ta đi ngang qua thấy họ muốn vô mình cho họ vô thu hoạch thì họ vô họ làm cỏ đất cho mình mà mình không mất công nợ.

Ly Dục -------> Sát Trừ Tham Dục / Ái Dục

            -------> Thành Tựu Ly Dục ( Dục giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới)


Trí Tuệ  ------> Sát Trừ Vô Minh (Bát Bất Tri)

             -------> Thành Tựu Minh

Trí Tuệ là Sát Trừ Vô Minh, và Thành Tựu là Minh sanh, Vô Minh diệt Minh sanh.

Quí Phật tử chỉ nghĩ một vế chứ không nghĩ cả 2 vế, do đó, phải làm lại lần thứ 2.

Như xả thí cúng dường, nhưng không nghĩ tâm mình đang làm một hành động bỏ xuống xả thí là mình đang diệt một cái bỏn xẻn của mình. Có khi mình thiếu trí Sát Trừ Bỏn Xẻn vì mình thấy cảnh là bung ra liền.  Có khi mình làm.

Thì khi nguyện làm nhân đến Đạo Quả Niết-bàn làm có một về thì không đủ.

Sát Trừ Vô Minh là Bát Bất Tri và Thành Tựu Minh Sát Trí, Minh Giải Thoát.

Vậy thì khi đang hành một pháp thiện và đang áp dụng trí tuệ Ba-la-mật thì pháp thiện đang làm phải thành tựu 2 vế; sát trừ Tập Đế hay đang sát trừ Khổ Đế hay đang làm việc thiện, bất cứ làm việc thiện gì trong Thập Thiện, trong Thập Phúc Hành Tông, thì mình sát trừ Tập Đế này thì lúc đó là đang ở Sát Trừ Vô Minh, tại vì Bát Bất Tri thì dùng Trí Tuệ Ba-la-mật, chứ không nói dùng Trí Tuệ Ba-la-mật suông được.

Việc thiện nào tôi đang làm là tôi diệt Tập Đế, cái mầm Ái Dục hay là Bát Bất Tri.  Hay việc thiện xả thí này, việc thiện trong tất cả cảnh trần là tôi đang hành Ly Dục Ba-la-mật, thì trong tham dục trong Ái Dục này, trong Tam Giới này tôi phải vượt qua, thì quí Phật tử đang làm một việc thiện Ly Dục Ba-la-mật, một việc thiện làm với Trí Tuệ Ba-la-mật quí Phật tử phải tìm ra được cái sát trừ và đang làm sự thành tựu đó. Có Sát Trừ thì mới có Thành Tựu, còn mong rằng được Thành Tựu mà chưa Sát Trừ thì chưa hết, nó vẫn còn, nó chưa đến Thành Tựu.

Thiền sinh hỏi: trong 10 Ba-la-mật mà người nào làm một trong 10 hay là làm hết 10 cái được thì càng tốt hơn nữa. Thì khi họ làm như vậy là họ đã có, thí dụ 1 Ba-la-mật họ đã sát trừ được bất thiện rồi. Khi họ làm được thành tựu rồi thì họ thấy rõ ràng là họ đang trên con đường tiến dần đến Niết-bàn. Tất cả những cái nào con nghiệm thấy là như vậy đó.

HT trả lời: Nhưng đa phần cô nói nhưng lúc mình vô trong cảnh mình không nhớ, mình thiếu vế.

Như vậy thì khi mình làm lúc nào cũng là 2 vế thì mảnh đất của tôi có gieo trồng, khi Ác Ma tới hỏi mình mảnh đất này lấy gì làm chứng, miềng đất làm chứng, tôi có gieo trồng thì mảnh đất này làm chứng cho tôi.

Đây Sư chỉ nhắc nhở lại thôi hay là Chư Thiên nhắc nhở thôi, mà nếu có gieo trồng thì có gặt hái, mà ai làm chứng? mảnh đất đó mà mình đang gieo trồng sẽ làm chứng.

Do đó, mình mới thấy rằng khi Bồ Tát nói Ngài không phạm ngôn, khi Ác Ma hỏi: "Lấy gì làm chứng cho ngươi, ta có quân ma làm chứng cho ta ?" 

Thì Ngài nói: Quả địa cầu này, mảnh đất này làm chứng cho ta.

Thì Ngài có làm, Ngài có gieo trồng, cây đó, miếng đất đó có sự xác thực.

Từ đây về sau mà mình biết được cái này thì mình nhớ; tôi gieo trồng trên mảnh đất của tôi thì mảnh đất này sẽ chứng cho tôi những gì tôi đã có gieo trồng và không có mất được. 

" Ngũ giới bất trì, nhơn thiên lộ triệt" Ngũ giới có trì thành tựu nhân thiên, đó là con đường giải thoát 4 đường ác đạo. Đầu tiên mình phải có sơ đạo sơ quả là cắt 4 đường ác đạo, rồi cắt tới nữa rồi mới tới 3 loại cao nữa là ra khỏi Tam Giới bởi giữ giới

Câu kinh về giới:

Sīlena sugatiṃ yanti sīlena bhogasampadā sīlena nibbutiṃ yanti tasmā sīlam visodhaye

Tất cả chúng sanh được sanh về cõi trời cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giàu sang tài vật cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giải thoát nhập Niết bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy, Chư thiện tín hãy cố gắng thọ trì giới luật cho được trong sạch đừng để lấm nhơ .

Khi mình giữ giới mình chỉ giữ thân, ngữ, ý mình hay chỉ giữ giới thôi chứ mình không đi 2 vế vì quên hay không được nhắc, thì lúc đó mình chỉ giữ giới thông thường chứ không phải giữ giới Ba-la-mật. 

Nên mỗi tối ngồi xuống quí Phật tử nguyện trì giới Ba-la-mật thì nói 2 vế; " giới này tôi nguyện để sát trừ, giới này tôi nguyện để tôi thành tựu." Mình phải sát trừ pháp nghịch của mình. 

Như vậy thì tất cả Ba-la-mật nó có 2 vế, sát trừ pháp nghịch thì mới thành tựu pháp thuận được, nếu quí Phật tử không biết để mình nguyện sát trừ pháp nghịch thì khi muốn thành tựu pháp thuận không thể được, đó là thất Niệm, chứ không phải là thiếu Niệm, thiếu là chưa đủ, còn thất là đi ra ngoài.

Thí dụ như 10$ mà mình chỉ có 9$ tức là thiếu 1$. Còn thất 10$ là mất hết không còn đồng nào hết.

Vậy là mình thất Niệm.

Trước tiên coi mình ở mảnh đất nào, thứ 2 là miếng đất của mình là miếng đất có trồng trọt, nhưng gieo trồng loại nào, có danh mộc, có kỳ hoa dị thảo, có tạp mộc, có cây ăn trái những thứ này mình có hết, vậy phân tích ra thì có bao nhiêu phần trăm; thì tạp mộc có 90%,  danh mộc chỉ có 10%

Thì bao nhiêu phần trăm mình liệt kê ra.  Nếu miếng đất gieo trồng đủ các loại danh mộc, tạp mộc, bông hoa, cây ăn trái,  thì người mà tới để gặt hái họ làm sạch cỏ cho mình thì sẽ có đủ các loại người trong đó.  Do đó các Bồ Tát từ bậc Chánh Đẳng Giác, Độc Giác, Thinh Văn Giác họ gieo trồng trên mảnh đất Ba-la-mật của họ, toàn bộ là danh mộc. Quí Phật tử phải gạn lọc và gạn lọc trong  phương pháp nào họ gieo trồng. Tức là mỗi một cái mà làm họ đã có sát trừ trong đó, do đó không thể nào có những tạp mộc vô trong mảnh đất mình trồng danh mộc này, thì người ta mới tới gặt hái được và chính mình cũng gặt hái trong đó nữa.

Mình đi trong trạng thái Ba-la-mật chứ không phải trạng thái thông thường hay đi pháp thiện thông thường, pháp thiện có khi có vô tham, vô sân, có khi có 3 nhân, có khi có 2 nhân. Nhưng đi pháp toàn thiện (Ba-la-mật) này thì không thể náo thiếu xót cái nào mà nó khiếm khuyết được, nó phải hoàn hảo.

Vậy thì khi hiểu được miếng đất mình gieo trồng là Ba-la-mật thì khi hành Ba-la-mật mình phải làm trong cái sát trừ để được thành tựu cái cây đó gieo xuống nó sẽ có kết quả của đạo quả của nó. Không có khinh xuất, không cần phải làm nhiều mà phải làm chắc.

Khi ta muốn hành Ba-la-mật và số lượng Ba-la-mật ta đã hành và đang hành thì mình coi lại chất lượng bao nhiêu thì mình mới gạn lọc ra được thì đường đạo quả của mình mới đi tới được, còn không mình ngồi đếm nhưng mình không có chất lượng lại thì khi mình cần tới nó thì mình đã rớt trong đội quân ma nó tới đánh mình rồi. 

Mình coi lại 10 đạo quân ma, thì mấy đội quân ma đó mình coi mình đủ sức để qua được bao nhiêu đội quân ma trong một ngày, đừng nói chi trong cuộc đời. Quân ma nào ra mình cũng rớt hết. 

Và khi mình rớt hết trong một ngày khi đội quân ma tới mình rớt hết thì mình mới biết là mình không có Ba-la-mật. Danh cũng rớt, lợi cũng rớt, an vui cũng rớt, khổ đau cũng rớt, tất cả những đội quân ma nào đưa ra mình cũng rớt hết. Khen mình chê người, cũng rớt, mình phải coi lại mình có Ba-la-mật không.

Thì khi đội quân ma tới, mình có cái vế đầu tiên, cái giới sát trừ là mình có thì mình mới có thành tựu, thì mình mới có Ba-la-mật thì ác ma nó mới không đánh mình được. Còn mình chỉ có một vế thành tựu mà vế sát trừ mình chưa có nó vẫn còn mọc nấm trên con người mình, nó sẽ mọc lại, đó là pháp anusaya tiềm thụy, ngủ ngầm trong tâm.  Đội quân ma là pháp ngủ ngầm, nó không có nổi ra ngoài, nó nằm ngủ ngầm trong con người của mình.

pañca-māra = Ngũ Ma

1. Phiền Não Ma

2. Pháp hành ma (có Phúc Hành, Phi Phúc Hành, Tối Thắng Hành)

3. Ngũ Uẩn Ma

4. Tử Thần Ma

5. Thiên Ma

Thập Đội Quân Ác Ma

1/ Tham dục, hay là những cảm giác khoái lạc xuyên qua các căn.

2/ Sự bất mãn này là một cảnh, cảnh gì, nhân gì.

3/ Sự đói và khát. Khi mình bị đói và khát, cảnh nó đến với mình, Nhân, Trưởng nó lên liền.

4/ Tham ái, lòng khát vọng

5/ Hôn trầm thụy miên

6/ Sự sợ hãi : nhút nhát + sợ sệt

7/ Sự hoài nghi

8/ Sự phỉ báng + sự tự tôn (dèm pha ngoan cố)

9/ Sự lợi lộc (tán tụng, khen ngợi, danh dự, danh thơm tiếng tốt một cách sai lầm hay tà vạy.

10/ Tự khen mình và chê hay phỉ báng người.

Đó là 10 đạo quân ác ma, 

Thập đội quân ma có 3 bao nhiêu ở trong Phiền Não Ma, bao nhiêu trong Pháp Hành Ma, bao nhiêu trong Ngũ Uẩn Ma, bao nhiêu trong Tử Thần Ma, mình kiểm lại.

Khi đội quân ma tới dưới hình thức của Phiền Não Ma trong Ngũ Ma, nếu mà nó tới dưới Thập Đội quân Ma; Danh và Lợi, Đói và Khát là một trong đội quân Phiền Não Ma. Nếu mình không thấy để Sát Trừ Phiền Não thì mình rớt phần Thành Tựu Ba-la-mật

Nhưng khi mình có Xả Thí Ba-la-mật mình sát trừ được cái bỏn xẻn này là cái Phiền Não của đội quân ma thì mình mới thành tựu được Ba-la-mật, mình tìm ra được công thức.

Nếu mình  cứ làm mà không coi lại vế Sát Trừ thì mình cứ làm cái vế Thành Tựu rồi cho là tôi thành tựu Ba-la-mật thì nó chỉ ít thôi, nó không có chất lượng, không có kết quả, khi Ác Ma tới là mình rớt liền.

Chư Thiên không có Sát Trừ, Chư Thiên hưởng dục, do đó khi Ác Ma tới Chư Thiên bỏ chạy, còn mình là người tu là mình phải đối diện với cái phiền não là Sát Trừ thì mình mới đối diện được với cái đội quân ma chứ đừng nói tới Ác Ma.

Phiền Não Ma là một trong Ngũ Ma, chỉ có Ba-la-mật mới diệt được. Và khi mình gieo trồng mình mới có để mình hưởng được, còn không thì không có, nếu chỉ làm pháp thiện không đòi hỏi cái đó.

 Do đó, khi xả thí mình có xả thí nhưng chưa xả thí Ba-la-mật, tôi có xả thí Ba-la-mật nhưng chỉ có một vế thôi, là phóng khí (từ bỏ tài sản) thôi chứ chưa diệt tâm bỏn xẻn của mình, bỏn xẻn đang ngủ ngầm trong mình chứ chưa diệt trừ hết.

Thập Đội Quân Ma nằm trong Ngũ Ma, mà Ngũ Ma này là nó ở trong mình. Qua bài Mara có 4 chứ không nói 5, thì mình thấy đội quân ma nằm trong đó thì mình có 4, mà 4 x 10 đội quân ma thành ra 40 pháp nghịch nằm trong người mình.

Như vậy thì trong Pháp Hành Ma mình có Phúc Hành, Phi Phúc Hành, Tối Thắng Hành. Thì khi một đội quân ma đến với một trong 4 cái này thì 10 cái vô 4 là cô đỡ không nổi.

Con đường đi tới bậc Thinh Văn Giác chỉ có pāramī thôi, 

con đường đi tới bậc Độc Giác upparami là 10 x 2 = 20, 

con đường đi tới của bậc Chánh Đẳng Giác Paramattha param là 10 x 3 = 30.  

Mà trong con người mình có 40 pháp nghịch.

 Do đó, tại sao mình tính ra được số kiếp luân hồi là vì mình chưa diệt được hết cái ngủ ngầm thì mình chưa giải thoát được, giờ mình tìm ra được. Trước tiên quí Phật tử tìm ra còn bao nhiêu kiếp mới ra khỏi luân hồi.

Chánh Đẳng Giáo có 30 Ba-la-mật mà chống 40 pháp nghịch thì Ngài phải trải qua 20 a tăng kỳ một trăm ngàn kiếp, đó là với bậc trí tuệ.

Còn bậc Thinh Văn Giác không cần phải đi cứu độ chúng sinh, Ngài sống bình thường đơn giản 10 Ba-la-mật thôi, thì mình phải lấy 10 Ba-la-mật để trì 40 pháp nghịch này, thì số đó mỗi một kiếp như vậy phải bổ túc bao nhiêu mới ra được một ngàn kiếp hay là một trăm ngàn kiếp thì mới ra vị Thinh Văn Giác được giải thoát.

Vậy thì khi mình biết được như vậy thì mỗi một ngày hôm nay nếu như chưa có Ba-la-mật thì mảnh đất của quí Phật tử còn bao lâu nữa có danh mộc, bao lâu nữa mới gặt hái, thì mảnh đất đó sạch sẽ an toàn. Hãy kiếm câu trả lời.

Quí Phật tử là Thinh Văn Giác với trận giặc là 40 pháp thì có bao nhiêu Ba-la-mật ngay từ bây giờ trở về trước, bữa nay và ngày hôm qua mình có bao nhiêu Ba-la-mật ?

Pháp Hành quí Phật tử cũng còn, các pháp đội quân ma, cái ngũ uẩn này cũng còn, đội quân ma nó ngủ ngầm, thì mình lấy Ba-la-mật để mình nạy nó ra đẩy nó ra thì quí Phật tử nói có bao nhiêu Ba-la-mật, mình lấy Ba-la-mật để đẩy các pháp ma này ra khỏi mình.

 Ngũ uẩn; sắc, thọ, tưởng, hành, thức nằm trong đội quân ma thì mình bị cái nào, bằng Ngũ Uẩn đã gieo trồng được bao nhiêu Ba-la-mật chỉ ở trong Ngũ Uẩn này, mỗi cái Sắc Uẩn của tôi có Ba-la-mật, mỗi cái Thọ Uẩn của tôi có Ba-la-mật, thì quí Phật tử mới ngăn ngừa được cái đội quân ma xâm phạm.

Khi nói Sắc Uẩn của tôi nằm trong cái kiên cố xả thí Ba-la-mật, Sắc Uẩn của tôi nằm trong Hành Xả Ba-la-mật thì đội quân ma vô được. Cái Thọ Uẩn của tôi nằm trong kiến cố Trí Tuệ Ba-la-mật, nằm trong kiên cố của Hành Xả Ba-la-mật thì đội quân ma vô, phải tính ra, sắc của tôi 10 Ba-la-mật, Thọ của tôi 10 Ba-la-mật thì đội quân ma vô không được, thì mình có sự ngự phòng. Còn nếu như Sắc tôi chưa có ba-la-mật nào hết thì đội quân nào cũng có nằm trong người tôi hết. 

Chỉ là Ngũ Uẩn thôi. Mà đây quí Phật tử đã từng nói là có Hành Ba-la-mật rồi, có gieo trồng rồi. Mình sống chung thực chứ mình không có nói dối được. 

Thì cái này Sư với quí Phật tử mình cùng giúp sức nhau để qua sự luân hồi này thôi. Do đó mình không biết người nào đi trước người nào đi sau, người nào giải thoát trước, người nào còn luân hồi, mình phải tự kiểm kê lại.

Trong Ngũ Uẩn, trong Sắc Uẩn của tôi có Ba-la-mật, trong Thọ Uẩn của tôi có Ba-la-mật, trong cái Tưởng của tôi có Ba-la-mật, trong Hành của tôi có Ba-la-mật, trong Thức của tôi có Ba-la-mật. Ngũ Uẩn của tôi được gieo trồng Ba-la-mật, tôi không có khiếm khuyết, tôi không có thiếu, thì đội quân ma không xâm nhập vô được.

 Hôm nay Sư muốn đưa cho quí Phật tử một vấn đề phải kiểm kê lại và gạn lọc lại mới có nhận xét lại, chứ mình không có báo cáo suông mà báo cáo con số ma được, phải báo cáo sự thật.

Trong tham sân si là phiền não tôi không còn phiền não này vì tôi đã có Ba-la-mật rồi.

Trong pháp Tham Phiền Não này tôi không có vì tôi có Ba-la-mật. Trong sân phiền não này tôi không có vì tôi có Ba-la-mật.

Vậy thì đối với tham phiền não nó đến với mình nó có 2 cái, cảnh ngoại và cảnh nội, ngoại cảnh và nội cảnh ở tâm mình, thì khi cảnh tham phiền não thì lấy pháp gì có để mà diệt trừ nó. Cái tham phiền não nó đến nếu là cảnh ngoại hay là cảnh nội thì quí Phật tử lấy pháp Ba-la-mật nào để mà diệt trừ nó ngay trong mỗi sát na hay trong mỗi sự việc đến.

Do đó, khi mấy cô hành thì mấy cô sẽ so le, do đó đạo quả mình không ai giống nhau.

Đức Phật nói không ai cùng nhau đắc đạo Ekayāno Maggo.

 Khi Tham Phiền Não đến mấy cô hành pháp Ba-la-mật nào ?

Khi người ta bỏ vô chén mình một món ăn thì mình phải lấy Trí Tuệ Ba-la-mật sát trừ cái tham phiền não này bằng Trí Tuệ Ba-la-mật.  Mình tập Ly Dục và chú nguyện phải thành.

Khi người ta bỏ thức ăn vô chén của mình, cái này là một tham phiền não của mình thì mình phải lấy trí tuệ nhìn vô nó và Ly Dục và mình chú nguyện mình thành tựu cái Ba-la-mật.

Tham Phiền Não là anusaya là tiềm thùy là ngủ ngầm, nó che lấp, do đó mình không có Trí Tuệ Ba-la-mật, mình không có cái Ba-la-mật kiên cố là gục ngã trước cái sự hiện bày rồi.

Bất cứ việc gì tới mình lấy Trí Tuệ Ba-la-mật phán xét trước rồi mới dùng Ly Dục Ba-la-mật và Chú Nguyện thì mới thành. Chứ nó qua rồi mới dùng Ba-la-mật thì không thành vì mình chưa có Ba-la-mật, và bài học đó quí Phật tử không thành, vì miếng đất này chưa có gieo trồng, mà mình nghĩ mình có gieo trồng, mình nghĩ là mình có hành và mình có vốn ở trong đây rồi. Trước mỗi Phiền Não, đây là một thử thách, đây là một sự cản trở, đây là một pháp nghịch là mình phải dừng liền.

Quí Phật tử phải cẩn thận, con đường tu là trường thi mà nó không có trạng thái thiên vị ngã nghiêng được, nó là nghiệp, là công bằng mà mình chết là do cái tâm mình không có kiên cố thôi.

Một điều Sư dặn quí Phật tử, đó là điều mình kiểm lại mình thấy mình còn khinh suất. Tham Phiền Não nó ngủ ngầm và nó thảy vô một cái là mình rớt, mình phải tỉnh thức, không dễ dui, trong khi mình cũng phải có Niệm và trong hành động mình làm phải có Tỉnh Giác, chứ không có vị tình, nếu  vị tình là thua. 

Quí Phật tử thấy Sư làm bao nhiêu cái Thân Giáo mà quí Phật tử không bao giờ để ý, tới chùa với tạp khí của mình, Sư không khỏe, Sư mệt, Sư không còn sức để làm, Sư ngưng, mà cái đó là mấy cái phiền não, chưa nói tới Pháp Hành, chưa nói tới Ngũ Uẩn của mình, và quí Phật tử thấy từng bước đi trong pháp Ba-la-mật này không có kiên cố.

Mình vị tình, vị tình trong cái phải, vị tình trong cái sai, vị tình trong lý trí, vị tình trong tình cảm mình cũng sai. 

Khi ta làm với trí tuệ ta phải có Tam Tư; Tư Tiền, Tư Hiện, Tư Hậu. Và ta phải có 3; Văn, Tư, Tu, mình phải có Kiến Văn, và phải có Tư Duy, mình phải có suy nghĩ, mình có kiến thức và có suy nghĩ và bắt đầu hành động phải đi theo trí tuệ chứ không theo tập khí kiết sử 

Khi Bồ Tát ngồi dưới cội cây Chư Thiên bỏ đi hết chỉ còn một mình Ngài, và Ngài lấy Ba-la-mật của Ngài, và Ba-la-mật của Ngài là Văn, Tư, Tu, Ba-la-mật của Ngài là tam tư; Tư Tiền, Tư Hiện, Tư Hậu, và Ba-la-mật của Ngài đối diện được với Phiền Não, Pháp Hành, Ngũ Uẩn, Tử Thần, thì đội quân của Ác Ma không phá được Ngài.

Với mình chỉ đội quân đói khát là mình đã thua rồi. Thọ Uẩn của mình ở trong Phiền Não.

Thì khi Phiền Não tới, mình phải đặt Tham Phiền Não với cái khía cạnh Tuệ Văn của mình dùng Ba-la-mật nào thì mình mới nói được, mới liệt kê Tham Phiền Não này nằm ở trong Tuệ Văn của mình đó là Hành Xả Ba-la-mật hay là Trí Tuệ Ba-la-mật mới nói được chứ không có nói suông.

Thế thì Tham Phiền Não gốc của nó là Lobha, ngữ căn của nó là Lubh nghĩa là bám chặt vào, là sự dính mắc, Tâm Thức mình còn dính mắc, thì cái Tham hiện bày một cái Phiền Não thì sài Ba-la-mật nào mới trị đúng thuốc mới hết bịnh, chứ không phải nói suông được.

Nên quí Phật tử phải cẩn thận, bài thi không phải lúc nào cũng có sẵn và loại giải đáp đó đâu phải mọi người giống hệt nhau, thiền còn 6 tánh, tam tướng Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, mỗi người nhìn mỗi khác.

Thì khi định được bệnh của mình thì mới dùng thuốc đúng mới trị được chứ không có công thức.

Tôi có dính mắc thì tôi có tham, thì bệnh tôi đang có là dính mắc thì tôi phải sài Ba-la-mật nào tương ứng thích hợp cho sự tu tập của tôi thì mới diệt được nó. Cái đó Đức Phật Ngài Trí Tuệ Ngài đưa 10 cái Ba-la-mật là cho mình có thể thực hành được tùy theo để mình dùng trong Tuệ Văn của mình, trong Tuệ Tư của mình, chứ Ngài không áp đặt mình cái nào, cái nền tảng là Trí Tuệ Ba-la-mật là mũi nhọn, có Ly Dục và Chú Nguyện là 2 cái hỗ trợ sắc bén, nhưng với căn bệnh của mình mình biết, với cái Tam Tướng mình hiểu thì sự tu tập mới đạt đến kết quả chính xác, và căn bệnh sẽ dứt điểm thì mới Thành Tựu.

Chữ Thành Tựu là, mình dứt cái sát trừ này dứt tuyệt thì mới có Thành Tựu.

Đạo là không còn phiền não, chứ còn lợn cợn phiền não thì không được.

Câu hỏi HT đưa ra: Tham Phiền Não đến mấy cô đi thế nào ?

HT trả lời: Đi Trí Tuệ Ba-la-mật + Ly Dục và Chú Nguyện, để diệt trừ Tham Phiền Não đó.

Phát Thú có 4 pháp; pháp thuận, pháp nghịch, pháp nghịch, pháp thuận. Có khi mình đi pháp nghịch cái pháp Tham Phiền Não này mình dùng trí tuệ là mình đi pháp thuận. Còn đi Pháp Nghịch là đi Hành Xả Ba-la-mật để mà đánh cái cố tật của mình cái Tham này đi Hành Xả để nó cọ sát nó phá cái Tham trong con người mình ra. 

Thì người mà đi Hành Xả với cái Tham Dục này không diệt cái ngã họ được mà họ phải đi qua con đường Vô Ngã.

Còn người Trí Tuệ họ đi qua con đường diệt cái tham dục này cái Tham Phiền Não này họ thấy sự khổ đau ./.

-----------------------------------------

Chú Thích

Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:

1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.

2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.

3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma. - Pháp hành ma (có Phúc Hành, Phi Phúc Hành, Tối Thắng Hành)

4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.

5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.

--------------------------------------

Bát Bất Tri là 8 điều mình không biết. Là bốn bất tri Tứ Đế + với bốn bất tri quá khứ, hiện tại, tương lai, và liên quan tương sinh:

1. Bất tri khổ (Dukkhe aññāṇaṃ), không thông hiểu về sự khổ ngũ thủ uẩn.

2. Bất tri khổ tập (Dukkhasamudaye aññāṇaṃ), không thông hiểu tập khởi của khổ.

3. Bất tri khổ diệt (Dukkhanirodhe aññāṇaṃ), không thông hiểu sự diệt khổ.

4. Bất tri đạo lộ khổ diệt (Dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṃ), không thông hiểu con đường đưa đến diệt khổ.

5. Bất tri quá khứ (Pubbante aññāṇaṃ), không biết rằng mình đã từng hiện hữu ở quá khứ, có kiếp sống quá khứ.

6. Bất tri vị lai (Aparante aññāṇaṃ), không biết rằng mình sẽ có mặt trong tương lai, có kiếp sống sau.

7. Bất tri quá khứ vị lai (Pubbantāparante aññā-ṇaṃ), không biết có đời sống quá khứ và vị lai, tức là đời sống vui khổ hiện tại bị chi phối bởi quá khứ, và sở hành hiện tại ảnh hưởng vị lai.

8. Bất tri pháp liên quan tương sinh (Idappaccayatāpaṭiccasamuppannesu dhammesu aññāṇaṃ), không biết duyên khởi các pháp, sanh do nhân quả liên quan, như do vô minh có hành, do hành có thức v.v...

-----------------------------

Pariccāga gọi là Phóng Khí, là không để ý tới.

----------------------------

 tám thế gian pháp (Lokadhamma), tám pháp đời, tám thói đời:

1. Được lợi (Lābha)

2. Mất lợi (Alābha)

3. Được danh (Yasa)

4. Mất danh (Ayasa)

5. Chê bai (Nindā)

6. Khen ngợi (Pasaṃsā)

7. Hạnh phúc (Sukha)

8. Đau khổ (Dukkha).