Saturday, September 26, 2026

087 Paṭṭhāna - Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha", "cha ăn mặn, con khát nước. - HT Sán Nhiên giảng ngày 30 tháng 12, 2023

 087 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 30 tháng 12, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 087 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Đề thi: "Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha", rồi "cha ăn mặn, con khát nước." Nghiệp báo đã có, nghiệp chủ nó đuổi theo, bạn giải quyết làm sao? 

Bây giờ Sư nhắc lại bài học cũ của mình khi mà nói tới Buddhavaṃsa Hệ Tộc Chư Phật  thì có:

Nghiệp Tộc

Gia Tộc

Xứ Tộc.

Có hai phần:

1. Thứ nhất nói về Đức Phật Gotama. 

2. Thứ hai là nói về Bản Thân mình.

Đức Phật Gotama

-  Nghiệp Tộc thì Đức Phật Gotama là Bồ Tát Bodhisattva

-  Gia Tộc của Ngài là Hoàng Tộc

- Xứ Tộc của Ngài là Trung Ấn Độ

Bản Thân Mình

- Nghiệp Tộc của mình là gì? 

Thì người nào có Nghiệp Chủ (Kammassakatā) thì đề là Nghiệp Chủ. 

Nghiệp Tộc của quí Phật tử là nam tộc, nữ tộc, tức là nghiệp nam, nghiệp nữ. Mình sinh ra là mình có nghiệp nam hoặc nghiệp nữ, là cái nghiệp của mình hình thành ra mình ra cái sắc thân của mình.

Rồi cái Nghiệp Tộc nói về Danh, là mình sinh ra là người nhị nhân, người tam nhân, hay là người thiện lành vô nhân. Thì cái Nghiệp Tộc của mình sinh ra mình phải biết.

- Gia Tộc của mình là gì? 

Thì người nào trung lưu thì đề trung lưu. hoặc thượng lưu, hoặc hạ lưu. Thượng, trung, hạ.

Nếu quí Phật tử điền được 3 cái Buddhavaṃsa của mình là quí Phật tử sẽ biết được con đường tu tập của mình.

Thí dụ như Xứ Tộc của Đức Phật là Trung Ấn Độ, nơi đó là trung tâm quả địa cầu là nơi các vị Bồ Tát kiếp chót thành Phật đều tới đó, họ có những ân đức đó, họ đi với pháp Pāramī Ba-la-mật của họ. 

Bây giờ mình nói tới mình. Mình sinh ở biên địa. Tại vì nước Việt Nam ở bên kia bờ của Thái Bình Dương.

Trong Buddhavaṃsa (Biên Niên Sử) nói đi từ East qua West, từ Bắc sang Nam, từ Đông sang Tây - from center to edge, thì mình ở đây, nếu mình nói đây centre = chính trung, edge = biên địa.

Nước VN ở biên địa, Thái Lan, Cambodia thì nằm trong đất liền. Còn thí dụ như trong nước mình như Vũng Tàu là biên địa phía bên bờ biển Thái Bình Dương. Như Phan Rang là biên địa, nó ở ngoài biển rồi, Sài Gòn là đất liền, là trung tâm.

Thiền sinh hỏi: sinh ra ở trung Ấn Độ, những người không phải Bồ Tát, những người bình thường, như người dân ở xứ Ấn Độ họ sinh ra họ được phước báu nào ?

HT trả lời: Nó có 2 vế: Sinh ra ở ngay Ấn Độ, nhưng phước mà sinh cùng thời Đức Phật lại khác, mà sau thời Đức Phật lại khác.  Như bây giờ là sinh sau thời Đức Phật. Sinh cùng thời Đức Phật thì phước đầy đủ, nhưng sau đó thì mất dần.

Do đó, khi viết Buddhavaṃsa của Đức Phật xong bắt đầu mình viết qua tới phiên mình thì mình ra được con đường tu tập của mình.

Khi Bồ Tát Siddhartha Ngài ngồi quán sát rồi Ngài kể lại cho Ngài Xá Lợi Phất khi Ngài Xá Lợi Phất hỏi là Ngài hiện bày thần thông, rồi Ngài hiện bày Pāramī Ba-la-mật, rồi như Ngài nói: "Từ khi ta phát nguyện để thành Phật thì ta phải coi lại những sự thành tựu của các Chư Phật quá khứ để mà làm biểu tượng, biểu hình, hình mẫu ta noi theo", chứ không phải là Đức Phật Ngài tự ên vạch con đường Ngài đi. Chứ không phải là Ngài tự hư cấu ra hay là tự nghĩ tưởng ra, Ngài phải coi lại những sự thành đạt kết quả của các Chư Phật.

Cũng như Sư nguyện Chánh Đẳng Giác, nhưng Sư được may mắn, thời này Sư coi được các Chư Phật quá khứ, trước nhất là Sư có được Đức Phật Gotama, làm biểu tượng, mẫu hình cho Sư noi theo được.

 Nếu như đến thời kỳ mình sinh ra, thí dụ như sau 5000 năm mình mới sinh ra mình không có.

Do đó, thì bắt đầu mình biết rồi thì mình không có 5000 trong cõi nhân loại, không có thì giờ, mình phải mau mau nguyện thành chủng tử của Tusita liền cho hết 5000 năm của Phật lịch, hết 5000 năm của Giáo Pháp: "Tôi nguyện xin trở về trú xứ của các vị Bồ Tát, ở nơi đó tôi tu tập tiếp chứ không bị gián đoạn."

 Đức Phật Ngài nói: "Khi ta còn ở trong Tusita group" không có rời ra. Tusita group dịch là quần thể Đâu Suất Đà, group dịch là quần thể.  Ở trong quần thể Chư Thiên mà các vị đó có chánh pháp, Ngài không có rời. Còn khi Ngài rớt xuống làm con sư tử, con voi, con khỉ, lúc đó Pāramī Ba-la-mật của Ngài đi chứ không phải là Ngài noi theo với một cái giáo pháp nào. Có lúc Đức Phật Ngài là con sư tử đi theo một vị Phật suốt một tuần lễ, không phải là Ngài học giáo pháp của vị Phật mà là đi theo cái lực của Đức Phật đó để Ngài nguyện thành Pāramī Ba-la-mật là không sát sinh, Ngài nhịn đói luôn trong một tuần lễ đó, sau đó Ngài mất luôn, Ngài trở về Tusita group.

Nên khi quí Phật tử có rớt xuống, nhưng mà rớt xuống ngay cả các vị Bồ Tát rớt xuống làm thú chứ không phải làm người, người có hai loại, người sinh thời giáo pháp Phật, người sinh vào thời không giáo pháp Phật, thì người trong hai thời đó, mình đây là người sinh vào thời không có Phật nhưng mà thời có giáo pháp Phật.  Còn tiếp nữa là sau này thì không biết, không có giáo pháp Phật không có thời Phật nữa. 

Thì khi Đức Phật Ngài rớt xuống làm thú, thì Ngài có hai đường để đi là đi theo Pāramī Ba-la-mật của Ngài đã kiên cố nguyện, hai nữa là thời có Phật mà Ngài là thú, chứ Ngài không có rời. Ngài sinh ra trong thời có Phật mà Ngài là thú sinh ra trong thời có Phật. Còn không được thời có Phật thì Ngài phải đi theo Pāramī Ba-la-mật của Ngài đã kiên cố.

Còn mình đây mình không có, các quí Phật tử mình phải lo cái chỗ đó.  Nên mình có giáo pháp, mình có chánh pháp, mình có môi trường tu tập là mình phải nắm bắt liền còn không là mình phải có nguyện.

Trong quần thể của Tusita Ngài ở trong đó không rời kiếp chót của Ngài là khi Ngài xong kiếp chót của Ngài là kiếp chót nào? Là Vesadon, Vessantara

Bên Thái Lan tất cả những ngày lễ Vesak, Vessantara ngày Tam Hợp họ đều đóng kịch diễn tuồng Vesadon là Vessantara. Là sau khi Ngài xong xả thí Pāramī Ba-la-mật này Ngài trở về quần thể Tusita cho tới khi Chư Thiên thỉnh Ngài xuống. Chư Thiên tới với Ngài họ chỉ nói một câu là: "It is the time for you - đây là tới thời cho Ngài". Thì lúc đó Ngài mới quán sát 5 điều, lúc đó Ngài đang ở Tusita group Ngài quán sát 5 điều là: 

1. Nơi nào mà ta đi ---> Trung Ấn Độ.

2. Thời điểm nào mà ta đi ---> Thời điểm 100 năm của nhân loại

3. Gia đình nào ta đến ---->  Ngài coi cha mẹ của Ngài

4. Xứ tộc nào ta đến ----->  Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu)

5. Gia Tộc nào ta tới -----> Giòng Gotama

Đó là điều Ngài phải quán sát. Tuổi thọ chúng sinh, hội chúng lúc đó rồi Ngài mới đi xuống trần. Rồi Ngài đồng ý thì Ngài cắt đứt giai đoạn mà Ngài đang hành Pāramī Ba-la-mật ở tại quần thể Tusita, và Ngài hạ sinh vô trong thai bào của người mẹ.

Quí Phật tử phải nhớ, nên Sư nhắc quí Phật tử nhớ, cũng như Sư nhắc cho Sư, Ngài Tịnh Sự cũng nhắc cho Sư cũng vậy. Các quí Phật tử phải nhớ 3 điều. Nhớ giai đoạn này mình có 3 điều là:

1. Được sinh làm người.

2. Được gặp Phật Pháp, Chánh Pháp.

3. Có cơ hội được tu tập.

 Có Chánh Pháp mà họ không biết. Họ vẫn còn nói thời này là thời mạt pháp. Không phải, mạt là mình mạt, chứ Phật Pháp không mạt, mình mới qua 2567 năm, mới qua một nửa. Và mình có môi trường tu tập, có điều kiện tu tập và có cơ sở tu tập, là mình có Xứ Tộc. Rồi tụt xuống nữa thì không biết làm sao.

Sư chia sẻ với quí Phật tử. Khi Sư đi xa về, vô rửa mặt rửa tay xong là vào phòng làm việc ngay, ngồi gõ máy, tối gõ, sáng gõ, trưa gõ, chiều gõ. Mà tất cả các Bồ Tát Chánh Đẳng Giác đều có Tứ Chánh Cần. Nên các vị Bồ Tát nên đi theo là noi gương con đường mà các vị Phật đi, họ noi theo đó tu tập làm điểm tựa, mà mình đây cũng có rồi mà mình không làm. Sư nhắc thôi, mà Sư cũng nói, Sư cũng vậy hà. Quí Phật tử đâu bao giờ nói lá xanh khóc là vàng, lá vàng khóc lá xanh, đó là sự vô thường, nên Sư chỉ nhắc nhở hoài, ráng lo tu, có cơ hội đừng bỏ qua, đọc ít đọc nhiều cũng phải chịu khó đọc để có chủng tử. Bồ Tát đi tìm một câu thôi "các Pháp hữu vi là vô thường" xong là bị con dạ xoa nuốt. Còn mình đây không có, khi vô thường nó đến là không kịp nữa.

Còn Nghiệp Chủ kéo mình nữa, quí Phật tử đã sài credit card rồi thì chủ của credit card không buông mình đâu.  Quí Phật tử tu giải thoát là chạy trốn nghiệp.  Như Aṅgulimāla giết 999 người, để mà trả nghiệp thì bao giờ mới được giải thoát, gặp Đức Phật Aṅgulimāla buông dao xuống quay lại tu thì ông đắc Alahan, mà còn chưa hết ông bị đá chọi vào đầu máu chảy, ngày nào đi bát cũng bị người ta đánh tại vì vợ con bị giết, gia đình tan nát, giờ ông đi tu nhờ được Đức Phật che chở mà trở thành Alahan, Đức Phật nói hãy trả cái nghiệp dư xót của mình, cái này còn dư xót lại, cái này là hữu dư y Niết-bàn, bây giờ là Vô Sinh là ông chạy được. 

Mình đâu có được như Aṅgulimāla, mình thấy cái gương trước mắt. Ông chạy vù một cái là qua cửa Vô Sinh.

Còn quí Phật tử mình may mắn thì hẹn, nhưng không biết hẹn tới khi nào giải quyết xong cái hẹn của mình, là kẹt rồi.

 Nên Sư viết lại cái Nghiệp Tộc của Đức Phật lúc bấy giờ Ngài là Bồ Tát rồi. Bồ Tát tức là Ngài đã 23 Tăng Kỳ, 400,000 đại kiếp rồi, kiếp này là kiếp chót. 

Còn mình đây không có tư tưởng sắt đá thì Nghiệp Tộc của mình là gì ? Thiện, bất thiện, cả hai.

Gia Tộc của Đức Phật là gì? Gia Tộc của Đức Phật là Hoàng Tộc.

Gia Tộc của mình là gì ? mình không thấy, còn Ngài có sẵn hết rồi, Ngài tới để thọ hưởng thôi, tại vì Ngài đã làm hết rồi, kiếp này là kiếp chót, mà Ngài không phải trả 6 năm của Ngài do có một lần Ngài khinh suất thôi mà Ngài phải trả 6 năm tìm đạo. Các vị Phật kia đâu có dài lê thê như Đức Phật. Đức Phật Gotama phải trả dài và khổ sở nhất. 

Hai mươi ba tăng kỳ Ngài tu, 100,000 đại kiếp Ngài tu, nhưng Ngài sống trên đời này có 80 năm, ngắn nhất trong các vị Phật, mà trong 80 năm thì Ngài hưởng vị Phật có 45 năm, từ 1 đến 35 năm Ngài ở ngoài đời, từ thành Phật là 35 tuổi cho đến 45 năm là 80 tuổi, Vô Dư Y Niết-bàn, chấm dứt, mà trong 45 năm đó đâu phải là ngọt ngào hết đâu, cũng bị mắng chửi, bị lăn đá chảy máu chân, rồi đủ thứ hết. Nhưng mà Ngài xong rồi. 

Tới phiên mình thì sao? Bây giờ mình nói Gia Tộc của mình.

Mình sinh ra. Đầu tiên mình sinh ra trong gia đình có chánh kiến không? Trong quốc độ có quốc giáo không? Gia đình mình có chánh kiến không, hay là gia đình mình không có chánh kiến. Tới giờ vẫn còn cúng cơm, còn cúng vật thực. Mà giờ có người có chánh kiến, có người biết chánh pháp, mà nói không có nghe thì là thua rồi. Cũng như có người đi xuất gia, có con xuất gia, có chánh pháp mà kinh sách không đọc. Cái nghiệp chúng sanh nặng quá, cái Nghiệp Tộc nặng hơn Gia Tộc. Gia Tộc chỉ là một yếu tố nhỏ, Nghiệp Tộc bao trùm luôn Gia Tộc lọt vào trong, đừng nói tới Xứ Tộc nữa.

Nghiệp Tộc của mình có cả thiện và bất thiện. Còn Nghiệp Tộc của Đức Phật mình ở kiếp chót là Bồ Tát Chánh Đẳng Giác, Gia Tộc của Ngài là hoàng tộc ở trong cung điện là Ngài không tạo điều ác. Còn mình đây, mình ở trong Gia Tộc, mình coi lại đi, thời cha mẹ nghèo buôn gánh bán bưng, phát sinh trộm cắp, phải làm hết để mưu sinh nuôi con, nuôi gia đình, rồi nói thật nói láo, ngũ giới không giữ, cũng phải làm để có tiền để nuôi con, Gia Tộc mình mà, cái nghiệp của mình mà. Rồi mình coi, mình nghĩ giờ mình được rồi, còn Gia Tộc mình trải qua hồi lúc nghèo khó hồi ông cha của mình trải qua nghèo khó.

Đức Phật Ngài sinh ra, có Vua Cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là Hoàng Hậu Maya sống trong hoàng cung toàn làm việc thiện, mà hai ông bà giữ bát quan trai trường. Mà Ngài ở trong hoàng cung đâu có việc gì bất thiện, Ngài chỉ hưởng phước thôi. 

Còn mình đây không có, bây giờ mình ngồi đây, Sư cùng với quí Phật tử ngồi đây là mình đang hưởng phước. Hồi lúc ba mẹ sinh mình ra cho tới khi mình có ngày hôm nay mình ngồi nghĩ lại coi, Gia Tộc mình đã chạy qua bao nhiêu cái nghiệp, rồi bây giờ mình cắt hết mấy cái đó để mình giải thoát, hay là mình cắt hết mấy cái đó đi để mình không trả quả, thì mình làm cách gì để mình vượt mau nhanh được như Ngài Aṅgulimāla, khi mà ông giết 999 người, rồi ông cắt hết cái nghiệp để trả nợ vay mượn của 999 người này thì trong thời gian ngắn này là phải nhanh tới Alahan, mà Alahan xong rồi thì cũng phải trả cái dư xót. 

Mình có làm được như Ngài Aṅgulimāla chưa, chưa được. Tại vì thời này mình chưa có Phật. Thứ hai nữa, thời này Pāramī Ba-la-mật mình chưa đủ, người sinh ra thời Đức Phật là họ đã có Pāramī Ba-la-mật đủ. Mình phải bồi đắp, nếu không nỗ lực thì sẽ trôi lăn.

Sư nói đây không phải để mình bi quan hay mặt cảm, mà để mình thức tỉnh.

Ông bà mình nói câu:  "Cha ăn mặn, con khát nước". Nghiệp Câu Sinh nhau. Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha.

Người ta nói: "Cha ăn mặn, con khát nước." Con gái hưởng đức cha, con trai hưởng đức mẹ". Giờ làm sao mà xóa được, gặp người cha mà ngày xưa đi lính thì có nghiệp sát, vì nhà binh thì có nghiệp sát, thì cha ăn mặn rồi con khát nước.

Nên quí Phật tử phải hiểu khi mình không học Paṭṭhāṇa, không học về Duyên, mình không học về 7 bước của Phát Thú Paṭṭhāṇa là quí Phật tử tắc nghẽn liền, nhất là trong Nikaya Kinh Tạng là chết, nguyên tắc là nguyên tắc, nhất là Tạng Luật còn chết nữa, vì nó là cán cân, nó không lệch lạc, không thiên vị, đâu ra đó, một với một là hai, không có du di, không linh động, không uyển chuyển, không có châm chế. Như ông luận sư đó chỉ bứt ngọn cỏ thôi mà đi địa ngục.

Đối với Abhidhamma thì không có, không phải mình bào chữa hay mình chạy, hay mình chữa lửa cho mình. Nhưng Abhidhamma phải Tương Ưng Trí, còn cái kia họ nói luật chứ không nói Đại Thiện Tương Ưng Trí hay Đại Thiện Bất Tương Ưng Trí.

 Do đó, khi câu hỏi: "Cha ăn mặn, con khát nước." Con gái hưởng đức cha, con trai hưởng đức mẹ. Cha ăn mặn con khát nước". Bạn giải quyết sao về Nghiệp Báo của bạn khi bạn đã có Nghiệp Chủ?  

Thiền sinh hỏi: Sư nói cái câu đó là làm sao để mình ra khỏi Nghiệp Chủ đó khi đã có Nghiệp Báo.

HT trả lời: Nghiệp Báo là Nghiệp Chủ.

Thiền sinh: Nhưng mà cái Nghiệp Báo đó không phải trên người con, mà là của người cha mà.

HT trả lời: Câu Sinh Nhau. Hồi lúc mà người cha làm cái gì đó thì người con hưởng cái đó rồi, một thành bốn.

Sư cho thí dụ là, cha mình là lính, sĩ quan, hay là tướng, hay là tá, hay là lính thường thôi. Cha lãnh lương lính rồi đem về nuôi con bằng đồng tiền đó. Mà cha phải đi làm nghiệp sát này là vì nhà binh.

Thiền sinh hỏi: Trước Sư nói là mình chỉ để ý cái nghiệp hiện tại của mình ngay lúc đó. Vậy thì nghiệp quá khứ mình đâu có chuyển được?

HT trả lời: 

Những gì Sư nói thì không bao giờ Sư nói dư, và không bao giờ Sư nói chơi, Sư nói đều có gợi ý, nhưng quí Phật tử không hiểu được cái gợi ý.  Như Đức Phật một bậc Chánh Đẳng Giác có thể xử dụng năng lực của Iddhipāda Tứ Thần Túc để kéo dài mạng sống thêm một kiếp trái đất, nhưng Ananda không thỉnh mời Ngài mà vuột mất, Đức Phật 3 lần Ngài gợi ý mà Ananda không thực hiện thì Marā nhảy vô, thì lúc đó Ananda thỉnh Đức Phật ở lại nhưng không kịp. Đức Phật nói: "Đủ rồi Ananda, ba lần Như Lai gợi ý nhưng Ananda không nghe, Như Lai đã thọ ký với Ác Ma Marā rồi, thì còn ba tháng nữa thôi.

 Hồi nãy Sư nói về Hệ Tộc Chư Phật là khi Đức Phật Ngài về hoàng cung các hoàng thân quốc thích  coi Ngài là hoàng tộc không coi Ngài là Phật. Nhưng Đức Phật hiển lộ thần thông và nói: "Ta không còn là giòng Sakiya mà ta là chủng tộc Phật". 

Giờ Sư nói tiếp hồi nãy nói là Đức Phật Ngài coi những thành quả  đạt được của các Chư Phật làm biểu tượng để Ngài noi theo, nếu như có Phật thì Ngài hành theo, nhưng mà Ngài là thú thì Ngài hành Pāramī Ba-la-mật, còn không thì Ngài theo đường đi của các Chư Phật.

Do đó, khi người ta đặt câu hỏi: "Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha", rồi "cha ăn mặn, con khát nước." Nghiệp báo đã có, nghiệp chủ nó đuổi theo, bạn giải quyết làm sao? 

HT trả lời: Tôi là chủng tộc Phật, tôi có quy y, tôi là con của Phật. Con của Phật có bốn loại.

 Do đó, quí Phật tử là con của Phật rồi thì quí Phật tử phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí  với Câu Sinh Nghiệp với Phật và mình không còn nghĩ tới nghiệp cha nghiệp mẹ, thì quí Phật tử mới đi con đường an toàn, mà đường đó quí Phật tử được hết giòng tộc Pāramī Ba-la-mật của Đức Phật rồi, của vị Thầy của mình rồi.

Người Mỹ là người nước ngoài, bà họ gì tôi không biết, nhưng khi bà lấy chồng thì bà theo họ chồng mình, tức là bà bỏ tộc của mình và bà theo tộc của người chồng.

Khi mình quy y, nếu mình không biết dùng cái Tộc của quy y của Phật hay là Thầy Tổ mình thì mình bỏ mất,  mình sống theo kiết sử của mình theo  thói quen của mình và mình Câu Sinh Nghiệp riêng và mình không có Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Con có bốn hạng:

1. Con ruột -----> Nghiệp

2. Con nuôi -----> Nghiệp

3. Thiên tử ------> Nghiệp

4. Đệ tử. -------> Nghiệp

Quí Phật tử muốn là con hạng nào thì hưởng nghiệp đó.

Mình không biết liền. Khi mình nhìn thấy cái nghiệp của nó, con đường đi của nghiệp đó, Aṅgulimāla đâu có nhìn cái nghiệp mà 999, mà Sư nói cái nghiệp hiện tại của Aṅgulimāla là ông đang Câu Sinh với Nghiệp của Đức Phật, vì ông là con Đức Phật. Nếu ông không nghĩ đến Đức Phật (không câu sinh) mà nghĩ đến gia đình của ông thì ông phải trả cái nghiệp sát của ông, và ông không có đường giải thoát.

Vậy thì quí Phật tử  là tộc chúng là gì? Là Tộc Chủng Phật

Gia Tộc quí Phật tử là Gia Tộc gì? Là Phật Tộc

 Con có bốn loại con, nếu mà Thầy nói cái câu :"Cha ăn mặn con khát nước." Đó là con Hành Tộc. Nhưng con của Thánh Tộc họ không khát nước, tại vì Thánh không làm gì sai mà làm việc thiện, thì con đang sống theo Thánh Tộc, tại vì con có quy y, con là Phật Tộc, Thánh Tộc. Đó là cách giải thoát.

 Nên đề thi của Sư không phải là đề thi Pháp Cú mà là gài bẫy.

Từ khi tôi biết Phật, từ khi tôi quy y Phật, tôi là Tộc Chủng Phật. Không phải mình xóa bỏ dĩ vãng, không phải mình xóa bỏ nguồn gốc gia tộc của mình.  Nhưng mình không có thì giờ. Mình phải bình tỉnh và trí tuệ để mình xử dụng phương pháp. 

Minh phải bình tỉnh và trí tuệ mình bình tỉnh để mà mình xử dụng phương pháp này, thì quí Phật tử mới có cơ may thoát ra. Không phải Sư chỉ cho mình thoát, cái đó là sự thật. Đức Phật Ngài Khi Ngài đi bát trở về thì Yasodhara (Da Du Đà La) bảo Rahula (La Hầu La) vô nói với ông nội là Đức Phật đi bát là làm nhục giòng Sakya, giòng tộc của mình là vua, không để con mình đi xin ăn.

Đức Phật nói: "Không, phụ vương, hôm nay Như Lai là chủng tộc Phật, người không để bát, ta phải đi khất thực, sống chánh niệm chánh mạng,"

Đức Phật đã nói như vậy trước mặt cha. Ngài đâu phải tốt cho họ đâu, nhưng mà Ngài biết dùng cái trí tuệ của Ngài để độ cha Ngài. Nếu quí Phật tử không biết cái này mà gặp người cha mình còn sống thì quí Phật tử không độ được cha mình, không chuyển nghiệp của cha mình.

Đức Phật Ngài nói câu đó, Ngài vừa dùng trí tuệ của Ngài và Ngài vừa chuyển được vua cha. Ngài không có ngã mạn, nhưng Ngài nói thật.

Con thì có bốn loại con, thì quí Phật tử muốn giữ đứa con nào thì giữ,  muốn giữ con nào thì giữ nghiệp con của mình. Nhưng người trí sẽ dùng cái nghiệp của mình. Ngay cả vị thiên tử lọt vô ngay ranh giới của hai vị Thiên Chủ, thì mặt người thiên tử đó mà nhìn về Thiên Chủ nào thì là con của vị Thiên Chủ đó, mà đã là con họ thì họ phải hưởng nghiệp của vị Thiên Chủ này.

Quí Phật tử là con hạng nào trong bốn hạng con?

Khi mình đứng ở đâu là mình hưởng cái phước đó liền, hưởng cái nghiệp đó liền. Đó là Câu Sinh Nghiệp Paṭṭhāṇa 

Đức Phật gặp mấy người đệ tử Ngài như Cūlapanthaka ở gần Đức Phật mà bốn tháng không thuộc một câu kệ.  Đêm đó ông buồn quá, ông đi ra nói với người anh là Mahāpanthaka đã đắt Alahan, nói câu kệ học không thuộc lòng mà ăn của đàn na tín thí thì mang tội, thì anh cho em ra đời được không, về làm cư sĩ hộ độ Tam Bảo, tốt hơn ở trong chùa mà ăn của đàn na tín thí rồi mắc nợ. Người anh nói đúng rồi, thôi em về đi, sống đời người cư sĩ hộ độ Tam Bảo 

 Nói xong với người anh rồi, sáng mang đồ đạt đi về. Thì Đức Phật Ngài biết, Ngài độ.  Ngài hỏi Cūlapanthaka xuất gia làm đệ tử của ai?  Cūlapanthaka trả lời: là đệ tử của Đức Thế Tôn.

Đức Phật nói: Vậy sao không hỏi Như Lai mà đi hỏi người khác?

Làm con thì phải hỏi người cha, chứ sao lại hỏi người khác.  Tức là Ngài nhận một cái trách nhiệm của Ngài, và Ngài đánh thức người kia vị trí của mình.

Cái đó là bậc Chánh Đẳng Giác hay là bậc Alahan hay bậc trí tuệ, đâu có tránh né, nhưng người ta biết trách nhiệm, biết dẫn dắt, biết dìu dắt người con ra khỏi cái nghiệp của mình.

Bảy Pháp của bậc Giáo Thọ là không cho đệ tử làm sai, mà chỉ khuyến khích đệ tử làm đúng thôi, chứ không cho làm sai. Đó là một trong bảy pháp của vị Giáo Thọ.  

Nhưng mà tự mình quên. Mình quy y Phật, kính Phật, mình làm theo lời Phật dạy hay là mình làm theo kiết sử tập khí thói quen của mình, mình đâu phải là con Phật đâu. Mà cứ đòi mỗi Đức Phật từ bi hỉ xả.  Đức Phật Ngài cũng như người cha, Ngài từ bi hỉ xả tha lỗi cho mình đi. Nhưng mình lại không có tha lỗi, mình không thay đổi, chuyển tộc, không có chủng tử Phật Tộc, là quí Phật tử không có Câu Sanh Nghiệp với Phật.

 Bữa nay là cuối năm, Sư muốn quí Phật tử Chuyển Tộc và mình đi tới cái đường Tộc Chủng này, cái Chủng Tộc này thù thắng và mình sẽ có những lợi lạc với Câu Sanh Nghiệp. Mình không đánh mất.

 Quí Phật tử ngồi nghiệm lại, bây giờ quí Phật tử nghe lại bài pháp. Thật sự quí Phật tử sai hết, vì sống theo tập khí cái phàm tộc của mình, Tôi, Ta của mình, rồi bào chữa, biện giải, giải thích.

 Do đó, quí Phật tử mới thấy tại sao giá trị của Chánh Pháp, cái thời của Đức Phật cái giá trị Chánh Pháp là gì? 

Đức Phật nói: Lấy Giáo Pháp làm Thầy.  Tại vì khi Như Lai mất, không ai chỉ dạy thì lấy Kinh Sách để chỉ dạy cho mình, lấy đó làm y cứ mình hành theo.  

Nhưng mà mình không có. Mình không lấy chánh pháp, mình không thừa hành chánh pháp, Sư đến nhà, Sư thấy Kinh Sách để đó là Sư biết người này không thừa hành chánh pháp rồi.  Mà họ một ngày một giây một giờ họ sống trong thân ngữ ý họ tạo ra bao nhiêu nghiệp nữa.

Còn Bát Chánh Đạo; Chánh Nghiệp không có, Chánh Hạnh mình không có, Chánh Mạng mình không có, mình sẽ đi ra. Chánh Mạng, Chánh Nghiệp, Chánh Ngữ, trong ba giới phần đó của Bát Chánh Đạo mình không lấy Chánh Pháp mình làm chuẩn thì coi như là mình bị Tà Nghiệp, Tà Mạng, Tà Ngữ trong mỗi giờ mỗi ngày.

Khi Phụ Vương phẫn nộ bực tức nói làm nhục giòng họ Sakya, làm nhục giòng họ của Phụ Vương, đi xin ăn khất thực.

Đức Phật nói: Như Lai là chủng tộc Chư Phật.  Ngài không nói Ngài là chủng tộc của Phụ Vương.

Khi người ta đưa ra đề tài cho bài thi: Nếu bạn ở trong nghiệp của cha, mà cha làm nghiệp sát, sớm muộn gì bạn cũng phải trả quả báo này. Thì là bạn Câu Sanh Nghiệp với người cha. 

Nên Aṅgulimāla khi bị chọt đá, thì Đức Phật nói; sau này Aṅgulimāla giúp cho những sản phụ sinh khó thì Aṅgulimāla sẽ bớt đi cái nghiệp bị người ta chọt đá tại vì người ta hận thù. Thì ông ngồi bên đây, bà sản phụ sinh khó bên kia, ông đọc: "Từ ngày tôi đắc quả Thánh  không có làm gì sai trật về thân, ngữ, ý, mong rằng sản phụ này sanh dễ", thì người sản phụ đó sanh con được liền.  Một câu nói rất là mộc mạc.

Câu nói : "Từ ngày tôi là tộc Thánh", khai thác câu nói đó là Đại Thiện Tương Ưng Trí, khai thác ngay chỗ đó là mình Câu Sanh Nghiệp, cái hay của nó là mình hưởng giòng nghiệp đó liền.

Ngài nói "Từ ngày tôi vào Thánh Tộc, thân ngữ ý tôi thanh tịnh trong sạch, mong rằng lời nói chân thật này vị sản phụ sinh khó sinh được dễ dàng". Đứa bé được sinh ra liền.

Thì quí Phật tử cũng vậy. Khi Nghiệp Chủ Kammassakatā của quí Phật tử tới, bất kỳ ở đâu, trên máy bay, trên xe lửa, trên xe hơi, quí Phật tử phải nhớ nói: "Từ ngày tôi quy y Phật, từ ngày tôi là Phật tử, từ ngày tôi thọ giới thì tôi có chủng tộc Phật trong người tôi, mong rằng nghiệp chủ này không đủ để khống chế".

Đừng có lấy vỏ phàm tục của mình mà nói. Mình phải khôn ngoan bằng trí tuệ.

Nên phài biết như thế để đánh tan đi cái câu: "Cha ăn mặn, con khát nước". "Cha lấy đức cho con gái, Mẹ lấy đức cho con trai" chưa chắc. 

Chỉ có Phật Tộc, Đức Phật cái nghiệp của Phật, cái đó mới là ăn chắc mà bền và nó an toàn hơn. Cái thế gian hiệp thế này thì 50/50. Không có ai là hoàn hảo, cha mẹ có tu cả đời đi nữa cũng không thằng được. Mình đã quy y Phật rồi, mình sống nương vào Tam Bảo.

Nên Đức Phật nói quay về nương nhờ Tam Bảo, mà mình đây không có, mình lấy cái tôi cái ta của mình để đương đầu với Nghiệp Chủ Nghiệp Báo mà từ vô minh làm ra mà mình không biết nó đến đánh mình thì mình đánh sao lợi.

Nhớ chưa, Đức Phật Ngài cũng dùng Phật Tộc, Ngài coi Chư Phật đi như thế nào ta đi thế đó.  Các đệ tử Đức Phật đều nương vào Tam Bảo, chứ không đi theo chủng tộc phàm phu mình./.

--------------------------------

Notes:

--------------------------

Nghiệp Chủ - Kammassakatā (tiếng Pāḷi) là một giáo lý nền tảng trong Phật giáo, mang ý nghĩa là "nghiệp là tài sản duy nhất/riêng biệt của chính mình" hoặc "sở hữu nghiệp". Thuật ngữ này khẳng định rằng mỗi chúng sinh là chủ nhân duy nhất đối với các hành vi (nghiệp) do chính mình tạo ra và phải tự chịu trách nhiệm về quả báo của những hành vi đó. 

Nghiệp Báo - Karma-vipaka, theo luật nhân quả, "nghiệp" là nguyên nhân (hành động có chủ ý), còn "báo" là kết quả (sự phản hồi, gánh chịu hậu quả hoặc nhận phần thưởng). Nếu bạn gieo hành động thiện, bạn sẽ nhận lại quả báo an vui; ngược lại, nếu gieo hành động bất thiện (ác nghiệp), bạn sẽ phải nhận lại quả báo đau khổ.


----------------------------

Bảy Pháp của bậc Giáo Thọ:  người thầy mang trọng trách giáo hóa luôn phải thành tựu đầy đủ 7 đức tính này để dẫn dắt đệ tử: 

1. Khả ái, khả ý (Pali: Piyo): Người thầy sống có lòng từ mẫn, có cách cư xử và tác phong khiến đệ tử cảm thấy dễ mến, dễ gần, tạo ra không gian tu học ấm áp. 

2. Tôn trọng, đáng kính (Garu): Thầy là người có giới đức trang nghiêm, tâm hồn tự tại, khiến người đệ tử tự nhiên sinh lòng kính trọng và nể phục.

3. Đáng được bắt chước, đáng ca ngợi (Bhāvanīyo): Thầy có trí tuệ sâu sắc, thân giáo và khẩu giáo đều là tấm gương sáng để đệ tử noi theo. 

4. Nhà thuyết giả, biết nói lời khuyên răn (Vattā): Thầy khéo léo sử dụng ngôn từ, biết khi nào cần giáo huấn, chỉ ra lỗi sai để răn dạy, sách tấn đệ tử tiến bộ.

5. Kham nhẫn lời nói (Vacanakkhamo): Thầy có tâm bao dung lớn lao, nhẫn nại lắng nghe những lời bộc bạch, thắc mắc, thậm chí là sự bướng bỉnh hay những lời thô vụng của đệ tử mà không khởi tâm sân hận. 

6. Nói lời sâu kín, giảng giải giáo pháp thâm sâu (Gambhīrañca kathaṃ kattā): Thầy có khả năng phân tích và truyền dạy những giáo lý vi diệu, cốt tủy của Chánh pháp để khai mở trí tuệ cho đệ tử.

 7. Không hối thúc, ép buộc những điều không hợp lý (No ca aṭṭhāne niyojeti): Thầy không bao giờ hướng dẫn hay ép buộc đệ tử làm những việc phi pháp, mê lầm hoặc sai đường đạo

---------------------------------

Câu Sinh có nghĩa là Cùng Sinh

Sahajatakamma = Câu Sanh Nghiệp hay Đồng Sinh Nghiệp

1. Sahajāta (Câu sanh / Đồng sinh): Cùng sinh khởi lên một lúc.

2. Kamma (Nghiệp): Hành động hay ý muốn, mà chi pháp chân đế chính là tâm sở Tư (Cetanā).

Khi kết hợp lại, Sahajatakamma-paccaya được gọi là Câu Sinh Nghiêp Duyên. Đây là một trong 24 duyên hệ hệ trọng hệ thống duyên khởi của Paṭṭhāṇa (Đại Phát Thú)

Trong đời sống hằng ngày, bất kỳ khi nào một tâm (thức) khởi lên, luôn luôn có tâm sở Tư (Cetanā) đi cùng. Theo hệ thống của Paṭṭhāna, tâm sở Tư này không chỉ tích lũy để cho quả ở tương lai xa (gọi là Dị thời nghiệp duyên - Nānākkhaṇika kamma), mà ngay tại sát-na hiện tại, nó còn đóng vai trò đôn đốc, điều hành và phối hợp tất cả các tâm sở đồng sinh khác cùng hoạt động. 

(Đại Phát Thú. Tập III, trang 207)

1. CÂU SANH NGHỆP DUYÊN 

(SAHAJĀTAKAMMAPACCAYA) 

Vacanattha — Chú Giải: 

"Kāyangavācangacittangābhisankharanabhūtena cittappayogasankhātena kiriypabhāvena paccayo upakātrakoti = Kammapaccayo"- Pháp giúp đỡ ủng hộ theo hình thái của hành động tạo tác mà có liên quan với phương cách hiểu biết của Tâm, tức là Pháp giúp đỡ tạo tác với trạng thái tử nơi thân, từ nơi lời và tâm, gọi là Nghiệp Duyên

GIẢI THÍCH TÓM TẮT CÂU SANH NGHIỆP DUYÊN

Câu Sanh Nghiệp Duyên đây, có ý nghĩa đến Tâm Sở Tư, chính là Nghiệp câu sanh với Pháp Sở Duyên và giúp đỡ tạo tác với Pháp Sở Duyên.  Nó có ý nghĩa là Pháp Tương Ưng, đó là Tâm và Tâm Sở đang làm nhiệm vụ thâu bắt lấy Cảnh, có Cảnh Sắc đang hiện hữu, v.v. thì Tâm Sở Tư cũng cùng câu sanh với nhiệm vụ là giúp đỡ tạo tác trong việc tiếp thâu các Cảnh đó.  Ví như, một khi đã tiếp xúc với Cảnh Sắc rồi, Tâm Tham cùng với Tâm Sở sanh khởi thì Tâm Sở Tư giúp đỡ sắp đặt cho Tâm Tham đó đến tiếp thâu lấy Cảnh Sắc một cách trọn vẹn.  Khi Tâm Tham sanh khởi một cách trọn vẹn rồi thì tùy theo trạng thái của Thân hoặc Lởi mà sanh khởi ảnh hưởng từ nơi Tâm Tham đó, cũng thường hiện bày ra trạng thái của Tham.  Sự việc nầy là như vậy, cũng là do bởi chính mãnh lực của Tư căn Tham. Do đó, Tâm Sở Tư nầy mới được gọi là Câu Sanh Nghiệp Duyên

-----------------------------

 

Sunday, September 13, 2026

086 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 23 tháng 12, 2023

 086 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 23 tháng 12, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 086 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh


Cái gì cũng vậy, mình đang nhẫn nại nhưng mình muốn vượt qua những obstackles (những chướng ngại) là mình phải có giới đức của mình, đó là trì giới.

Trì giới này phải là con tàu hay con thuyền đưa mình vượt qua những obstackles (những chướng ngại) chứ không có cái gì hơn. Giới đức trong sạch thì tuệ mới phát sinh. 

Do đó, mình qua phần Sila. 

paṭighāta : Là Pháp Nghịch, nó va chạm, sự dội lại, sự đối kháng hoặc sự kháng cự vật lý tâm lý. paṭighāta, còn ám chỉ sự bất bình thầm kín, sự bực dọc tiềm ẩn hoặc xu hướng dễ nổi giận.

Rồi những paṭighāta (Pháp nghịch - sự đối kháng tiềm ẩn), tới với mình trong khi mình hành thiền, như là chuông reo, gia đình, hay là bản thân mình thì lúc bấy giờ mình phải Xả Thí Dana. Rồi xong xuôi mà muốn Xả Thí Dana thì mình phải có Metta Tâm Từ cho paṭighāta sự đối kháng tiềm ẩn này thì mới được. 

Paṭighāta pháp nghịch thì mình phải có Metta Tâm Từ cho mình. Mình xả thí nhưng không có Metta Tâm Từ thì không được. Khi mình xả thí hết những cái gì mà paṭighāta  sự đối kháng tiềm ẩn tới, những cái pháp nghịch thì mình phải buông bỏ. Buông bỏ bằng cách: Khi pháp nghịch paṭighāta tới là do mình có oan trái với họ, do đó nó mới trạo lại với mình, thì mình phải rải Metta Tâm Từ cho họ. Mình rải tâm từ cho họ thì cái nghiệp của họ với cái tâm từ của mình cộng lại nó mới giảm paṭighāta sự đối kháng tiềm ẩn đó được . Mấy cô nhớ khi mà mấy cô tu mà có những paṭighāta sự đối kháng như chồng, vợ, con cái tài sản của cải nhà cửa, thì đó là cái nghiệp thì mình phải có Metta Tâm Từ mới được. Rải tâm từ phải thành thục thì mới cảm hóa được.

Do đó, Tâm Từ đi với xả thí, thì có Tâm Từ khi mình đang xả thí, Tâm Từ của mình rải thì cái nghiệp paṭighāta với người ràng buột với mình sẽ giảm xuống thì Hành Xả mới đi được.

Hành Xả là con đường cuối là con đường đi tới Tuệ thứ mười Hành Xả.

Tuệ thứ 10. Saṅkhārupekkhā ñāṇa: Tuệ xả hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các hành.

Do đó, cô ráp mười Ba-la-mật này mà cái chót mà rớt đúng vào cái Hành Xả thì con đường nó đi tới cái Hành Xả Tuệ.

Do đó, những cái đó mà cô làm mà không đúng kỹ thuật hay là đúng cái key sẽ không có kết quả.

Thiền sinh hỏi: Tức là mình không lấy đúng Pāramī Ba-la-mật nào ?

HT trả lời: Tại mình không có phương pháp, không có key sẽ hành không được.

Thiền sinh hỏi: Tại vì pháp nghịch paṭighāta khi nó đã nghịch rồi thì cái nghiệp đó nó theo ?

HT trả lời. Pháp nghịch paṭighāta là cái nghiệp nó theo thì mình phải Xả Thí trước và phải Metta Tâm Từ rồi mới qua Hành Xả thì mình mới đi được. Hành Xả là cái cuối. Khi mình chưa Xả Thí xong mình chưa Metta xong, mình đi Hành Xả không được, tâm mình đi không được, nội cái vương vấn là vướng liền. Chữ chót là chữ Hành Xả.

Nên khi mình học mình không biết cách là không có kết quả. Nói về chi pháp mình phải coi mình hiểu. Tất cả bốn cái tâm cuối đưa đến Tâm Đạo và Tâm Quả và Phản Kháng. 

Là bảy Sát Na Tâm Đổng Lực, thì nó chỉ có một là Đại Thiện Tương Ưng Trí. Nhưng mà nó :

- Qua vị trí này là Thuận Tùng, 

- Qua vị trí này là Cận Hành, 

- Qua vị trí này là Chuyển Tộc, 

- Qua vị trí này là Đạo ... 

Chứ thật ra nó là Đại Thiện Tương Ưng Trí, chứ không có cái gì khác, mà mình không biết cách dùng thì không có kết quả. 

Bốn tâm cuối cùng đưa đến Tâm Đạo và Tâm Quả và Phản Kháng là:

10 - (11). Saṅkhārupekkhā ñāṇa: Tuệ xả hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các hành.

12. Saccānulomika ñāṇa: Tuệ thuận thứ (thuận theo thực tế, tức thuận theo Tứ Diệu Ðế).

13. Gotrabhū ñāṇa: Tuệ chuyển tộc, vào lúc "chuyển thay dòng dõi" (tức từ phàm trở nên Thánh).

14. Magga ñāṇa: Ðạo tuệ.

15. Phala ñāṇa: Quả tuệ.

16. Paccavekkhaṇa ñāṇa: Tuệ ôn duyệt, Tuệ Phản Kháng

Như vậy thì, khi hành Pāramī Ba-la-mật hay khi hành Tứ Niệm Xứ mình sài tâm Đổng Lực. Tâm Đổng Lực là tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí, hỉ thọ hay xả thọ, thứ hai là Hữu Dẫn hay Vô Dẫn.

Do đó, những cái đó mình làm mình mới biết, nhưng mình phải biết. Vậy thì từ giai đoạn Chuyển Tộc Gotrabhū đi tới Vodāna-citta Tâm Dũ Tịnh cũng ra Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Tại sao cái này gọi là Chuyển Tộc Gotrabhū ? Giai đoạn này tại sao gọi là Chuyển Tộc Gotrabhū ?

Tại sao cái này lại là Dũ Tịnh Vodāna ? Tại sao giai đoạn này gọi là Dũ Tịnh Vodāna. Phàm và Thánh, là Vodāna càng tinh khiết hơn, Thánh thấp lên Thánh cao.

Do đó, người trí họ biết khai thác góc độ của Đại Thiện Tương Ưng Trí. Rồi từ góc độ của Đại Thiện Tương Ưng Trí mình bỏ vô trong vị trí nào thì Đại Thiện Tương Ưng trí sẽ làm hết chức năng của nó ở trong vị trí đó.

Chẳng hạn như Thuận Tùng là nó đi theo sát với cảnh Tam Tướng, chứ nó không đi cái cảnh của Cận Hành. Cận Hành là nó bắt sát cảnh Tam Tướng chứ nó không bỏ cơ hội.

Do đó, Đại Thiện Tương Ưng Trí phải biết làm việc đó.

Nên khi mình biết cách dùng thì mình chỉ có Đại Thiện Tương Ưng trí nhưng mà cái gì mình cũng sài được hết, giống như chìa khóa vạn năng ổ khóa nào cũng mở được.  Tức là người trí xử dụng biết xử dụng chìa khóa vạn năng này như bậc trí biết xử dụng tâm Đại Thiện Tương Ưng trí của mình một cách hữu hiệu, hữu ích, hữu lợi, cái đó là sự Tỉnh Giác Sampajañña, thì nó mới đem lại kết quả tốt, chứ còn không thì không có kết quả.

Nên khi nào mình biết Dũ Tịnh Vodāna ?

Khi nào mình biết Chuyển Tộc Gotrabhū ?

Gotrabhū là mình tính từ cái qua kiết sử, còn nếu mà Vodāna là từ kiết sử thấp lên kiết sử cao. Từ triền cái qua kiết sử là Chuyển Tộc Gotrabhū . Còn Dũ Tịnh Vodāna là từ kiết sử thấp lên kiết sử cao, từ kiết sử thô thiển tới kiết sử vi tế.

Do đó, những cái đó Đại Thiện Tương Ưng trí làm được hết.

Nên quí cô phải khéo léo. Cái đó mình, một là mình có trí để tìm ra, hai mình có Thầy chỉ dẫn cho mình biết cách hành để mang lại kết quả, chứ còn không thì không có kết quả.

Hồi nãy Sư nói; từ triền cái qua kiết sử là Chuyển Tộc Gotrabhū thì mình nói : Trong đời sống hàng ngày; ăn, uống, ngủ, nghỉ, đi, đứng, nằm, ngồi, mình sài tập khí, kiết sử, thói quen hay là dùng trí thì mình phải tìm ra. Có nhiều người họ không dùng trí, người ta làm hết cho mình, thì cái đó cũng có. Sư khuyên quí Phật tử không chê trách ai hết, không chê ai dỡ, không chê, nhưng mình biết được là cái này khó lắm, khổ lắm.

 Mấy cô để ý, khi học về Pháp Thú, học về Tam Đề, cái Tam Đề về Đạo, Kiến Giải về Đạo, thì Sơ Đạo là Kiến Giải, mà từ Nhị Đạo lên tới Tứ Đạo là Vodāna phải là tu tập.

Thì Kiến Giải là tri kiến mình được phải sửa đổi. Cái tri kiến của mình phải sửa đổi, chứ mình cố chấp, mình kiến chấp, mình bảo thủ, mình không thay đổi thì mình không cách nào sửa đổi. Đi chùa 100 năm, làm Phật tử 100 năm mà không thay đổi, vẫn giữ nguyên, cốt con khi thì vẫn là con khỉ, không thay đổi.

Có duyên thì mình còn sửa, còn không họ cứ con đường họ đi. 

Thí dụ. Người VN theo tập tục văn hóa của người Á Châu hay là tập tục văn hóa nước VN, mình qua Mỹ mình vẫn giữ những tập tục đó, không ai nói mình được, mình vẫn giữ truyền thống đó, mình vẫn như vậy không thay đổi. Còn nếu như mình qua Mỹ và mình thấy tập tục văn hóa của mình cũ xưa, lỗi thời, giờ mình phải canh tân, đổi mới thì mình sửa. Chính mình thấy cái nào cũ xưa, chính mình thấy cái nào cổ lỗ sĩ, thì chính mình phải thấy chứ không ai thấy giùm.

Vậy thì Chuyển Tộc Gotrabhū tức là nó thay đổi cái chủng tộc của mình hay là chủng loại của mình hay là giòng tộc của mình. Mình có 3 loại chuyển tộc, 3 loại giòng tộc.

1. Thứ nhất là Nghiệp Tộc, là bản chính., cái giòng Nghiệp Tộc của mình là một.

Cái giòng tộc của mình có 3 loại: Nghiệp Tộc (Kamma) của mình nó theo mình từ kiếp này qua kiếp kia, nó đi theo hoài, gồm quá khứ, hiện tại, vị lai. Cái Nghiệp Tộc đi theo mình như bóng với hình.  Nếu như mình không thấy được nó, mình không sửa được nó thì hết kiếp này nó qua kiếp sau, cốt khỉ hoàn cốt khỉ. Cái nghiệp tộc của mình nó như vậy.

Như vậy thì khi mình từ con người rớt xuống Apāya khổ thú là do mình làm, mình đã không khéo nên bị đọa xuống khổ thú. Cũng từ người mình sanh vào cõi Chư Thiên là mình trở thành Thánh là do mình chuyển được.

2. Thứ hai là Gia Tộc, tức là gia đình của mình. Mình sinh ra trong gia đình đó có cộng hưởng câu sinh nghiệp chung với gia đình mình. Nghiệp tộc là của mình là mình lọt vô trong gia tộc. Thì cái gia tộc đó nó hình thành ra một sự sống của mình trong đó. Cha mẹ dạy mình, anh em dạy mình, cái gia tộc nó sẽ sinh trong cái đó. Cái nghiệp của mình nó đã lên rồi mà vô trong cái gia tộc này nữa thì nó cũng lại là một cái nữa của mình. Sống thân ngữ ý lúc nào cũng vậy, ở gần đen thì sáng gần mực thì đen.

3. Thứ ba là Xứ Tộc, môi trường.

Thì ba loại này; Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc, nó phát triển, khi Chuyển Tộc Gotrabhū, mình phải chuyển một lúc 3 cái, chứ không chuyển một được. 

Chuyển Nghiệp Chủ của mình, chuyển Gia Tộc của mình. Thí dụ Gia Tộc mình từ xưa đến bây giờ không có người xuất gia, và mình muốn đi xuất gia mới thoát được cảnh luân hồi thì mình phải chuyển. Đó là Gia Tộc.

Còn Xứ Tộc, thí dụ ở xứ này không có người tu, không có người xuất gia mà mình muốn chuyển phàm qua Thánh, thì mình phải chuyển, chứ không phải mình nói môi trường ở đâu mình ở đó mình phải chịu.

Thì 3 cái này, không được phép cho là cái này nhiều cái này ít, cái này mạnh, cái này yếu, cái này nặng cái này nhẹ, 3 thứ đó bằng nhau.

Vaṃsa là giòng tộc, phàm hay Thánh cũng vậy, có 3 loại:

                                                      Quá Khứ

                   Nghiệp Tộc (Kamma)   Hiện Tại

                                                          Vị Lai

Vaṃsa        Gia Tộc

                

                   Xứ Tộc


Chuyển Tộc là chuyển cái gì ? Gotrabhū nếu Chuyển Tộc  là chuyển từ phàm qua Thánh, chuyển nghiệp của mình, chuyển Gia Tộc của mình, chuyển Tộc Xứ của mình. Ba cái mình chịu không nổi, ba cái thì Đổng Lực nó đánh mình. Mà mấy cô coi cái nào, mình coi một cách thiên vị. Nên Đức Phật kêu mình phải cân bằng, phải giữ tâm cho khéo để mình điều khiển, không cái nào nặng, không cái nào nhẹ, không cái nào nhiều, không cái nào ít, và phải nhìn 3 mặt, chứ hồi nào tới giờ mình chỉ chuyển một mặt là không đúng, mình không biết được kẻ nghịch của mình là cái nào nữa.

Nghiệp Tộc nó đã sinh ra mình nó là Nghiệp Chủ rồi, nên ngay cả Sắc Pháp cũng có Sắc Nghiệp, rồi nó có Sắc Tâm (Gia Tộc) , rồi Sắc Quí Tiết (thuộc Xứ Tộc)

Sắc Quí Tiết thuộc về Xứ Tộc.

Sắc Tâm thuộc về Gia Tộc, hay Sắc Vật Thực nó nằm ở trong đó. Mình sinh ra rồi gia đình mình cho mình ăn cái gì mình theo cái đó. Rồi gia đình mình dạy mình cái gì mình có cái tâm đó mình có cái ý đó.

Ngay cái sắc pháp mình thôi, ngay sắc thân mình thôi cũng có mấy bộ mặt rồi mà mình không biết. Cha mẹ không sinh ra mình là người nữ, cha mẹ không sinh ra mình là người nam, mà là do nghiệp tạo nên.

Chuyển Tộc là chuyển từ phàm ra Thánh.

Gia Tộc là gia tộc phàm qua Thánh tộc.

Xứ Tộc, xứ này không có chánh pháp phải qua xứ có chánh pháp.

Vậy thì khi cô nhìn một người, cháu của mình cũng vậy, thân bằng quyến thuộc của mình, con cái của mình cũng vậy, mình muốn độ nó hay mình muốn câu sinh với nó thì phải nhìn 3 cái Tộc. Đức Phật cũng vậy thôi, Đức Phật đến với một chúng sinh nào Ngài nói nó có 3 Tộc.

Nội cái đó là mấy cô thấy là giật mình liền. Sư nói mình không có thì giờ để mình sống với cái nghiệp của chúng sinh, mình đây còn lo chưa xong.

Thiền sinh hỏi: Cái đó cũng làm cho con hơi rắc rối khi mình chuyển sang Ba-la-mật. Tức là bây giờ mình nói Hành Xả, mình nói là một phương pháp nhất định để tu tập Hành Xả là phải biết Nghiệp Chủ, phải biết 3 Tộc.

HT trả lời: Cũng ở trong Đại Thiện Tương Ưng Trí. Có một cái tâm, chìa khóa vạn năng, Nghiệp Tộc mình cũng mở, Gia Tộc mình cũng mở, Xứ Tộc mình cũng mở, chỉ có một Tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí. Hỉ thọ hay xả thọ là bẩm sinh của mình sinh ra rồi.

Quí Phật  tử phải biết mình sinh ra với tâm đại quả nào, mình phải nhớ Mahāvipāka Tâm Đại Quả nào.  Như Đức Phật Ngài nói với chúng Tăng: "Như Lai sinh ra là xả thọ", từ khi Ngài sinh ra cho tới ngày Ngài viên tịch không thấy Ngài cười, mà cười là có vấn đề, từ trong hoàng cung, từ Vua Cha, từ Mẫu Hậu, mấy anh em không có cười.

Mình phải hiểu vậy đó, mình phải biết. Như Sư đây, Sư hỏi má Sư, Má Sư có học Abhidhamma, Mẹ Sư nói Sư sinh ra là hỉ thọ.

 Đứng trước một Nghiệp Tộc. "Người ta nói: số nghèo đi đến xứ mô cũng nghèo" , đó là người ta nói Nghiệp Tộc, họ không nói tới Gia Tộc hay Xứ Tộc. Họ nói trong sự bi quan, họ nói trong tiêu cực của họ thôi, số tôi vậy, nghiệp tôi vậy.

Mình nghe như vậy thì đầu tiên nhất mà muốn mổ xẻ thì phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí. Mà khi mình nghe cái đó mà tâm của mình hơi buồn cho người đó, tội nghiệp cho người đó thì mình mất tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí liền vì tâm sân của mình khởi lên.

Thì người nào nói: "Tại cái nghiệp của tôi". Số của tôi nghèo là cái nghiệp của tôi, đi đến số mô cũng nghèo, thì mình nghĩ người này cố chấp quá, có nhiêu mà nói hoài, thì mình làm sao có tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí để mình độ người ta. Mình bị sân khởi lên.

Thì khi mình nhìn được con người đó, mà mình có tâm phiền người đó khi mình nghe nói về câu chuyện đó, thì mình không có Đại Thiện Tương Ưng Trí cho mình. 

Chẳng hạn mấy cô ngồi thiền, ngồi hoài không có kết quả, cô nói: không thấy khá gì hết chơn, thì cô đâu có Đại Thiện Tương Ưng Trí, mà cô có tâm sân. Mà tâm sân thì không bao giờ có pháp thiện, tại vì đang sống trong pháp bất thiện, thì trong cái sân đó có si bất thiện biến hành, si vô tàm vô úy, trạo cử. Thì mấy cô làm sao thấy được pháp. Thì cái đó mình phải sửa từ cái gốc cái tâm của mình.

Như vậy thì khi mình nói tới cái đó thì mình nghĩ tới người ta, hay nghĩ tới mình.

Mình đi Pháp Hành, thì không phải tối ngày mình ngồi thiền là mình đi Pháp Hành. Trong ba loại Tộc này, ngay trong giai đoạn mấy cô ngồi một mình, thì bây giờ cô đang sống trong Nghiệp Tộc hay đang sống trong Gia Tộc, hay trong Xứ Tộc mình đang ngồi, mình đang sống trong Nghiệp Tộc của mình, hay đang sống trong Gia Tộc của mình, hay đang sống trong Xứ Tộc của mình, mình ở môi trường nào? Ở trong Gia Tộc nào? Hay ở trong Nghiệp Tộc nào? Mình phải biết.

Thiền sinh hỏi: Thì không phải là cái Nghiệp Tộc nó mới dẫn mình đi vô trong cái Gia Tộc đó?

HT trả lời: Không phải, mà là mình câu sinh nghiệp với Gia Tộc dẫn dắt mình vô trước, rồi cái nghiệp của mình cộng chung vô là nó sinh ra nữa. 

Mình có câu sinh nghiệp, câu sinh như thế nào?

 Thí dụ như, một kiếp nào đó mình với gia đình này nguyện (ở VN người ta có câu thề: Tôi nói sai tôi làm con bà). Thì mình sinh ra với câu sinh nghiệp với cái gia tộc này rồi. Nhiều khi cha mẹ không cầu con mà mình cầu, mình xin vô, mình muốn vô để làm chuyện oan trái hay chuyện báo thù, do ái luyến. Đó là Gia Tộc, rồi mới có cái nghiệp dẫn vô.

 Nên mình đừng có nói là Nghiệp Tộc.

Tôi nguyện tôi gặp bà ở chỗ sướng mà an lành, chứ chỗ khổ tôi không gặp đâu. Đó là Xứ Tộc. Tôi muốn gặp ông ở trên cõi trời chứ tôi không gặp ông ở xứ người đâu. Đó là Xứ Tộc, mình đã nguyện như vậy nên mình mới gặp lại , đó là Xứ Tộc, là môi trường.

Cái Tộc không cũng làm mình mệt rồi, Xứ Tộc mà bộ lạc tộc sống trong bộ lạc này, sống trong môi trường này, sống xứ sở này, sống điều kiện này. "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài."

Sư hỏi lúc nãy, mấy cô đã trả lời Sư. 

- Hiện tại sự sống của mình, đời sống của các cô là cô đang ở trong Tộc nào trong 3 Tộc này?

Thiền sinh trả lời: Cả 3 Tộc có hết.

- Sư biết là cả 3 Tộc có hết, nhưng trong sinh hoạt, trong đời sống của mình là mình bị chi phối cả 3 Tộc, nhưng cái nào bị ám ảnh nhất? Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc?

Có những người sống trong gia đình, nhưng người ta không chịu ảnh hưởng của gia đình, họ sống độc lập, thì ở trong Gia Tộc không ảnh hưởng gì họ, họ sống chủ trong nghiệp họ có, sướng cũng có mà khổ cũng có, giàu cũng có, nghèo cũng có, họ sống độc lập, tuy là họ ở trong Gia Tộc của họ nhưng họ độc lập. 

Điển hình Đức Phật khi Ngài là Bồ Tát Siddhattha , Ngài ở trong hoàng cung Ngài không bị ảnh hưởng của Gia Tộc, Ngài không bị ảnh hưởng của hoàng tộc, Ngài sống độc lập. Đờn ca, sướng hát, lâu đài, mỹ nữ. Ngài sống theo tư duy Nghiệp Tộc của Ngài, không bị Gia Tộc hoàng tộc Ngài chi phối, nên khi Ngài tách ra thì rất là dễ, mà khi Gia Tộc hoàng tộc của Ngài không ảnh hưởng tới Ngài thì Tộc Xứ, cái hoàng cung, cái môi trường Ngài sống cũng không đủ để chi phối Ngài, Ngài đi với nghiệp lực của Ngài, Ngài đi theo hạnh nguyện của Ngài, đi theo con đường Ngài đã tạo dựng ra 23 Tăng Kỳ, Ngài đi tới đi tới mà không bị chi phối.

 Xứ Tộc của Ngài không đủ chi phối, Ngài sống như là tạm thôi, tới thời kỳ chín mùi là Ngài tách ly.

Còn nếu như cô Tịnh Từ nói cô có cả 3 thì cô vô hoàng tộc là cô sống theo hoàng tộc, cô sống trong hoàng cung là cô theo hoàng cung cộng theo cái nghiệp cô có nữa là cô sống như thế. Đó là có cả 3 Tộc.

Người đi xuất gia cũng vậy, khi người ta đã chín muồi xuất gia thì Gia Tộc không giữ họ được, cái Xứ Tộc cái môi trường không giữ họ được, họ đi với ý định của họ. Đó gọi là cắt ái từ thân.

Vẫn có những trường hợp như vậy. Do đó mới có con đường người ta thành Thánh được, tuy sống trong phàm trần vừa có nghiệp, vừa có gia tộc, vừa có môi trường của chính họ ảnh hưởng ở địa phương của họ mà họ vẫn là Thánh được. Vì vậy có câu "Thư trần tắc niệm trần, mà ly trần bất niệm trần." Có những người cư trần mà bất niệm trần, tại vì họ có Nghiệp Chủ.

Cô Diệu Giác 3 Tộc này cô có bị chi phối không ? Từ khi sinh ra cho tới bây giờ ngồi đây thì 3 Tộc này cô có bị chi phối không ? Hay là chỉ có một hoặc hai.

Thiền sinh trả lời: Con thấy bị chi phối, nhưng con lại thấy bị Nghiệp Tộc và  Gia Tộc dẫn dắt mình đi tới Xứ Tộc đó cho nên mình sống theo đó.

Cô Tịnh Từ: Con có 3 cái, và đối với con thì Gia Tộc là cái nặng, còn cái nghiệp thì mình biết nó là nghiệp rồi thì mình chấp nhận để mình sửa đổi, nhưng cái Gia Tộc thì nó nặng nề nó lôi kéo mình

Ba cái có hết, thí dụ như cái Nghiệp nó mạnh mình có thể mình cãi lại Gia Tộc được, mình có thể đổi lại Xứ Tộc mình được, thì cái đó là Nghiệp Tộc mạnh. Nhưng có khi Gia Tộc mạnh rồi, mà có Nghiệp mạnh mình xuất gia không được tại vì gia đình không cho đi. Thì tới khi tu mà đạt thành quả Thánh mà gia đình không cho thì cũng vậy thôi.

 Gia Tộc lớn hơn Nghiệp Tộc, tại vì mình là con nợ, mình thiếu nợ giờ mình trả nợ.

Thì mình không thể trả lời theo bản tánh mình được, mình phải có suy nghĩ, cái suy nghĩ đó là Đại Thiện Tương Ưng Trí. Chẳng hạn như khi Sư hỏi tới mấy cô trả lời kiểu ngập ngừng, phân vân, lưỡng lự chưa xác định là mấy cô chưa dùng Đại Thiện Tuong Ưng Trí sắc bén. Cái đó là thực tập nhưng mà mấy cô không thấy điểm chính để nhìn, mà mấy cô lại nhìn vô điểm trả lời theo ý mình. Bất cứ khi người ta hỏi cái gì mình phải dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí trước. Dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí thì lúc đó cô nhìn ra vấn đề, và chính cái đó cô xử lý vấn đề đó được hoàn hảo hơn. Còn mấy cô trả lời cái kiểu ngập ngừng không xác định hay là trả lời mà không rõ ràng, đầu tiên là mấy cô không quen dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí, thế yếu ở đó. Rồi từ đó trong sinh hoạt, trong đời sống mà bấy lâu nay cho tới bây giờ cô đã tạo ra bao nhiêu cái nghiệp mà không có Đại Thiện Tương Ưng Trí này dẫn cô đi. Nếu có Đại Thiện Tương Ưng Trí nó dẫn đi cái một, đường ngắn lắm, đường kết quả lắm. Còn không có Đại Thiện Tương Ưng Trí thì nó dẫn mình đi xa bao nhiêu lần. Cho dù mấy cô nói Nghiệp Tộc hay Gia Tộc thì mấy cô đã không có Đại Thiện Tương Ưng Trí này, thì đường đó không cắt ngắn được mà nó dài lắm.

Sư chỉ hỏi cái đó, nếu mấy cô không dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí. Sư lập đi lập lại ta làm việc có dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí không ? Nó là chìa khóa vạn năng. Mấy cô lại suy nghĩ trong ba Tộc này mình dùng cái nào, và mấy cô giải quyết theo kiết sử của mình hay triền cái của mình hay tập khí của mình, mấy cô chưa quen sài Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Mấy cô không nói là Đại Thiện Tương Ưng Trí, mà cô nói theo tập khí.

Thiền sinh hỏi: Sư mới nói giống như là câu hỏi bây giờ mình trả lời một trong ba thì cái đó không phải là câu trả lời mà Sư muốn trả lời. Câu trả lời là Đại Thiện Tương Ưng Trí phải xử dụng quen. Thì như vậy con hỏi lại là trong ba trường hợp đó mình sẽ thấy cái nào là Đại Thiện Tương Ưng Trí ?

 HT trả lời: Khi mấy cô đến ba loại Tộc này là nhìn câu chuyện về giòng tộc, cái tông tri, cái gốc gác. Nhưng mình không đi hình thức về cái đó, thì cái chữ "Gotrabhū" là Chuyển Tộc, thì cái này mình phải nói là từ Phàm qua Thánh.

Chủ đề là mình muốn nói tới Gotrabhū mình đang đi, mình sài Đại Thiện Tương Ưng Trí.  Thì khi đi tới Gotrabhū. Mình đang đi từ Pāramī Ba-la-Mật tới 4 tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí đi vô trong Thuận Tùng, Cận Hành, rồi Chuyển Tộc, một Đạo hai Quả, hay là ba Quả tùy theo độn căn hay lợi căn, tới tâm chót là tâm Phản Khán.

Thì Gotrabhū này nó ăn tiếp từ đàng trước là Chuẩn Bị, nếu là người độn căn thì Chuẩn Bị Parikamma rồi đến Thuận Tùng Anuloma, rồi đến Chuyển Tộc Gotrabhū.  Ba cái đó bắt đầu là cô chuyển. Chắc chắn là cô đang chuyển cái Nghiệp, và không bao giờ cô nghĩ Gia Tộc, và không bao giờ cô nghĩ Xứ Tộc.

 Ngay lúc tâm đang đi tới là đang chuyển nghiệp.

Câu thứ hai là Tâm bắt một cảnh thôi, nếu mà mấy cô chuyển nghiệp, lúc tới phần Chuẩn Bị, Thuận Tùng, Cận Hành, Chuyển Tộc, lúc đó cô đang nhìn thấy nghiệp cũ của mình, hay là nghiệp bất thiện của mình, thì lúc bấy giờ Nghiệp là một sợi giây phiền não. 

Cái trạng thái chuyển này phải   Đổi --> Diệt

chụp hình 49.50


---> Gotrabhū (Chuyển Tộc) 

                       Nghiệp

 Do đó, mình không có ưu tư nặng, tôi có Nghiệp, tôi có Gia, tôi có Xứ, đó chỉ là cái phiền não thôi, diệt tắt, sinh rồi diệt, thì mình mới đi qua được.

Người mà nói "số nghèo đi tới đâu cũng nghèo" là vì họ giữ lấy cái đó, họ không chịu thay đổi, họ không chịu chuyển. Mình có nói với họ thì họ cũng không thay đổi, họ khư khư giữ lấy. Đó gọi là kiến chấp. Nếu họ thay đổi thì là kiến giải. Nếu thay đổi thì từ kiến chấp đổi thành kiến giải, thay đổi tri kiến liền.

 Sư hỏi lại. Trong ba Tộc; Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc, mấy cô chuyển cái gì ?

Sư tung ra một cái mà mấy cô rớt vô là mấy cô sai.

Trong ba Tộc này mấy cô chuyển cái gì đứng trước cái Gotrabhū? 

- Chuyển tri kiến, chuyển kiến chấp thành kiến giải, chứ không Chuyển Tộc.

Nghiệp Tộc là kiến chấp của mình.

Gia Tộc là kiến chấp của mình.

Xứ Tộc cũng là kiến chấp của mình.

Kiến chấp mình không sửa đổi được thì kiến giải mình không có.

 Có một cái thôi.

Bây giờ người ta đưa lên một trong 3 Tộc này cô đang chuyển cái gì ? 

Trả lời là: "Tôi chuyển cái tri kiến của tôi."

 Từ trước tới giờ tôi đã kiến chấp, cái gì tôi cũng đưa kiến chấp của tôi vào. Tôi đã kiến chấp Nghiệp của tôi, tôi kiến chấp Gia Tộc của tôi, tôi kiến chấp Xứ Tộc, cái môi trường tôi, ở chỗ đó không có Phật Pháp, ở đó không có người tu, hoàn cảnh của tôi vậy. Đó là kiến chấp.

 Mình phải chuyển đổi tri kiến của mình.

Thì đầu tiên Gotrabhū sẽ trở thành giá trị. Người mà thay đổi tri kiến là từ phàm phu đi nữa cũng trở thành Thánh. Còn nếu cố chấp cái tri kiến này, cho dù mình ở trong hoàng tộc mình cũng không thành Thánh được.

Nên Đức Phật Ngài nói: "ai sống bên Như Lai, mà không hành theo pháp Như Lai thì cũng như ở xa" là tri kiến. Còn ở xa Như Lai mà hành pháp Như Lai thì người đó sống kế bên Như Lai" là tri kiến cái sự hiểu biết của mình, cái giá trị là ở chỗ đó. Mình không có, mình cứ ôm hoài khư khư, tôi không may mắn, tôi không được ở gần Thầy, tôi không có may mắn ở gần Đức Phật, không ở gần giáo pháp, do đó tôi như vậy vậy, tri kiến cố chấp quá. 

Không nói những điều kiện đó.

Cunda ở gần chùa Kỳ Viên chín năm không bước tới, do tri kiến cố chấp. Chẳng hạn như không ai hơn tui, tui nhất trong đời, giờ có mặt Thánh nhân ở đó cũng không thấy, họ thấy cái ta của họ, họ sống trong bất thiện, sống trong phiền não, mình nhìn vô là thấy liền.

Do đó, khi một tư tưởng nào loạn lên; một là Nghiệp Tộc, hay một tư tưởng nào mình đang tu một Nghiệp Tộc loạn lên, một cái Gia Tộc loạn lên, một cái Xứ Tộc loạn lên hay là văn hóa kiến thức của mình loạn lên, mình có những cái đó nó lợn cợn, mình chỉ đặt nó là một pháp nghịch phiền não và mình chỉ thấy đó là pháp sinh diệt là mình thoát liền. Thánh nhân không còn phiền não, chứ không phải Thánh nhân là không còn Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc. 

Đó chỉ là những phiền não, nó đã đeo mình bao nhiêu kiếp rồi, bao nhiêu sự luân hồi, mà tới giờ mình vẫn còn chưa thay đổi tri kiến, thay đổi kiến chấp của mình thì làm sao mình trở thành Thánh, Gotrabhū. 

Còn Vodāna Dũ Tịnh là nền tảng Gotrabhū đã có thì nó trong sạch hơn nó Dũ Tịnh nó càng tinh khiết hơn.

Nó chỉ là phiền não, nó cột chân mình lại, nó hệ lụy với mình và mình không thoát ra được.

 Tất cả mọi chuyện gì không thành tựu không thành công đều có cái kiến chấp, chỉ là biện giải (excuse) mà thôi, mà tất cả cái đó chỉ là phiền não thôi, đâu có gì là tốt mà cứ ôm giữ.

 Đức Phật Ngài hiện bày Song Thông (Yamakapātihāriya) trên hư không. Ngài muốn cho mọi người trong thế gian biết có một vị Phật ra đời là có một Phật Tộc, chứ không phải là Nhân Tộc hay là Chủng Tộc. Một sự công bố.

Thành ra Ngài không có đứng trong ba Tộc này. Người mà đổi phàm ra Thánh họ không còn tuyên bố ba Tộc này của kiến chấp khi mà họ chưa tu tập có kết quả. Con gái của ông Cấp Cô Độc đâu có chịu là con, khi bà tới Nhị Quả bà đâu có nói bà là con nữa, không phải là bà vô lễ, bất hiếu hay là bất kỉnh với người cha, nhưng bà qua một cái kiến chấp, cái kiến giải cái tri kiến của bà lệch qua hướng khác.

Gotrabhū không phải là nghĩa của Chuyển Tộc mà Gotrabhū là nghĩa của Đại Thiện Tương Ưng Trí, chi pháp của nó là Đại Thiện Tương Ưng Trí, mà nó là chức năng chuyển. Do đó, nói Gotrabhū là Chuyển Tộc, không phải, mà là chức năng chi pháp Đại Thiện Tương Ưng Trí và nó làm chức vụ đó, nhiệm vụ đó hay là công việc đó thì mới ra được nghĩa và hiểu được ý của nó. 

Nên bây giờ mình phải biết chuẩn bị Đại Thiện Tương Ưng Trí, chứ không phải mình không có gì chuẩn bị hết. 

Tâm chuẩn bị là Đại Thiện Tương Ưng Trí. 

Thuận Tùng Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Cận Hành Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Chuyển Tộc Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Nên mình phải sài Đại Thiện Tương Ưng Trí, dù là hỉ hay là xả tùy, do cái gốc của mình sinh ra là hỉ hay xả thì nó đi theo, thì cái đó mình không bàn, nhưng mình phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Do đó, khi người ta hỏi tâm chuẩn bị là tâm gì ? Đại Thiện Tương Ưng Trí nó sẽ làm tâm chuẩn bị.

Tâm Chuyển Tộc là gì ? Là Đại thiện tương ưng trí nó làm việc chuyển tộc.

Mấy cái đó Sư chỉ nhắc thôi. Tại vì mấy cô nhiều khi nghe nhiều quá, Sư giảng nhiều quá mấy cô không biết cái nào hết.

 Ta sinh ra do Nghiệp của ta, Nghiệp ta dẫn dắt ta theo tới Gia Tộc của ta, Gia Tộc của ta ở trong môi trường Xứ Tộc của ta, ta ở trong xóm đó.

Nên khi mình có viên ngọc mình không dũa mài cho nó sáng thì nó sẽ lu mờ đi. Mình không quen xử dụng Đại Thiện Tương Ưng Trí, mình quen với kiết sử của mình, quen với thói quen của mình. Người ta hỏi cái gì mình trả lời liền chứ mình không quen suy nghĩ ý của câu hỏi đó, trả lời mà không dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Vậy thì khi cô ngồi thiền hay đi pháp hành, đi thiền hành, hay thiền tọa, thì cô có sài Đại Thiện Tương Ưng Trí không ? hay là cô chỉ sài pháp niệm Tứ Niệm Xứ thôi ? 

Người ta nói vậy, thì chắc chắn là mấy cô sẽ giữ chắc niệm, không rời khỏi niệm; Thân, Thọ, Tâm, Pháp, bám chặt không rời xa bốn xứ này, nhưng không sài Đại Thiện Tương Ưng Trí, thì cô không dùng được.

Phải biết thì mình sẽ có kết quả tốt mà không tốn nhiều công sức. Sư dịch kinh sách, Sư đọc kinh sách hay là Sư nói pháp, Sư nhìn các quí cô các quí Phật tử Sư biết cái trạng thái cách xử dụng cái trí mình mới làm được, mới có cảm tính được.

Bây giờ mình đi tiếp.

Khi ta nói tới Nghiệp Tộc, mấy cô trả lời Sư là mấy cô đa phần bị ảnh hưởng Nghiệp Tộc nhiều hơn là Gia Tộc, nhiều hơn Xứ Tộc.  Thì Sư muốn hỏi, khi cô nói tới Nghiệp Tộc, cô biết Nghiệp Tộc đó là loại nào không ? Quá khứ hay hiện tại hay vị lai ? Mình đang làm đây thật ra mấy cô không có hưởng cái gì ở đây, vì là cô đang làm cho vị lai.

Vậy thì mấy cô đang nói là loại Nghiệp Tộc nào, là Nghiệp quá khứ hay là hiện tại ?  Mấy cô không có cách nào mà cô giải đáp được là nghiệp quá khứ hay là hiện tại, vì mấy cô không dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí, mấy cô loay hoay tìm theo kiết sử hay tập khí của cô để trả lời.

Khi cô nói Nghiệp Tộc, thì cô biết nghiệp tộc đó là giòng tộc của nghiệp báo làm cho cô hình thành ra, bây giờ cô bị chi phối, bị ảnh hưởng, cô biết đó là Nghiệp Tộc loại nào không,  thì cô phải đi trở lại Đại Thiện Tương Ưng Trí rồi mới trả lời. Chứ mình không nói đây nghiệp quá khứ, đây là nghiệp hiện tại, không sát định được.

 Người ta hỏi Chuyển Tộc đó biết nghiệp là nghiệp gì không ? Mình không trả lời.

Đại Thiện Tương Ưng Trí sẽ giải đáp cho mình. Khi tâm bắt một cảnh thì nghiệp đó, hành động đó bắt cảnh, nó là một hành động, là một nghiệp hiện tại, mình có trí mình nhìn ra. Thì nghiệp mình đang nói ảnh hưởng của nghiệp hiện tại. Thì nghiệp hiện tại cô đã sài đó, cô biết dùng không, cô có muốn chuyển không, hay là cô đang dùng cái của quá khứ, cô ăn cơm nguội, cô kẹt liền, cô kẹt trong nghiệp tộc khi cô đang có nghiệp hiện tại chứ không phải nghiệp quá khứ.  Nếu có Đại Thiện Tương Ưng Trí là đang có nghiệp hiện tại, mà cô có chuyển không hay là cô dùng lại là cô ăn cơm nguội liền là cái nghiệp của quá khứ.

Do đó, người Đạo Quả, bậc Thánh, phàm, nghe một câu pháp mà họ chuyển được liền là vì Đại Thiện Tương Ưng Trí ngay nghiệp hiện tại chứ không qua Nghiệp Tộc, chuyển liền trong một sát na Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Khi một người nói "cái đó là do Nghiệp Tộc" .

Thì mình hỏi họ có Đại Thiện Tương Ưng Trí chưa ?

Rồi họ nói "chưa", do đó họ mới nói Nghiệp Tộc.

Nhưng nếu họ nói "Có Đại Thiện Tương Ưng Trí".

Thì mình sẽ hỏi tiếp: Nghiệp Tộc này là quá khứ, hiện tại, hay là vị lai ?

Thì cái người mà có Đại Thiện Tương Ưng Trí sẽ nói là nghiệp này là hiện tại ? Họ nói là nghiệp này là hiện tại, tại vì tâm bắt một cảnh. Câu trả lời của họ là Đại Thiện Tương Ưng Trí họ bắt ngay nghiệp hiện tại.

Vậy thì cái người hỏi tiếp: Nghiệp này có chuyển chưa ?

Là mình ra được liền, nếu họ chưa chuyển thì họ trở lại quá khứ, ăn cơm nguội.

 Chỉ có một cái Đại Thiện Tương Ưng Trí làm thay đổi liền, mà chỉ có một cái nhận thức như vậy, còn không thì trở lại quá khứ liền, mà trở lại quá khứ là cái nghiệp cũ.

Nên khi người ta nói tới nghiệp thì người ta nói nghiệp quá khứ và họ sống câu chuyện của họ là kiết sử và triền cái của họ chứ không có Tương Ưng Trí. Họ không dùng Tương Ưng Trí, tại vì họ không sài Tương Ưng Trí và không biết cách sài Tương Ưng Trí, và họ cứ chạy theo và họ trả lời và họ nghĩ rằng là họ có trí rồi. Nhưng thật ra là không có.

Sư nói lại về Nghiệp Tộc.

Sư hỏi: Cô nói cô có Nghiệp Tộc. Cô có Đại Thiện Tương Ưng Trí chưa?

Thì khi Sư nhắc câu đó thì mấy cô nói Nghiệp Tộc này có Đại Thiện Tương Ưng Trí, cô trả lời Nghiệp Tộc.

Sư hỏi, Nghiệp Tộc cô đang nói là Nghiệp Tộc quá khứ, hay Nghiệp Tộc hiện tại, hay Nghiệp Tộc vị lai.

Sư hỏi lại, Nghiệp Tộc cô đang nói là từ quá khứ hay hiện tại, hay vị lai.

Thì cái người mà nói họ có Đại Thiện Tương Ưng Trí đó họ sẽ nói là nghiệp hiện tại.

Thì Sư hỏi tiếp : "có chuyển chưa?" . Nếu mà chưa chuyển thì họ trở lại cái cũ, quá khứ là họ ăn cơm nguội.

Chứ mình nói họ nói hiện tại thì họ không nói quá khứ, họ đã chuyển cái kiến chấp của họ, cái tri kiến của họ, họ qua kiến giải.

Khi mấy cô nói tới Nghiệp Tộc, cô nói cô bị ảnh hưởng bởi Nghiệp Tộc, thì cái người hỏi "cô có Đại Thiện Tương Ưng Trí chưa mà cô trả lời câu đó". Thì người ta nhắc cô thôi. 

Thì cô trả lời "có". Khi cô trả lời Nghiệp Tộc là cô có Đại Thiện Tương Ưng Trí mới trả lời Nghiệp Tộc.

Tiếp theo người ta hỏi: "Thì Nghiệp Tộc mà cô nói với Đại Thiện Tương Ưng Trí mà cô biết đó, nó là quá khứ, hiện tại, hay vị lai. nó thuộc loại nào?

Thì cái người đó họ trả lời là nghiệp hiện tại, tâm bắt một cảnh thôi. 

Thì người ta hỏi: thì nghiệp hiện tại của cô có chuyển chưa ? chuyển cái gì? chuyển tri kiến, chứ không phải quá khứ hiện tại vị lai, nghiệp báo, nghiệp lực.

Thí dụ như cô tới với người bị bệnh, cô tới cô tụng kinh cho người bệnh, thì người ta hỏi khi cô tụng kinh cô có chuyển cho người ta chưa, hay là vẫn còn nguyên, hay là không có thay đổi.

Thì mấy cô trả lời là có chuyển. Làm sao cô biết có chuyển và không có chuyển? Dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí chứ không trả lời theo kiết sử hay theo thói quen.

Tới người bệnh mà cô đọc kinh cầu nguyện cho họ hay cầu an cho họ, là họ có chuyển không ?

Thì mình phải nói là ngay hiện tại, chứ mình không có nói quá khứ được. 

Có chuyển không ?

Có chuyển.

Thì cái chuyển đó là chuyển gì?

Cũng Đại Thiện Tương Ưng Trí giải đáp được.

Vậy thì khi người nào nói tới Nghiệp Tộc, hay người ta nói Nghiệp Chủ, hay nói tới Nghiệp Báo, hay tới Nghiệp Lực, hay Nghiệp Quả. 

Thì mình nói nghiệp này là nghiệp quá khứ, hiện tại, vị lai, loại nào?

 Họ nói nghiệp này là nghiệp quá khứ. Thì không có chuyển gì hết.

Còn họ nói nghiệp hiện tại, họ đang trả lời với mình, họ có chuyển chưa hay vẫn y nguyên vậy, chứ đâu có gì chuyển, là quá khứ, ăn cơm nguội.

Thiền sinh hỏi: bạch Sư, vậy khi mình nói cái nghiệp đó là hiện tại, thì mình mới nói cái nghiệp hiện tại thôi, chưa nói cái tỉnh giác.

HT trả lời: không, ra liền, Tương Ưng Trí biết là ra liền

Thiền sinh: thì ý con nói là có Tương Ưng Trí thì ngay khi nói cái nghiệp hiện tại, tức là họ ở trong cái niệm, họ có niệm, thì con nói là nếu đi theo pháp hành, thì ngay cái họ nói cái nghiệp hiện tại có niệm nhưng họ không có.

Khi dùng chức năng của Đại Thiện Tương Ưng Trí, khi trả lời đó là nghiệp hiện tại, thì Đại Thiện Tương Ưng Trí, đó là một nghiệp lực chứ không phải là một nghiệp mà cô đang nhìn thấy. Đại Thiện Tương Ưng Trí là một nghiệp lực, mà dạng nghiệp lực đó với cái trí của cô làm ra thì nghiệp đó nó hưởng lấy đó là cái nghiệp hiện tại.

Nghiệp thiện, ngay khi Đại Thiện Tương Ưng Trí cô có, thì Đại Thiện Tương Ưng Trí đó là một nghiệp lực hiện tại chứ không phải là cô nói cái nghiệp mà cô đã tạo tác, cái đó là cái tri kiến của cô đã làm cho cô, chứ không phải là nghiệp. Một cái nghiệp lực hiện tại đang chuyển và đã chuyển, mà cái nghiệp lực đó là cái tri kiến.

Nếu cô nói cái kia là nghiệp lực của quá khứ, cơm mới mà nó đã cũ, không có dùng Đại Thiện Tương Ưng Trí tại vì nghiệp lực hiện tại

Nghiệp Đại Thiện Tương Ưng Trí nó là Nghiệp Lực hiện tại và nó đang có đang chuyển chứ không nói đến nghiệp cũ quá khứ, và vị lai, không nói tới nghiệp đó. Đã rõ, và mấy cô phải biết chính xác như vậy mới được. Còn không có thì mấy cô lập đi lập lại với thói quen mà mình không biết là mình không có Tương Ưng Trí Đại Thiện.

Cái nghiệp này mà mấy cô đang nói có Đại Thiện Tương Ưng Trí, cái nghiệp này là quá khứ, hiện tại, hay là vị lai. Có nghiệp Tương Ưng Trí thì ta có nghiệp hiện tại. Nghiệp hiện tại này có chuyển chưa? Thì mấy cô trả lời là có chuyển. Nó không phải là cái nghiệp nào đã tạo tác, mà đó là Đại Thiện Tương Ưng Trí đang làm việc đó là nó đã chuyển, nó không còn tri kiến của cái nghiệp lực, nghệp báo.

Còn cô nói cái kia nó có phiền não lợn cợn trong đó. 

Cái nghiệp mà cô đang nói với Đại Thiện Tương Ưng Trí là nghiệp đó là của quá khứ, nghiệp đó là thuộc hiện tại, hay nghiệp đó thuộc vị lai.

Còn cô nói nghiệp mà mình đang nói đây là nghiệp có Đại Thiện Tương Ưng Trí đó là nghiệp hiện tại, người ta hỏi có chuyển chưa, trả lời "có chuyển". Thì Đại Thiện Tương Ưng Trí đó là một nghiệp lực của hiện tại với tâm với  cảnh mình đang có, mình không có đi trở lại cái nghiệp của quá khứ.

 Nó cũng ra được. Làm được cái đó thì từ từ nó sẽ hình thành ra không có cái phàm phu tục tử, mà cô có sự gột rửa và không có lợn cợn chút gì trong tâm thức của mình mà phiền não tu chuyển hết.

stainless = không còn ô nhiễm, không còn điểm ô uế nào

The canker ís dípelled = bậc Alahan không còn ô uế nào

canker = VN dịch là lậu hoặc, không phải, 

Những điều nguy hại, những điều nguy hiểm đã được tiêu trừ

Do đó, khi mà mấy cô đứng trước một Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Xứ Tộc. v.v.. mà mấy cô còn thấy nó là của mình, thì đó là cô còn đang bị phiền não, cô còn đang lợn cợn bởi phiền não, và phiền não làm mấy cô bị chi phối, ô nhiễm.

Vậy thì trở lại: Nghiệp Tộc mấy cô đang nói là thuộc về quá khứ, thuộc về hiện tại, hay thuộc về vị lai, khi nói Nghiệp Tộc thì người ta hỏi cô có Đại Thiện Tương Ưng Trí trong cái Nghiệp Tộc này chưa, thì mấy cô nói có, thì nghiệp mà cô đang nói đó với Đại Thiện Tương Ưng Trí mà cô biết nó thuộc về quá khứ hay hiện tại, hay vị lai. Thì cô nói tâm bắt một cảnh, Đại Thiện Tương Ưng Trí nó bắt cảnh hiện tại thôi, chứ nó không bắt cảnh quá khứ, thì hồi nãy mình nói nghiệp Đại Thiện Tương Ưng Trí mình có cái nghiệp này là nghiệp hiện tại, người ta hỏi nó có chuyển chưa, mình nói có chuyển, đó là  Chuyển Tộc, một sát na. Nó rất nhanh, mà nếu mà cô không nhanh với cái trí thì mấy cô sống lại trong cái quá khứ.

Cái trí mà không bắt kịp nó thì cái kia nó chen vô liền mà cô không làm kịp và nó lập đi lập lại. Mình bắt ngay hiện tại, hiện tại chỉ là cảnh thôi.

Thiền sinh hỏi: Có nhiều tri kiến nó làm cái gì nó lập đi lập lại

HT trả lời: Không phải tri kiến. Trí tuệ không có tri kiến, trí tuệ chỉ là thấy cảnh thôi, nó không có tri kiến. Trí tuệ giải quyết được cảnh chi pháp, nó là kiến giải.

Mấy cô nắm thật kỹ thì mới ra được.

Trong đời sống hàng ngày của mình, của người Phật tử mà cô không biết cô thường, Sư không nói người đời, người đời chuyện gì cũng ôm hết vô, chuyện thế sự gì cũng ôm hết vô. Mình chỉ nói người Phật tử thôi. Thì trong đời sống hàng ngày những người Phật tử mình có những trăn trở, những ưu tư, những cái lo lắng nghĩ suy, thì mấy cô thấy đó là phiền não không?

Trong khi mà mình bắt vô Đại Thiện Tương Ưng Trí, để mình đi pháp hành Pāramī Ba-la-mật .

Pháp hành Pāramī Ba-la-mật  có 3 bậc:

1. Thập Pāramī Ba-la-mật  

2. Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật  

3. Tam Thập Pāramī Ba-la-mật  

Hàng Thinh Văn là Thập Pāramī Ba-la-mật. 

Hạng Độc Giác Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật. 

Hạng Chánh Đẳng Giác Tam Thập Pāramī Ba-la-mật. 

Thì cái này có Đại Thiện Tương Ưng Trí chưa ? Hay là mình làm theo Pāramī Ba-la-mật theo thói quen.

Giờ mình áp dụng vô.

Bậc Thinh Văn là Thập Pāramī Ba-la-mật,  Xả Thí, Trì Giới. 

Còn Độc Giác là Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật. Xả Thí rồi, Xả Thí nữa v.v...

Còn Tam Thập Pāramī Ba-la-mật, bậc Chánh Đẳng Giác Xả Thí rồi, Xả Thí nữa, Xả Thí cao hơn nữa .v..v.. 

Trong tiếng Anh.

Thí dụ như:  Good = Thập Pāramī Ba-la-mật

                     Better = Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật

                     Best = Tam Thập Pāramī Ba-la-mật.

Thế thì, khi  xả thí. Mình nói đầu tiên là Xả Thí Pāramī Ba-la-mật. Mà xả thí của người good là xả thí cái gì.  

Còn xả thí hơn nữa, tốt hơn nữa là Nhị Thập Pāramī Ba-la-mật.

Còn tốt tận cùng, là Tam Thập Pāramī Ba-la-mật.

Xả thí nào là good, xả thí nào là better, xả thí nào là best.  Đại Thiện Tương Ưng Trí nó sẽ trả lời.

Nói về vật chất, xả thí cái gì mình đã sài rồi mình cho là good, đó là mình diệt được bỏn xẻn, 

Xả thí cái mình đang dùng, đang sài, đang ưa thích mà mình cho là better. 

Còn cái xả thí cái mà mình chưa sài, cái mình trân quí mình đem cho thì đó là the best.  Đó là nói về vật chất.

Từ cái good qua better có chuyển chưa ? Từ better qua best có chuyển chưa ? Do đó, chỉ có một cái Pāramī Ba-la-mật thôi, mà cũng có một cái Đại Thiện Tương Ưng Trí thôi, mà Đức Phật Ngài nói có ba bậc; bậc hạ Pāramī Ba-la-mật, bậc trung Uparāramī Ba-la-mật, bậc thượng Paramattha Pāramī. 

Nhưng thật ra ba bậc đó cho dù là good, better, hay the best đi nữa. Thinh Văn, Độc Giác, hay là Chánh Đẳng Giác đi nữa, tất cả từ Đại Thiện Tương Ưng Trí này là chuyển đổi từ phàm sang Thánh là phải do tri kiến của mình.

1. Đoạn tận tứ khổ thú.

2. Hưởng phước nhân thiên

3. Giải thoát.

Nếu đoạn tận tứ khổ thì quá tốt rồi, tri kiến của cô đã chuyển. Còn bây giờ có làm đi nữa mà cô còn hưởng nhân thiên thì cũng chưa tốt, sanh trở lại còn tạo ra để hưởng. Còn giải thoát là mình không muốn hưởng, mình chỉ muốn giải thoát thôi, thì cái đó là an lành. 

Ba bậc này 1. Đoạn tận tứ khổ thú, 2. Hưởng phước nhân thiên. 3. Giải thoát. Có thay đổi bởi Tương Ưng Trí .

Cũng như vậy, mình cho đồ cũ để diệt bỏn xẻn là good rồi. Cho cái mình đang sài mình cho là better rồi. Cho cái mình chưa từng sài, đồ mình quí, đồ mình trân trọng, mình cho, đó là the best.

Xả thí good là ngoài thân ta

Xả thí better là một phần trong thân ta

Xả thí best là sinh mạng của ta.

Xả thí better một phần trong thân ta; mắt, tai, các bộ phận, một phần. Thí dụ như mình có 2 trái thận, cắt một trái thận cho, cái đó là better

Xả thí best là cho cả sinh mạng của ta. Như Bồ Tát lao xuống hố hy sinh thân mạng của mình để cứu mẹ con con cọp.  Thì tất cả ba giai đoạn mà họ đang hành từ Thinh Văn, Độc Giác, Chánh Đẳng Giác họ đều có Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Khi cô đang hành Pāramī Ba-la-mật, trong pháp hành là đang sài Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Có mấy cách xả thí ?

1. Ly tham

2. Ly sân

3. Ly tham + ly sân

4. Ly tham + ly sân + ly si

5. Ly tham + ly si

6. Ly sân + ly si

Hai cái này số 1 và sô 2, xả thí gì không tham, xả thí gì không sân, có một nhân thôi là hàng Thinh Văn.

Cái thứ 3 ly tham + ly sân là hàng Độc Giác.

Còn cái ly si là bậc Chánh Đẳng Giác, là the best.

 Khi mấy cô làm với tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí là mấy cô ở trong ba cái này thôi.

Còn khi cô làm việc thiện hay Pāramī Ba-la-mật mà không có si thì mấy cô làm trong ba ly tham, ly sân, ly tham + ly sân. Một là ly tham suông, hai là ly sân suông, hay là ly tham + ly sân suông.

Vậy thì trở lại, khi ta hành Pāramī Ba-la-mật trong 10 pháp Pāramī Ba-la-mật mà mấy cô làm Đại Thiện Tương Ưng Trí, tức là trong khi cô làm dù xả thí, trì giới hay là ly dục, hay là trí tuệ, tất cả những pháp Pāramī Ba-la-mật trong 10 pháp mà cô hành có Đại Thiện Tương Ưng Trí luôn luôn mình phải có Ly Si, khi làm không phải không biết ./.

-------------------------------------------------------

NOTES

------------------------------------

8 Tâm Đại Thiện  (Maha-kusala cittas)

đôi thứ nhất

1) Tâm Ðại Thiện, Thọ Hỷ, Tương Ưng Trí, Vô Trợ (somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikam)

2) Tâm Ðại Thiện, Thọ Hỷ, Tương Ưng Trí, Hữu Trợ (somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikam)

đôi thứ hai

3) Tâm Ðại Thiện, Thọ Hỷ, Bất Tương Ưng Trí, Vô Trợ (somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikam)

4) Tâm Ðại Thiện, Thọ Hỷ, Bất Tương Ưng Trí, Hữu Trợ (somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikam)

đôi thứ ba

5) Tâm Ðại Thiện, Thọ Xã, Tương Ưng Trí, Vô Trợ (upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikam)

6) Tâm Ðại Thiện, Thọ Xã, Tương Ưng  Trí, Hữu Trợ (upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikam)

đôi thứ tư

7) Tâm Ðại Thiện, Thọ Xã, Bất Tương Ưng Trí, Vô Trợ (upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikam)

8) Tâm Ðại Thiện, Thọ Xã, Bất Tương Ưng Trí, Hữu Trợ (upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikam)

----------------------------------

Tâm Vodāna Dũ Tịnh trong Lộ trình tâm

Khi một người từ phàm phu đắc chứng quả vị Thánh đầu tiên (Sơ Đạo - Nhập Lưu), sát-na tâm bứt phá đó được gọi là tâm Chuyển Tộc (Gotrabhu) vì nó cắt đứt dòng giống phàm để bước vào dòng Thánh.

Tuy nhiên, từ tầng Thánh thứ hai trở đi, hành giả đã là bậc Thánh sẵn rồi, không còn dòng giống phàm để chuyển nữa. Do đó, trong các lộ trình đắc đạo tiếp theo, vị trí của tâm Chuyển Tộc được thay thế hoàn toàn bằng tâm Dũ Tịnh (Vodāna).

Cụ thể, lộ trình đắc 3 Đạo cao hơn diễn ra như sau

:... → Thuận thứ (Anuloma) → Dũ Tịnh (Vodāna) → Đạo tâm (Nhị Đạo / Tam Đạo / Tứ Đạo) → Quả tâm.

Ý nghĩa của tâm Dũ Tịnh

Vodāna  có nghĩa là "làm cho sạch sẽ", "thanh lọc" hoặc "tẩy tịnh".

Sát-na tâm này lấy Niết-bàn làm đối tượng, thực hiện nhiệm vụ gột rửa các tùy miên phiền não còn sót lại ở tầng thấp, làm cho tâm thức trở nên cực kỳ thuần khiết, tạo điều kiện tối ưu để Nhị Đạo (Sự Hàm Đạo), Tam Đạo (A Na Hàm Đạo), hoặc Tứ Đạo (A La Hán Đạo) lập tức xuất hiện.

Giống như tâm Chuyển Tộc, tâm Dũ Tịnh thực chất là một loại Tâm Đại Thiện Dục Giới Hợp Trí (đối với bậc Hữu học) đảm nhận chức năng đổng lực chuyển tiếp.

-----------------------------------

MƯỜI SÁU  TUỆ MINH SÁT - 16 Tuệ Minh Sát (Vipassanāñāṇa)

1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc.

2. Paccayapariggaha ñāṇa: Tuệ phân biện nhân duyên.

3. Sammasana ñāṇa: Tuệ thấu đạt, nhận thức danh-sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā).

4. Udayabbaya ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). Tuệ sanh diệt.

5. Bhaṅga ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc. Tuệ diệt.

6. Bhaya ñāṇa: Tuệ kinh sợ.

7. Ādīnava ñāṇa: Tuệ quán chiếu hiểm họa, tức quán chiếu trạng thái nguy hiểm của các hành.

8. Nibbidā ñāṇa: Tuệ quán chiếu tình trạng chán nản.

9. Muñcitukamyatā ñāṇa: Tuệ muốn giải thoát.

10. Paṭisaṅkhā ñāṇa: Tuệ suy tư.

10. Saṅkhārupekkhā ñāṇa: Tuệ xả hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các hành.

12. Saccānulomika ñāṇa: Tuệ thuận thứ (thuận theo thực tế, tức thuận theo Tứ Diệu Ðế).

13. Gotrabhū ñāṇa: Tuệ chuyển tánh, vào lúc "chuyển thay dòng dõi" (tức từ phàm trở nên Thánh).

14. Magga ñāṇa: Ðạo tuệ.

15. Phala ñāṇa: Quả tuệ.

16. Paccavekkhaṇa ñāṇa: Tuệ ôn duyệt, tuệ phản khán.

-------------------------------------

paṭighāta : Theo nghĩa đạo đức, thường biểu thị sự thù hằn, ác cảm hay sân hận, nó có nghĩa là: sự ghê tởm, sự oán giận, sự phẫn nộ, sự tức giận, paṭighāta : Sự va chạm, sự dội lại, sự đối kháng hoặc sự kháng cự vật lý / tâm lý. paṭighāta, còn ám chỉ sự bất bình thầm kín, sự bực dọc tiềm ẩn hhoawjc xu hướng dễ nổi giận.và là từ đồng nghĩa của byāpāda, ác ý, sân hận

-------------------------