Saturday, April 3, 2021

Câu hỏi a. Tâm tục sinh bhavanga bắt cảnh gì, nếu mà nói cảnh chiêm bao thì nó sẽ bắt cảnh gì? - HT Chánh Minh giảng

 Câu hỏi a. Tâm tục sinh bhavanga bắt cảnh gì, nếu mà nói cảnh chiêm bao thì nó sẽ bắt cảnh gì?

Câu hỏi trong bài Thắng Pháp 3, Minh Hạnh chuyển biên

HT Chánh Minh: Tâm bhavanga là tâm tục sinh, sau thời điểm tục sinh thì giữ gìn đời sống của tâm thức đó, nó trôi chảy như từng giọt nước qua kẻ hở, đều đều không gián đoạn, cho nên giai đoạn đầu tâm bhavanga này Đức Tịnh Sự Ngài dịch là tâm hộ kiếp là giữ gìn kiếp sống của tâm thức, nhưng sau này thì lấy theo đúng ngữ văn của Pali là hữu phần, thì tâm hữu phần này cũng chính là tâm tục sinh nhưng khác thời điểm thôi. Lúc mới đầu thì gọi là tục sinh hay là nối liền Paṭisandhi, nhưng qua thời điểm thứ hai tức là qua tâm thứ hai thì gọi là tâm hữu phần bhavanga, vậy thì nó bắt cảnh nào?

Xin thưa, nó bắt một trong 3 cảnh mà người đó trước khi lâm chung, trước khi tâm tử xuất hiện, một trong 3 cảnh đó, người sắp chết thường thường nhận được 1 trong 3 cảnh.

1 - Một là cảnh nghiệp gọi là kamma tidiva. tức là việc mình thường làm hàng ngày. Các Ngài giải thích, như các người Phật tử với tâm thiện sinh khởi lên thấy mình đương ngồi nghe pháp hoặc là đang lễ Phật hoặc đang đặt bát cúng dường Chư Tăng. Còn nếu như người ác xấu như đồ tể thì thấy mình đang giết heo giết gà, mình đang bắt cá v.v... Thì cảnh đó là cảnh nghiệp tướng tức là cái nghiệp mình thường làm hàng ngày nó sẽ sẽ quay ngược trở lại để  làm cái hình ảnh đó cho mình thấy trong tâm.

2 - Hai là cảnh nghiệp tướng  (Kamma nimitta): là những gì liên quan tới hành động tới việc làm của mình, ví dụ giống như người Phật tử tâm thiện sanh khởi lên thì thấy hương hoa nhang đèn rồi kim thân Phật rồi hào quang v.v... , dĩ nhiên người đó chưa qùi xuống đảnh lễ, hay hoặc thấy Chư Tăng. dĩ nhiên người đó chưa đặt bát cúng dường Chư Tăng, bởi vì đặt bát cúng dường Chư Tăng là cảnh của nghiệp, còn cảnh nghiệp tướng là những gì liên quan đến nghiệp đó, như người Phật tử thì thấy bông hoa nhang đèn, kim thân Phật hào quang Phật, cảnh chùa, cảnh Chư Tăng v.v... Còn người ác xấu thì thấy, ví dụ như người đồ tể thì thấy nào là chậu huyết, con dao, con heo hay con gà chuẩn bị giết, đó là cảnh nghiệp tướng xấu.

3 - Thứ Ba là cảnh thú tướng (Gati-nimitta) hay là cảnh giới chuẩn bị tái sanh vào, gati là đi đến, nimitta là tướng, Gati-nimitta là tướng để đi đến cảnh giới tái sanh. Với người tích lũy thiện pháp nhiều, khi đó tâm thiện sanh khởi lên như vậy sẽ tạo lên cảnh cho người này thấy đền đài cung điện là tái sanh về cõi Chư Thiên, hoặc thấy đức vua hoặc thấy hoàng hậu lộng lẫy nguy nga là tái sanh vào dòng dõi cao sang, hoặc thấy một người mẹ người nữ nào đó thì vừa tắt thở là tái sanh vào thai bào. Còn nếu ác nghiệp tích trữ nhiều thì thấy cảnh âm u mù mịt đó là cảnh giới của súc sanh, cảnh giới đâm chém nhau đánh nhau v. v... đó là cảnh giới của A-tu-la, hoặc thấy cảnh lửa cháy phừng phừng đó là cảnh giới của địa ngục. 

Thì trước khi lâm chung trước khi chết, chúng sanh sẽ thấy một trong 3 cảnh đó và sau khi chết tức là tâm tử xuất hiện, lập tức tâm tiếp theo sanh khởi lên, tâm đó được gọi là tâm tái tục, hay tâm tục sinh, hay là thức nối liền được gọi là thức tái tục  (patisandhi viññāṇa) thì tâm đó bắt một trong ba cảnh đó, cảnh nào mình đang thấy thì bắt lấy và sau đó tâm này trở thành tâm hữu phần.

Câu hỏi b; Đó là do tưởng hay là do thú tướng của tương lai?

HT Chánh Minh: Tâm đó do tưởng quay ngược lại. Qúi vị biết tâm bắt hình ảnh chúng tôi vừa nói chính là do tưởng trạng lại làm cho hình ảnh đó trở lại và, thú tướng là cái tưởng rọi tới hướng tâm tới đó.

Tưởng có năng lực cực mạnh, nó chỉ thua kém trí ở một điểm là nó không sát trừ được phiền não, tưởng rất là mạnh, bằng chứng chúng ta thấy túc mạng minh nhớ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ chính là tưởng. 

Tưởng có thể vượt cả không gian và thời gian, tưởng tới vị lai luôn, như Chư Phật Ngài tiên tri hoặc là Ngài thọ ký: "thiện gia nam tử này sau trăm ngàn kiếp trái đất sẽ trở thành gì gì đó...", rọi tới tương lai luôn, đó là do tưởng đi chung với trí. Những vị có thiên nhãn tưởng tới cõi trời luôn mới rọi trí tới đó.

 Cho nên một trong ba cảnh, nói cách khác là ba tưởng quay ngược lại, nhất là thú tướng, tưởng rọi tới tương lai để cho người đó ham thích dính mắc trong đó. Phải định tỉnh tâm thì những cảnh kia không có, còn nếu không thì không tĩnh tâm được, mà cảnh đó thường xuyên mình có.

Muốn có cảnh tốt đẹp thì thường xuyên tạo cảnh, thường xuyên trong lúc lâm chung có cảnh tốt đẹp thì đó là cảnh thiền. Ráng tu tập, mỗi ngày mỗi đêm bỏ ra 45 hay 50 phút tu tập thiền để cho có  thói quen có cảnh tốt xuất hiện trong lúc lâm chung./.


Friday, April 2, 2021

Câu hỏi. Tâm Dục-giới thường bắt cảnh gì?

 Câu hỏi. Tâm Dục-giới thường bắt cảnh gì?

Câu hỏi trong bài Thắng Pháp 3, HT Chánh Minh giảng, Minh Hạnh chuyển biên

HT Chánh Minh: Tâm Dục-giới thường bắt cảnh; sắc, thinh, hương, vị, xúc. Nhưng cũng có trường hợp, do tu tập, do ngoại lệ, những tâm này có thể bắt không phải là cảnh; sắc, thinh, hương, vị, xúc.

Thí dụ, một người tu tập đề mục Sắc-giới; đất, nước, lửa, gió, khi ấn tướng lên rồi nó từ parikamma-nimitta tức là chuẩn bị tướng, rồi tới upācāra nimitta là giữ tướng hay là tùy tướng, sau này phát triển ấn tướng trọn vẹn rồi nó trở thành (paṭibhāga nimitta) gọi là tịnh tướng hay là quang tướng. Nhưng ở trong trường hợp này người hành giả khi tịnh tướng hay quang tướng (paṭibhāga nimitta) sanh lên nó ở trong trạng thái tốt đẹp không giống như tướng ban đầu nữa. 

Thí dụ, tướng ban đầu là chuẩn bị tướng (parikamanikata), một người hành đề mục đất, họ lấy đất sét làm một kasiṇa tròn sơn màu hồng của mặt trời mới vừa lố dạng để trước mặt mình không xa quá, không cao quá, không thấp quá, rồi nhìn ấn tướng đó và niệm đất đất đất.... Một chập sau nhắm mắt lại thấy hình ảnh ban đầu là chuẩn bị tướng (parikamanikata) xuất hiện trong tâm mình, rồi mở mắt ra nhìn lại ấn tướng đó rồi bắt đầu niệm đất đất đất, rồi nhắm mắt lại, rồi thấy lại hình ảnh của kasiṇa hình ảnh ban đầu có thể là bị do lâu ngày nó bị khô bị nức nẻ nên gọi là parikamanikata. Nhưng nó chợt mất chợt còn như vậy trong giai đoạn đầu, giai đoạn sau mở mắt ra nhìn rồi nhắm lại rất lâu, có thể trước đây mở mắt nhìn nó rồi nhắm mắt lại thì khoản một phút sau nó mất đi, nhưng thời gian do rèn luyện do nỗ lực tu tập thì nhìn nó rồi nhắm mắt lại có thể là 2 phút, 3 phút, 4 phút nó vẫn còn thì lúc đó gọi là upācāra nimitta tùy tướng, cái tướng được giữ lại, rồi một thời gian giữ lại đó người này mới chăm chú trong cái tùy tướng đó nó mới bắt đầu hoàn thiện tất cả những khuyết điểm của nó ban đầu những vết nức nẻ, rồi từ trong ấn tướng đó nó phát sanh ánh sáng thì được gọi là paṭibhāga nimitta tịnh tướng hay là quang tướng, giống như viên ngọc đỏ ở giữa hư không. Nhưng ở trong giai đoạn này chỉ là cận định thôi, chưa đắc định, cận định (upacārasamādhi) là ở gần chứ chưa được định.

Thì tâm Dục-giới sanh lên là những tâm thiện có trí, nó sanh lên cũng bắt được cảnh đó, đó là ấn tướng thiền, chúng tôi nói rằng thường là bắt cảnh; sắc, thinh, hương, vị, xúc, nhưng cũng có trường hợp đặc biệt do tu tập thì những tâm Dục-giới thiện có trí này sẽ bắt lấy cảnh ấn tướng đó, mà cảnh ấn tướng đó là không phải là; sắc, thinh, hương, vị, xúc, nữa mà nó là do tưởng và niệm tức là ghi nhớ và tưởng ra trong tâm mình nên gọi là niệm tưởng. Đây là trường hợp thứ nhất.

Trường hợp thứ hai, với một người hành Tứ Niệm Xứ, quán thọ trong thọ, quán tâm trong tâm, tâm tham sanh khởi lên biết tâm có tham, tâm không tham biết tâm không tham. Hay là thọ Tứ Niệm Xứ, thọ vui, thọ khổ, thọ lạc, mà thọ vui, thọ khổ, thọ lạc, hay thọ xả, hay tâm tham, tâm thiện, hay tâm không bất thiện, thuộc về danh pháp, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, trong đó.

Trường hợp thứ ba, với một người thực hành Bát Chánh Đạo, phát triển tam tướng thấy được tam tướng là; tướng vô thường, tướng khổ, tướng vô ngã, những tướng đó rất cực kỳ vi tế, nó không còn là; sắc, thinh, hương, vị, xúc nữa, đây là trường hợp thứ ba.

Trường hợp thứ tư, với một người thực hành Bát Chánh Đạo một cách nghiêm túc và tốt đẹp, phát triển một trong tam tướng tới mức cực thịnh để xuyên xuốt tam tướng chứng đắc Niết-bàn trước khi tam đạo xuất hiện, thì có những tâm Dục-giới xuất hiện theo, và một trong những tâm Dục-giới xuất hiện theo có một tâm được gọi là cắt đứt dòng phàm (Gottarabhu). Thì chính tâm này bắt cảnh Niết-bàn nhưng chưa sát trừ phiền não, khác với tâm đạo bắt lấy cảnh Niết-bàn nhưng sát trừ phiền não. 

Trường hợp này được ví dụ như sau, Ngài Buddhaghosa trong sách Thanh Tịnh Đạo Ngài có ví dụ như vầy, ví như một người nông dân muốn gặp đức vua để trình bày công việc của mình, người này từ bỏ quê nhà lên đường, trên đường đi đã gặp đức vua đang đi di hành nhưng anh không có cách nào chưa có thể trình bày việc của mình, sau đó anh phải quay về, người bạn hỏi anh đã gặp đức vua chưa, anh nói chưa, nếu gặp đức vua rồi phải trình bày mục đích của mình mà anh gặp rồi nhưng chưa có cơ hội để trình bày mục đích của mình, cho nên phải trả lời chưa. Như thế nào cũng vậy thì cái tâm cắt đứt dòng phàm  Gottarabhu này thấy được Niết-bàn nhưng chưa sát trừ được phiền não, cũng như anh chàng nông dân thấy được đức vua mà chưa trình bày được công việc của mình. Đây là trường hợp thứ tư.

Cho nên có những trường hợp mà tâm Dục-giới thường bắt cảnh; sắc, thinh, hương, vị, xúc, nhưng cũng có trường hợp đặc biệt do nỗ lực tu tập có thể bắt được cảnh khác là như vậy, xin trả lời .


Thursday, April 1, 2021

Câu hỏi. bị ngã xuống nước lúc đó nên chú tâm vào gì để có giờ cận tử tốt? HT Chí Tâm giảng

 Câu Hỏi: Trong giờ cận tử Chư Tăng thường khuyên nên chú tâm vào hơi thở. Vậy trường hợp mình bị ngã xuống nước lúc đó nên chú tâm vào gì để có giờ cận tử tốt?

Minh Hạnh chuyển biên

HT Chí Tâm: Đúng ra niệm hơi thở cũng cần phải có gió ra vào hay sự biết chuyển động của hơi thở. Khi rớt xuống nước nếu hít vào thì cũng uống nước, mà thở ra thì cũng không được, cho nên chúng ta chỉ giả sử đó là một trường hợp không thể niệm hơi thở, lúc đó chúng ta có những phương pháp niệm về sự khổ về thân, chúng ta quán tưởng, suy xét niệm về thân cũng là tốt. Có một câu chuyện trong lộ trình tâm, lộ đắc đạo tột, có những vị tỳ kheo ở trong rừng hành đạo bị con cọp tuần tự ăn thịt, câu chuyện này được kể rằng có một vị tỳ kheo đang bị con cọp ăn phần chân sắp sửa lên tới phần mình và phần đầu, thì có một số vị tỳ kheo cùng tu mới nói lớn cho vị tỳ kheo đang bị con cọp gậm rằng :

"Này hiền giả, sự tu tập sự đắc chứng của hiền giả là do hiền giả và chính hiền giả phải cố gắng lên."

Thì chính ngay lúc đó vị tỳ kheo này quán về thân thọ, và cũng ngay lúc đó Ngài đắc chứng đạo quả trên miệng con cọp, đó là nói về vấn đề lộ đắc đạo tột.

Còn vấn đề câu hỏi này, chúng ta thấy rằng rớt xuống nước không có không khí để chúng ta niệm hơi thở, vì hít vào là nước theo vào, chắc chắn là lúc đó phải bị thân khổ thì phải nắm bắt liền đề mục niệm thân.

Có một lần chúng tôi thực chứng: Một chú tên là Huệ Pháp ở trong chùa Thiền Môn Một chở chúng tôi đi, thì phía trước khoảng chừng trên 50 mét có chiếc xe đạp lao ra, tôi mới nói "Coi chừng chiếc xe đạp chạy ra kìa." Nhưng mà quả thật vì tốc độ chạy hơi nhanh anh tài xế này không điều khiển được và chiếc xe đạp móc chúng tôi, khi đó chúng tôi nằm dài xuống yên, lúc đó tâm của chúng tôi chỉ có nghĩ rằng phải bảo vệ cái đầu. Đồng thời ngay tích tắc anh tài xế nhấp thắng và nhấp thắng, bắt đầu tôi bị rớt xuống lộ, thì phải nói độ xoay tròn lăn tròn trên mặt đất cũng mười mấy thước. Phải nói mình có phước, tôi ngồi dậy với hai chân dở lên thì đồng thời chiếc y nó bay giữa lộ căng ra, lúc đó hai đầu lộ cách khoảng 100 mét không có một chiếc xe nào hết, tôi đứng dạy thì cái dèm tôi vẫn còn mang, tôi nhặt đồ phụ tùng rớt dưới đất bỏ vào trong dèm lại rồi tôi đi vô lề đường, đồng thời lúc đó có một chiếc xe bốn chỗ chạy lại hỏi: "Thầy có sao không con chở Thầy đi." Thì mình mới nhìn xuống chỗ da bị chà sát dưới mặt đường thịt trắng rồi từ từ rịn máu ra đỏ, lúc đó mới cảm nhận là nhức nhối. Ngay lúc này nếu người nào có sự sáng suốt thì chắc chắn phải nhanh nhẹn lắm, khi bị hữu sự rồi chúng ta mới thấy được sự kiện đó, cho nên trong tích tắc là chúng tôi nghĩ rằng phải bảo vệ cái đầu và quả thật khi té xuống không biết tư thế như thế nào nhưng hai tay tôi vẫn ôm cái đầu và tôi lăn. Đó là sự kiện thực chứng từ bản thân của tôi.

Thì trở lại vấn đề bị té xuống nước mà nói niệm hơi thở thì chắc chắn không được, vì làm sao mà thở ở dưới nước được. Đó là lời giải đáp vắn tắt.

Wednesday, March 31, 2021

Câu hỏi: khi mình đắc quả rồi thì có thể vô hiệu cái nghiệp hay không? - HT Giới Đức

 Câu hỏi: khi mình đắc quả rồi thì có thể vô hiệu cái nghiệp hay không?

Minh Hạnh chuyển biên

HT Giới Đức: Xin thưa, nó có thể thay đổi, có thể làm nhẹ đi, chứ không chấm dứt nghiệp được, không chấm dứt nghiệp ác mà mình đã tạo ra.

Đơn cử, thời Đức Phật tại thế có tên tướng cướp Angulimala, theo kinh văn truyền thống thì ông đã giết 999 người, nhưng sau khi ông đắc quả cái nghiệp sát 999 người đó trả quả rất nhẹ vì nó chạy theo không kịp thiện tâm đắc quả, cho nên ông bị mọi người đánh đổ máu làm rách áo v.v... thế thôi, như vậy là nghiệp có trả quả nhưng rất nhẹ, do nghiệp thánh đạo năng lực quá tối thượng làm cho nghiệp kia chạy tới để trả quả không kịp, đó là trường hợp của Angulimala.

Còn trường hợp khác, Ngài Mục Kiền Liên một vị trưởng tử của Đức Phật, đại đệ tử của Đức Phật trong một kiếp quá khứ tìm cách giết cha giết mẹ cho nên kiếp này phải trả quả rất nặng nề, bọn tướng cướp tới giết Ngài, Ngài dùng thần thông để tránh ba lần nhưng nghĩ lui nghĩ tới cái nghiệp nó đến rồi tránh không được thôi để cho nó làm và, Ngài ngồi yên cho bọn tướng cướp  chặt chém giết, vậy thì Thánh Tăng Alahán nghiệp quá khứ quá nặng vẫn bị trả quả, nhưng từ khi đắc quả Thánh, tâm ngài vô vi vô lậu hoàn toàn không còn tạo tác thêm nghiệp hữu vi nào nữa, nhưng cái dư nghiệp quá khứ chạy theo đòi trả quả cho bằng được.

 Đức Phật cũng vậy, Ngài bị Devadatta cho ám sát 3 lần, bị quăng đá chảy máu, bị vu khống, bị phỉ báng, Ngài cũng bị bệnh kiết lị .v.v... Và quả quá khứ có 3 tháng an cư Ngài ăn thực phẩm của ngựa v.v... vẫn chịu trả quả, dù là bậc Chánh Đẳng Giác.

Vậy chúng ta thấy kinh khiếp của nghiệp như vậy cho nên phải chọn những nghiệp thanh lương nhẹ nhàng trong sáng để ra đi trong an lành.

Thầy đã chứng kiến có nhiều vị HT, có vị quằn quại suốt 2 năm, có nhiều vị 5, 7 tháng sống đời thực vật, chứng tỏ là các vị ấy trả quả. Có vị cư sĩ hoặc phu quét rác hoặc người bán hoa, hoặc người làm nghề thủ công hoặc một ông nông dân chẳng hạn, ra đi nhẹ nhàng thanh thản thì biết là trong quá khứ họ làm việc lành tốt không làm việc xấu ác quá nặng đến đỗi bị hoằn thân hoại thể trước khi chấm dứt hơi thở.


Tuesday, March 30, 2021

Tại sao Phạm Thiên trong cõi sắc giới không có thần kinh mũi, thần kinh lưỡi, thần kinh thân? - HT Chánh Minh

 Tại sao Phạm Thiên trong cõi sắc giới không có thần kinh mũi, thần kinh lưỡi, thần kinh thân, mà lại có thần kinh nhãn và có thần kinh nhĩ?

HT Chánh Minh giảng trong bài Thắng Pháp 3. Minh Hạnh chuyển biên

 HT Chánh Minh: Chúng ta nên lưu ý, trong kinh văn dạy rằng Đức Thế Tôn Ngài dạy trong kinh điển:

"Vị Tỳ khưu ly ác bất thiện pháp, chứng và trú sơ thiền, một trạng thái hỉ lạc do ly dục sanh"

Dục ở đây chỉ cho; sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Ly dục là lìa bỏ; sắc, thinh, hương, vị, xúc, không còn tham đắm hay dính mắc trong; sắc, thinh, hương, vị, xúc. Có lìa bỏ được; sắc, thinh, hương, vị, xúc, vị đó mới có thể chứng đắc được sơ thiền. 

Dĩ nhiên trước đó phải lìa bỏ ác bất thiện pháp, không còn làm những ác nghiệp, không còn tạo những bất thiện nghiệp, tâm hân hoan sanh lên thì bấy giờ diệt trừ hoặc là tạm thời áp chế đè nén không cho sự ham muốn về; sắc, thinh, hương, vị, xúc, sanh lên thì vị đó mới chứng đắc được sơ thiền. 

Và để bảo dưỡng năng lực đặc biệt của sơ thiền đó, vị đó luôn luôn tâm niệm không bao giờ ước muốn có được; sắc, thinh, hương, vị, xúc. 

Do năng lực thiền như vậy cho nên dù cho cõi sắc giới thấp nhất là cõi sơ thiền đi chăng nữa, vị đó sẽ không có thần kinh tỉ, thần kinh thiệt, thần kinh thân.

Nhưng tại sao Ngài có thần kinh nhãn và thần kinh nhĩ? 

Bởi vì sở dĩ các Ngài có thần kinh nhãn, thần kinh nhĩ, vì đây là ước muốn của các vị Phạm Thiên đó hay là ước muốn của vị hành giả đó, vị đó muốn có con mắt để thấy được hình ảnh của Đức Thế Tôn, được diện kiến với thân tướng của Đức Thế Tôn, thứ hai là vị ấy muốn có thần kinh nhĩ để nghe được giáo pháp của Đức Thế Tôn, do năng lực thiền, do ước muốn đó cho nên các Ngài có thần kinh nhãn và thần kinh nhĩ.


Monday, March 29, 2021

Câu hỏi. giây phút lâm chung quan trọng như thế nào? - HT Giới Đức giảng

 Câu hỏi: giây phút lâm chung quan trọng như thế nào?

Trích đoạn trong bài giảng "Chữ nghiệp trong đạo Phật" HT Giới Đức giảng.

Minh Hạnh chuyển biên

HT Giới Đức: Giây phút lâm chung quan trọng dường bao, Thầy nhớ thời kỳ ở nơi chùa Phật Bảo năm 1973 có một vị Sư Miên già bệnh sắp lâm chung, ông xin mọi người đưa tượng Phật nhỏ để ông cầm và ông nói Buddho, Buddho, Buddho, Buddho.......lần lần rồi ra đi, chắc chắn là cảnh trời, nếu khi nói Buddho, Buddho, Buddho mà cận định thì lên cõi trời Đâu Xuất. 

Người thứ hai là Ngài HT Hộ Tông, vị Sư thị giả ở chùa Hương Đạo ở bên Mỹ, thị giả của Ngài mười mấy năm trường kể lại giây phút Ngài lâm chung và Thầy có kể lại giai đoạn đó trong Tháp Lửa Tâm Linh về cuộc đời của Ngài Hộ Tông, giây phút trước đó thì Ngài đi toilet xong thì ra nói với Sư Bửu Đức: "Bao nhiêu cái khổ não cái phiền não trần ai sổ ra hết rồi" sau đó Ngài vô nằm rồi một số Chư Tăng một số Phật tử đến thăm viếng bên cạnh Ngài giảng Tứ Niệm Xứ, Ngài giảng Niệm Xứ một hồi thì Ngài mệt, Ngài bảo Sư Bửu Đức đọc nguyên đoạn kinh văn Tứ Niệm Xứ cho Ngài nghe, rồi sau đó Ngài ra đi, việc này là bất khả tư nghị, ra đi mà lắng nghe kinh pháp trước đó mấy phút thôi dạy Tứ Niệm Xứ cho mấy Sư và mấy người cư sĩ. 

Còn hình ảnh vị khác Thầy thấy rõ ràng hình ảnh Ngài Hộ Nhẫn tăng trưởng của hình ảnh Nam Tông ở Huế, Thầy viết tiểu sử cuộc đời của Ngài, thì buổi sáng ôm bát đi trì bình Ngài nói với người quét lá trong chùa: 

- "Sáng nay 9 giờ mà Sư không về thì đừng đi tìm."

 Trước đó một ngày, một người sinh viên có vấn đề phiền não, lên gặp Ngài, Ngài dạy vài lời rồi nói: 

- "Không biết là con còn gặp được Sư nữa hay không". 

Thì sáng hôm sau Ngài ra đi trì bát, đang đi trên đường, có cậu thanh niên đi chiếc honda tông Ngài làm Ngài té xuống đường, đầu bị đụng mạnh xuống đường, bị tổn thương sọ não máu chảy, khi đó Ngài quay lại nói với cậu thanh niên: 

- "Con đi đi, không có chi mô ." 

Ngài nói vậy để mọi người để cho cậu thanh niên đi không thì cậu thanh niên sẽ bị Chư Tăng và Phật tử quanh vùng làm phiền bắt lại và nói tội này tội kia tội giết người v.v... Nói vậy xong Ngài quay lưng lại Ngài nằm trong tư thế Đức Phật Niết-bàn, khi đó có một Thầy ở chùa kế bên chạy ra và lấy cái khăn lau máu cho Ngài, và một Sư bà cầm y lớn quàng cho Ngài, sau đó Ngài mới ra đi trong tư thế nằm nghiên. Vị Thầy đó kể lại cái khăn lau máu đó đem cất trong tủ, ông nói 3, 4 ngày sau, 5, 7 ngày sau máu đó còn thơm, và tấm y phủ cho Ngài người ta cũng cắt từng mảnh để kỷ niệm, các vị đó cho biết là Ngài mỉm cười ra đi an lành, mặc dầu bị nghiệp dữ, đó gọi là nghiệp bất đắc kỳ tử, cái nghiệp đó dễ bị đoạ tức khắc.

 Vậy thì, nếu người sắp chết còn thấy được thì nên chưng bày chung quanh đó những hình ảnh tốt đẹp để người đó thấy, chẳng hạn như tượng Phật, khi thấy tượng Phật người đó tự nhiên liên tưởng đến Đức Phật, đến sự tu tập của mình thì tự nhiên chuyển qua tâm của mình. Hoặc người đó đôi nhắm mắt không thấy được thì còn nghe ở tai, mình có thể để một băng thuyết pháp, băng kinh, hoặc tiếng chuông, hoặc tiếng mõ vọng vào tai người đó tuần tự hóa nghiệp cho mình. Hoặc là mùi trầm mùi hương cũng được, quan trọng nhất là khi chết nếu như người đó còn thấy biết, thời kỳ Đức Phật cũng vậy, Ngài tụng những bài kinh Vô Thường, Khổ Não và Vô Ngã để người sắp chết thấy được sự vô thường của đời người, thấy được sự vô ngã của thân này, sự vô thường vô ngã của sự tử sinh để nhiếp tâm vào chánh pháp.

Nói là mình giúp đỡ cận tử nghiệp thì nếu như cận tử nghiệp tốt, người đó là người làm việc tốt những việc xấu ác nào trong đời này không chạy theo kịp, nhưng khi hết phước mà nghiệp thiện dẫn dắt đó hết rồi thì cái quả đi sau mình thọ nhận, nghiệp chạy theo như bóng như hình, không chóng thì chày thôi, không thay đổi được dù hang sâu, dù hư không, ngoài biển cả cũng không thay đổi nghiệp, thần chết vẫn tìm đến nơi.

Như vậy chúng ta ý thức được nghiệp như vậy là không thay đổi được, 


Sunday, March 28, 2021

Câu hỏi: Mỗi một tâm gồm ba giai đoạn sanh-trụ-diệt hay chỉ gồm hai giai đoạn sanh-diệt? - TT Giác Nguyên

 Câu hỏi: Mỗi một tâm gồm ba giai đoạn sanh-trụ-diệt hay chỉ gồm hai giai đoạn sanh-diệt?

Chánh Hạnh chuyển biên

TT Giác Nguyên: Hỏi rằng bản thân trong một sát-na đại tâm có đủ  ba sát-na tiểu sanh-trụ-diệt hay không? Ba cái sanh-trụ-diệt là ba giai đoạn đó có thật trong thực tính pháp của A-tỳ-đàm hay nó chỉ là một phương tiện trình bày bản chất vô thường của các pháp?

Theo chỗ UM được biết khái niệm sát-na đại và sát-na tiểu, vốn chưa được nhắc đến trong buổi sơ kỳ của Phật giáo. Nói như vậy không có nghĩa là không có.Trong kinh tạng Đức Phật Ngài từng xác định mức độ sanh diệt chớp nhoáng và thần tốc của tâm,

“Ta không  thấy một cái gì trong đời này có một tốc độ nhanh hơn là tâm”

Còn chuyện trong thời gian một khảy móng tay, một nháy mắt tâm sanh diệt bao nhiêu triệu triệu sát-na, chúng ta chỉ thấy được trong kinh điển hậu thời Phật giáo, tức là sau ngày Phật viên tịch. Nhân tiện chúng tôi cũng xin thưa một chuyện, từ xưa đến nay chúng ta vẫn nghĩ rằng 121 tâm hay 89 tâm hoặc 52 sở hữu hoặc 28 sắc pháp, đó là cách trình bày các pháp theo giáo lý A-tỳ-đàm, tức là đề cập đến sự hiện hữu của các pháp theo mức độ rốt ráo nhất. Thay vì trong kinh tạng luật tạng gồm có người có thú, có chư thiên, có phàm có thánh có nam có nữ, có đẹp có xấu, nhưng trong giáo lý A-tỳ-đàm chỉ có tâm, sở hữu và sắc pháp mà thôi. Có một điều ngay trong bản thân con số 28 đó, chúng ta phải xét lại tức là trong thực tính chân đế pháp paramattha dhamma con số đó chỉ có 18 sắc pháp chân đế tức là 18 thành phần tinh tuý của cái gọi là  vật chất, cái gọi là sắc pháp. Còn 10 sắc còn lại chỉ là phương tiện diễn dịch, giải thích sự vừa sinh diệt và cũng vừa sinh diễn của các sắc pháp. Thí dụ chúng ta thấy trong 28 sắc pháp có nhóm sắc gọi là sắc tứ tướng là sanh-tiến-dị-diệt. Trong chân đế pháp vốn không có bốn cái này, đây chỉ là bốn giai đoạn của sắc pháp.Ví dụ bản thân sắc nam tính và sắc nữ tính có bốn giai đoạn, xuất hiện- tiến triển- già cỗi- biến mất. Đó chỉ là phương tiện trình bày chứ trong chân đế pháp, vốn không có bốn giai đoạn này của sắc pháp. Chứ không phải là những sắc pháp riêng biệt như sắc đất nước lửa gió.

Vấn đề sanh-trụ-diệt của tâm cũng vậy. Trong chân đế pháp chỉ có tâm, có sở hữu. Chính sở hữu tâm hay các tâm sở đã kết hợp lại để làm nên cái gọi là tâm, còn chuyện sanh- trụ- diệt ở đây là sự phân tích của đời sau. Bởi vì rõ ràng tâm sanh lên thì nó phải biến mất. Nếu nó không biến mất thì làm sao chúng ta có thể ghi nhận được cái nghiệp trần bên ngoài một cách linh hoạt và sinh động được. Thí dụ như có lúc chúng ta ngủ, có lúc chúng ta thức, có lúc con mắt làm việc, có lúc lỗ tai làm việc, có lúc cái lưỡi, cái mũi chúng ta làm việc, có lúc thần kinh xúc giác làm việc. Cho nên bắt buộc các tâm không thể nào chỉ là một. Chúng ta sống trong thế giới nào cũng phải có một tâm thức tương ứng. Cho nên đó là lý do tại sao các dòng tâm thức phải luôn sanh diệt. Các dòng tâm thức, các chuỗi lộ tâm sinh diệt đã đành rồi mà bản thân mỗi sát-na trong dòng tâm thức đó cũng sanh diệt. Các Ngài trình bày cho chúng ta  thấy rõ rằng, trong mỗi sự sanh diệt đó có ba giai đoạn là sanh-trụ-diệt. Đó là cách phân tích cho các hành giả thấy rõ mỗi sát-na tâm là một đơn vị cực vi, một đơn vị bất khả phân của tâm pháp vậy mà trong đó nó cũng tiếp tục có sự kết hợp combination của ba giai đoạn cực vi khác. Vốn đã cực vi mà lại có thêm ba cực vi nữa đó là sanh-trụ-diệt. Đó chỉ là phương tiện của đời sau mà thôi. Chứ còn trong A-tỳ-đàm  nguyên thuỷ thời  Đức Phật không chia chẻ sâu rộng như vậy, mà chỉ nói vắn tắt rằng tất cả sát-na tâm, đã sanh ra thì phải biến diệt.

Và nếu có ai hỏi rằng, “Nếu phân tích tâm sanh diệt nhanh như vậy dựa vào đâu để nói rằng cách trình bày sát- na tâm đã được đức Phật nói đến?”. Xin thưa có một chứng minh rất hùng hồn đó chính là sát-na thánh đạo. Bởi vì chúng ta biết rằng có một loại tâm duy nhất trong cuộc đời này chỉ xuất hiện một lần từ vô thuỷ luân hồi cho đến vô chung, chỉ xuất hiện một lần là các tâm thánh đạo. Còn tâm tái tục hay tâm tử, mỗi kiếp sống nó chỉ xuất hiện một lần nhưng ở kiếp sống khác lại tiếp tục tái hiện. Riêng tâm thánh đạo chỉ xuất hiện có một sat-na và chỉ xuất hiện một lần mà thôi cho mỗi cá nhân chúng sinh.

Chúng ta dựa vào tâm thánh đạo này để có một niềm tin xác chứng rằng Đức Phật từng nói đến sự tồn tại của một sát-na của chứ không phải chuyện sát-na mới chỉ có đời sau nêu lên. Tuy nhiên riêng về cái sanh-trụ-diệt theo UM được biết đó là sự phân tích của đời sau, sự phân tích này không có gì chống tráivới giáo lý A-tỳ-đàm nguyên thuỷ. Nghiã là một sát-na khi nó xuất hiện thì nó phải có sự biến mất. Khái niệm thời gian từ xưa đến nay bị gò bó trong năm tháng, trong bốn mùa xuân hạ thu đông, trong ngày đêm, trong giờ phút giây sao. Chúng ta không ngờ cách đây  25 thế kỷ Đức Phật  từng nói đến một loại thời gian khác vượt khỏi thời gian chúng ta có thể suy lượng bằng các phương tiện vật lý. Đó là không một loại đồng hồ nào, kể cả đồng hồ thể thao có thể ghi nhận được tốc độ vận hành sinh diễn của sắc pháp và danh pháp theo như hệ thống A-tỳ-đàm đã trình bày.

Tóm lại:

- Từ thời Đức Phật, Ngài đã nói đến bản chất của tâm pháp vốn dĩ chỉ là sự kết nối của vô số sát-na tâm

-Đức Phật đã từng nói đến đơn vị nhỏ nhất của tâm pháp và sắc pháp, đó là sát-na.

-Cái gọi là sanh-trụ-diệt chỉ là sự phân tích của đời sau, nhưng cách phân tích này hoàn toàn không có gì là chống trái với lý tưởng của A-tỳ-đàm nguyên thuỷ.

Còn chuyện chúng ta phân tích sự sanh diệt của sát-na tâm hay sát-na sắc gồm ba giai đoạn  (sanh-trụ-diệt) hay hai giai đoạn (sanh-diệt) đều không sai, miễn là luôn luôn    không quên rằng có sanh ắt phải có diệt.

Chúng tôi xin ngừng tại đây.

Namo Buddhaya