081 Paṭṭhāna
HT Sán Nhiên giảng ngày 18 tháng 11, 2023
Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 081 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ.
Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.
Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.
Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh
Minh Hạnh
Xả Thí có 2 vế: Một là,Xả Thí Ba-la-mật, hai là, Xả Thí Thiện.
Xả Thí Thiện thì đừng để ý tới chuyện bỏn xẻn, mình chỉ làm xả thí thôi, có điều kiện cho thì cho.
Nhưng khi nói Xả Thí Ba-la-mật là Xả Thí Toàn Thiện phải có 2 vế; là tôi xả thí này ra để tôi diệt cái bỏn xẻn của tôi, là diệt cái bỏn xẻn này có 5 bỏn xẻn (pañca Macchariya) là 5 bỏn xẻn.
Bỏn xẻn có 5 loại là:
1- Bỏn xẻn chỗ ớ (āvāsa macchariya).
2- Bỏn xẻn thân tộc (kula macchariya)
3- Bỏn xẻn lợi lộc (lābha macchariya)
4- Bỏn xẻn danh tiếng (vaṇṇ macchariya)
5- Bỏn xẻn pháp.macchariya (dhamma macchariya)
Tật đố (issà) và bỏn xẻn (macchariya) là 2 pháp bất thiện ngủ ngầm.
Thế gian người ta bỏn xẻn về dòng giống, như con vua thì lấy con vua. Nhưng người Phật tử mình, ngay cả ông Sư hay người xuất gia thì thường bỏn xẻn trí tuệ, như là dấu nghề, người đời họ dấu nghề nhưng người tu là bỏn xẻn Phật Pháp.
Tinh Tấn Ba-la-mật hơn tinh tấn thường.
Tinh Tấn có 3:
- Tinh Tấn
- Chánh Tinh Tấn
- Tinh Tấn Ba-la-mật
Tinh Tấn suông thì có chánh và tà, mình chỉ có siêng năng thôi.
Chánh Tinh Tấn là mình chỉ có một phía thôi, mình làm việc cho tốt còn cái tà mình không có. Chánh Tinh Tấn làm dải đãi lui sụt.
Tinh Tấn Ba-la-mật là nó vừa trị Tinh Tấn Tà nó còn trị dải đãi, vừa trị cái lười biếng. Chánh Tinh Tấn làm dải đãi lui sụt thì nó mới ra toàn thiện.
Như vậy thì, bây giờ mình nói việc mình tu, một ngày mình tu; đọc kinh, ngồi thiền, đọc sách.
Mình viết ra Tinh Tấn có 3; Tinh Tấn, Chánh Tinh Tấn, Tinh Tấn Ba-la-mật, thì trong đời sống hàng ngày, một ngày thì làm được mấy loại Tinh Tấn ? Và có bao nhiêu Chánh Tinh Tấn ? Có bao nhiêu Tinh Tấn Ba-la-mật, mình lọc ra.
Khi Ác Ma tới, Ngài không coi Ác Ma, Ngài không coi binh ma, Ngài không coi sự hùng dữ khủng khiếp đó. Khi mấy cô nhìn thấy ma, mấy cô coi nó chứ mấy cô không coi mình. Nên Đức Phật Ngài nói mình không chuẩn bị tư lương, không chuẩn bị vốn hành trang lên đường xa.
Khi Ác Ma tới Chư Thiên bỏ chạy hết.
Mấy cái đó mình phải ngồi nghiệm ra mới trì độ con đường mình tu.
Vậy thì bữa nay mình có Tinh Tấn trong tu tập, Tinh Tấn trong đời sống, Tinh Tấn trong sinh hoạt, thì mình có Tinh Tấn loại nào mình bắt đầu lọc ra, và chính mình biết thôi.
Xả Thí
Xả Thí Thiện
Xả Thí Ba-la-mật
Nói Xả Thí, ai cũng có Xả Thí, mà Xả Thí Thiện thì khác hơn Xả Thí suông.
Tinh Tấn Ba-la-mật là phải vượt qua khỏi nghiệp duyên nghiệp báo, hay những phiền não, chứ không phải là Tinh Tấn mình chỉ vượt qua giải đãi thôi, hay là vượt qua lười biếng thôi, cái đó là sai.
Tinh Tấn Ba-la-mật không thể làm bởi trí tuệ thông thường được, phải là Thắng Trí mới được. Mà Thắng Trí là phải tích lũy nhiều, có một bề dài trải nghiệm nhiều nó mới ra chất lượng lớn cho trí tuệ này thù thắng. Nên mỗi việc gì mình cũng dùng trí, tập hoài, cái trí bắt đầu dầy dặn lên hay là nó kiên cố hơn hay là nó sắc bén hơn, thì mới có kết quả được.
Xả Thí thì có xả thí tà, xả thí chánh, hay là xả thí toàn thiện, xả thí thiện, hay là xả thí thiện, xả thí ba-la-mật.
Trong cái tu tập bắt đầu mình nhìn mình, rồi mình nhìn qua các người khác hoặc nhìn người thân của mình hay người quen của mình, rồi nhìn qua chúng sinh, mình rút tỉa ra được.
Thì khi rút tỉa ra được cái đó thì mình đang đi trên con đường Thiền An Chỉ, đem tâm quan sát người đó, hoan hỉ người đó để rồi mới Minh Sát, rồi giải quyết được sự việc đó. Là mình áp dụng 2 cái Thiền An Chỉ và Thiền Minh Sát cho mình và cho người, mới ra được.
Khi mình tìm ra được cái đó thì bắt đầu qua Pháp Hành
- Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm
Bhāvanā
- Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ
Thì Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm
Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ
Thì mới ra được cho mình / cho tha nhân. Mình phải có Pháp Hành để tu tập. Cái này là để thực hành
Khi nói tới Pārami Pháp Toàn Thiện phải thực hành thì tạo quả mới ra được .
Đạo cũng 2 vế:
1. Sát Trừ Phiền Não,
2. Chứng Đắc Niết Bàn.
Hai cái đó, thì mình nhìn Sát Trừ Bỏn Xẻn, tiêu trừ bỏn xẻn thành tựu xả thí viên mãn.
Chữ Pāramī = âm là Ba-la-mật = dịch là Đáo Bỉ Ngạn - đến bờ an vui
Đáo là đến
Bỉ là an vui
Ngạn là bờ sông.
Arahat, Arahant âm là A-la-hán nghĩa là vô sinh, là không tục sinh nữa.
Tu Đà Hườn là âm của Sotāpanna dịch là bậc Thất Lai, mình tập cách dịch, không sài âm nữa vì nó không có nghĩa, rồi mình không hiểu được nghĩa thì mình hiểu sai ý của từ ngữ đó.
Pārami đến bờ an vui, tức là làm sao để đến bờ an vui.
Khi đi trong các chi thiền;
Tầm --> Cảnh
Tứ --> Cảnh
Hỷ ---> Cảnh
Lạc --> Cảnh
Nhất Tâm --> chỉ còn 1
Tầm tới Cảnh, còn 2, còn tâm còn cảnh.
Thí dụ, bờ sông mình đi xuống tàu đi qua bờ bên kia, thì Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, tới bờ bên kia thì chỉ còn 1 là Nhất Tâm.
Thì khi mình đi tới Pārami (Ba-la-mật) mình đi Sát Trừ Phiền Não. Ba-la-mật này mà đi đang Sát Trừ Phiền Não, Tâm Đạo thì hành Ba-la-mật Sát Trừ Phiền Não.
Thì trong khi mình đi Pārami Xả Thí Ba-la-mật đưa đến Giải Thoát Đạo Quả,
Xả Thí Ba-la-mật / ---> / Giải Thoát Đạo Quả,
thì ở giữa là Ác Ma
Giờ mình đặt câu của Đức Phật khi còn là Bồ Tát ngồi dưới cội cây, do nhờ Xả Thí Ba-la-mật Ngài thằng được Ác Ma đi đến Đạo Quả, thì ở giữa là Ác Ma, một bên là Xả Thí Ba-la-mật, một bên là Đạo Quả
Xả Thí Ba-la-mật của Bồ Tát Giác Hữu Tình
Xả Thí Ba-la-mật / ---> / Giải Thoát Đạo Quả,
Bodhisatta Bậc Chánh Đẳng Giác
Giác Hữu Tình Níp-bàn
Quí Phật tử đang ở trong vế nào ? vế 1 hay 2. Ở trong 2 vế, thì khoảng trống ở giữa.
Ngài đi Xả Thí Ba-la-mật đến bờ an vui, thì trong Xả Thí Ba-la-mật Ngài đi tới bờ an vui thì pháp nghịch của Ngài, như mình học, lực đẩy, lực kéo, lực trì cản , thì trong khi Ngài đi như vậy pháp nghịch của Ngài là ác ma, bỏn xẻn, hay pháp bất thiện, phiền não, thì lúc đó Ngài biết, các quí Phật tử mình biế.
Khi Xả Thí thì có 2 là vật chất và tinh thần. Mình có 2 loại xả thí; xả thí vật chất và tinh thần. Nó chỉ là một cảnh thôi, nó chỉ là một đối tượng thôi.
1. Thí dụ như xả thí vật chất, mà trong xả thí vật chất này mình xả thí ba-la-mật.
2. Còn khi xả thí pháp, một pháp thoại hay một lời dạy của Đức Phật, hay kinh sách, thì cái đó là xả thí về tinh thần.
3. Còn xả thí vừa vật chất vừa tinh thần.
Tức là xả thí có 3 loại:
1. Vật chất đơn
2. Tinh thần đơn
3. Vật chất và tinh thần
Có những cái mình chỉ có xả thí vật chất thôi, không có cái gì trong tinh thần được. Thí dụ, trên đường đi gặp nhiều người ăn xin, lúc bấy giờ đối với người ăn xin là đối tượng để mình xả thí, thì mình xả thí vật chất đơn thuần.
Sư nói cái này chỉ nói về Cảnh thôi, Sư đi từng vế.
Thì có khi mình chỉ đi vật chất với đối tượng đó thôi, mình bố thí xong mình đi.
Có những cái người ta không cần gì về vật chất nhưng người ta cần tinh thần, mà lúc bấy giờ mình cho vật chất thì là không đúng, người ta cần tinh thần.
Bây giờ thí dụ một người giàu có nhưng họ đang đau khổ về tinh thần thì lúc đó mình không cho họ vật chất, họ cần tinh thần thì mình bổ túc tinh thần cho họ.
Thì lúc đó, có khi là xả thí vật chất, có khi xả thí là tinh thần, có khi cả vật chất và tinh thần. Thì cái đó là đối tượng.
Nên mình làm mình biết, mình phải biết. Thì tại sao mình biết cái này là vật chất thôi ? Tại sao mình biết cái này là tinh thần thôi ? Là mình phải biết vì trí tuệ của mình làm điều này, chứ không phải làm không có trí
Thì khi mình đứng trong cái đó mình làm được việc xả thí vừa vật chất vừa tinh thần thì xả thí của mình là mình được một việc Xả Thí Thiện. Cái này mình mượn đối tượng, có khi chính mình là đối tượng và họ là đối tượng, mình có cả hai. Trong khi mình làm cái này thì mình có một xả thí, bắt đầu mình làm qua Ba-la-mật.
Tới Xả Thí Ba-la-mật. Mình làm Xả Thí Ba-la-mật thì mình được diệt trừ phiền não, giải cứu, giải thoát.
Pārami Xả Thí Ba-la-mật đưa đến Giải Thoát Đạo Quả, là mình giải cứu để giải thoát thì nó ra ý nghĩa đó.
Thế thì khi mình xả thí, mình nói mình diệt trừ cái bỏn xẻn trong mình, là mình mượn đối tượng để mình diệt trừ bỏn xẻn của mình hay là sự dính mắc của mình, xả thí ra. Nhưng trong khi đó mình giải cứu mình thoát khỏi cái phiền não này, thoát khỏi luân hồi, thoát khỏi khổ đau. Mình phải có cái đó thì mới ra được.
Nên trong quyển Biên Niên Sử Ngài Mingun nói Pārami là giải cứu, rồi mới giải thoát, chứ không nói suông Đáo Bị Ngạn đến bờ an vui, nên sau này Sư sợ người học của mình người VN mình thôi chứ người nước ngoài người ta không có, Sư sợ các quí Phật tử VN mình, cái chữ Bồ Tát họ mang một chức năng lớn lắm, trong khi chữ Bồ Tát mà mình đang nói là họ đang tu tập để họ giải thoát cho họ, thì mình không để chữ Đức Bồ Tát được, mình phải để là bậc Giác Hữu Tình, chứ chữ Bồ Tát kia nghĩa là cứu độ, ra tay tế độ có thần lực có nhiệm màu có phép.
Thì chữ Balamat (Pārami) mình đang đi trên đường là bậc giác hữu tình, mình đang giải cứu mình, giải thoát mình và cứu độ chúng sinh. Thì trong khi đó những cái mà mình làm được bố thí vật chất cho người tức là mình hiểu được cái cách xả thí cho mình một cái Ba-la-mật.
Nếu không hiểu cái vế bố thí có lúc cần vật chất, có lúc cần tinh thần, có lúc cả hai vật chất và tinh thần, thì trong lúc mình xả thí thiện, xả thí Ba-la-mật, có lúc mình đang là giải cứu hay mình chỉ làm được việc thiện thôi mà chưa có giải thoát mình còn ở trong cái xả thí này hưởng lợi.
Mình mới thấy tại sao mượn chúng sinh làm đối tượng hành Ba-la-mật (Pārami) . Tại vì không có việc làm này, không có trường hợp này, không có người này, mình không có giải cứu mình được.
Cái vi tế là mình phải giựt mình mà mình nghiệm ra được không và không được là mình phải học.
Bồ Tát Sĩ Đạt Đa lúc Ngài còn ở trong hoàng cung Ngài không có cái gì để giải cứu Ngài, Ngài cứu người ta được, tiền tài, danh vọng, 3 tòa lâu đài, 4 hầm châu báu, Nhưng Ngài nói ta phải giải cứu ta.
Chữ giải cứu này là nằm ở trong chữ Ba-la-mật (Pārami), Ngài nói ta phải giải thoát cho ta, thì nó nằm ở chữ Ba-la-mật (Pārami).
Thì khi mình đứng trong trường hợp như Bồ Tát Sĩ Đạt Đa, tiền tài, danh vọng, mình có hết, hay là mình hưởng ? Cái đó mới hiện ra trạng thái vì sao cướp nội tạng của người ta là vì để kéo dài tuổi thọ mình lên, tại vì người ta sợ chết chứ người ta đâu có giải cứu. Đi cướp của người khác để làm cho tuổi thọ mình tăng lên, nội tạng họ được làm mới để cho tuổi thọ của họ được tăng lên. Chứ thật ra không phải Ba-la-mật. Mình ở trong cái đó mình mới thấy mình chưa giải cứu mình, chưa có giải thoát mình một khi mình đắm chìm trong đó.
Nên chữ Ba-la-mật (Pārami) rất là cao quí, nó có tính chất là tối thượng, là sự nhiệm màu. Thật sự chữ giải cứu là giải cứu phiền não.
Cho dù đầy đủ như Sĩ Đạt Đa trong hoàng cung thì Ngài vẫn còn trong phiền não. Mình đây cũng vậy.
Sư ngồi đây tu, Sư nói với quí Phật tử mình ở đây an vui chứ ở ngoài khổ lắm, phiền não đầy, người nào cũng có, và không thoát ra được. Nhưng mình giải cứu mình trước, mình ở trong chùa mình đã ở trong trạng thái an lành rồi, mình giải cứu mình trước, mình giải thoát phiền não mình trước.
Do đó, những cái đó làm cho mình phải thấy rằng là những pháp Ba-la-mật (Pārami) này là mình phải đặt cái vế đầu tiên là mình phải giải cứu cho mình, phải giải thoát cho mình, thì cái đó đi qua con đường Ba-la-mật (Pārami).
Khi Đức Phật Ngài Sumedha tu tập từ Dāna tới Pariccāga gọi là Phóng Khí, Ngài không còn lựa chọn nữa, còn xả thí là còn lựa chọn, Pariccāga gọi là Phóng Khí là bỏ đi luôn. Bảy ngày đầu Sumedha còn mở cửa kho cho dân chúng vào muốn lấy gì thì Ngài cho, sau Ngài nghĩ ta đã cho rồi thì còn đứng giữ cửa làm gì nữa, thì Ngài bỏ đi luôn, ai tới lấy gì cũng được, đó là Pariccāga là Phóng Khí. Tức là lúc đó Ngài đã đi tới Ngài vô Dāna rồi Ngài giải cứu sau tới Pariccāga gọi là Phóng Khí là Ngài giải thoát, ra khỏi phiền não
Thiền sinh hỏi: như lời Sư dạy, vậy là tất cả 10 Ba-la-mật (Pārami) hay là 30 Ba-la-mật thì tùy mình, làm một Ba-la-mật là có 2 vế, cái thứ hai là giải thoát phiền não?
HT trả lời: Mà cái đó là 2 vế Ba-la-mật (Pārami) là giải cứu và giải thoát. Mà làm đúng 2 cái này là thành Ba-la-mật (Pārami) , một Ba-la-mật (Pārami) , mình giải cứu cái phiền não, rồi mình giải thoát cái phiền não. Mình bị kẹt trong cái phiền não này mình phải giải cứu nó, sau đó mình thoát ra khỏi cái này thành một cái Ba-la-mật (Pārami) hay là thành tựu.
Nhưng mình không có, thường thường mình làm có một vế.
Do đó khi mình làm được mấy cái này, mình viết xuống mình mới thấy thật sự là mình còn phải tu tập trao dồi nhiều, mà không có thì giờ, đối với các quí Phật tử đây Sư lo là không có thì giờ để mà bỏ phí nữa.
Do đó mình phải thấy mình xả thí Dāna mà mình chưa Phóng Khí (Pariccāga), mình xả thí mình chưa phóng khí, nếu mình chưa giải cứu mình thì không có giải thoát, mình phải giải cứu mình mới giải thoát. Cả hai vế đó không rời, nó luôn luôn đi đôi.
Đức Phật Ngài nói chỉ có Ba-la-mật (Pārami). mới đi đến giải thoát. Nếu như là đệ tử Đức Phật tại gia hay xuất gia cũng vậy mà không hành Ba-la-mật (Pārami) thì còn luân hồi, tái sinh trở lại là nhân, thiên. Mà gương thấy trước mắt quí Phật tử phải học, đừng có quên, là Đại Phạm Thiên Sahampati. Hai người cùng tu, Bồ Tát đi con đường Ba-la-mật (Pārami) nguyện giải thoát, còn Sahampati đi con đường Thiền Chỉ, sinh về cõi trời Sắc Giới làm vị Đại Phạm Thiên.
Mình tự giải cứu những phiền não thì mới giải thoát khỏi phiền não, không ai giải cứu cho mình, không ai giải thoát cho mình.
Sacca có 2 pháp là Sacca Vādā = Chân Ngôn (lời nói chân thật)
Sacca Kiriyā = Chân Hạnh (hành động chân thật)
Sống bằng lời nói chân thật và hành động chân thật thì có quyền lực, không ai đánh đổi mình được, mà mình nói người ta có sự khiếp phục.
Đức Phật Ngài nói 2 pháp sinh ra có quyền lực là phải chân ngôn và chân hạnh.
Từ ngữ: Như Lai Tathāgata là Như Lai nói sao làm vậy, nghĩ sao nói vậy.
Có một cô kỹ nữ ngồi bên giòng sông, nước sông chảy cuồn cuộn, ông vua và đoàn quân đi tới muốn qua sông, thì bà nguyện: Từ khi tôi sinh ra với sắc đẹp này tôi chỉ là sự vui chơi cho tất cả vị có tiền, do lời chân thật này và hành động chân thật này xin cho giòng sông này ngưng lại để vua và đoàn quân đi qua."
và ông vua cùng đoàn quân đi qua được, ông vua hỏi: Ngươi có phải là Chư Thiên không, ngươi có phải là Dạ Xoa không, ngươi có phải là Atula không ? Bà trả lời là không, vua hỏi tiếp thế tại sao nước đang chạy mà ngưng lại, bà trả lời tôi chỉ có lời nói chân thật, và tôi có một đời sống chân thật chân ngôn.
Bây giờ, con người mà không có chân thật, và hành động của họ không có chân thật thì làm sao có quyền lực, họ sống trong sợ hãi thì sao có dũng khí dũng mãnh được.
Nên Đức Phật nói 2 pháp Sacca Vādā = Chân Ngôn (lời nói chân thật) , Sacca Kiriyā = Chân Hạnh (hành động chân thật) là người có quyền lực
Mấy cô phải sống chân thật, lời nói phải chân thật, không mua bán, không đi tìm kiếm, nó đến một cách rất là phi thường. Đức Phật nói đó là mãnh lực phi thường.
Lời nói chân thật, hành động chân thật nó phải nằm trong Ba-la-mật (Pārami)
Sacca nằm trong Ý
Vādā nằm trong Ngữ
Kiriyā nằm trong thân
Ý mình phải chân thật thì lời nói mình mới chân thật, hành động về Thân mình mới chân thật.
Như thế thì khi muốn có Sacca Vādā = Chân Ngôn (lời nói chân thật) thì lời nói mình phải chân thật. Muốn có hành động chân thật thì ý của mình phải chân thật mình mới có hành động chân thật được, chứ không có đi hai chiều, không có 2 cái đảo ngược nhau được. Thì mình mới được an vui, và mình tự giải cứu mình trước, rồi sau đó mình giải thoát cái khổ.
Thiền sinh hỏi: Thưa Sư, có người họ vừa tà ngôn vừa tà hạnh mà họ lại có quyền lực.
HT trả lời: Họ ăn cơm nguội. Tích truyện bà Vishaka nói cha chồng ăn cơm nguội “siu nguội” (purārakaṃ) như sau:
Ngày nọ, khi Migāra đang ăn một món cháo thật bổ dưỡng nấu bằng gạo trộn mật ong, đựng trong bát bằng vàng. Một thầy tỳ khưu đến trước nhà trì bình khất thực. Visākhā đang hầu quạt cha chồng nên đứng qua một bên cho ông thấy rõ vị sa môn mà phát tâm sớt bát. Nhưng Migāra giả vờ không thấy và vẫn tiếp tục ăn.
Visākhā bèn nói với vị sa môn: “Bạch ngài, xin hãy đến nơi khác hóa duyên. Cha chồng tôi đang ăn cơm nguội!”
Người cha chồng, Migāra, rất giận dữ khi nghe những lời mà ông xem như sỉ nhục này, muốn đuổi cô ra khỏi nhà ngay Ông bèn mời tám vị cố vấn để phàn nàn về người con dâu.
Visākhā giải thích rằng tất cả những phước báu mà ta được thọ hưởng hôm nay đều là quả lành của những thiện nghiệp trong quá khứ, cũng như ăn thức ăn cũ mà thôi; không cúng dường chư tăng là không tạo nên công đức mới cho quả lành mai hậu. Nghe những lời này, các vị cố vấn kết luận rằng thái độ của cô không có gì sai quấy.
Mà cái đó trong thập thiện lực, tức là trí tuệ của Đức Phật có 10 lực, thì Ngài nói truy tìm nghiệp tam thời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Ngài có tam thời nghiệp trí, Ngài biết được lực quá khứ, nghiệp lực hiện tại, nghiệp lực vị lai.
Nếu như ông cha chồng này giàu có thì biết là quá khứ ông có làm phước, mà bây giờ ông không gieo trồng thì trong vị lai ông không có nữa, đó là 3 thời rồi.
Mình học rồi mình áp dụng thì mình có trí tuệ của Đức Phật. Có lần Sư nói mình mượn trí tuệ của Đức Phật, chứ mình không có sẵn, mà mình muốn có thì mình phải áp dụng lời Đức Phật.
Ở đời này người ăn cơm nguội nhiều lắm, nhưng họ không biết là họ đang ăn cơm nguội. Còn người ăn cơm mới thì ít, tại vì họ ít biết để làm phước để có cơm mới ăn.
Đi đến bờ an vui, tức là từ nơi phiền não để đến bờ an vui, mà trong cái đến bờ an vui bỏ phiền não thì mình phải tự giải cứu mình. Mình giải cứu mình được thì mình mới giải thoát được, rồi mình ra khỏi cái phiền não mình tới nơi không còn phiền não nữa.
Nếu mình trong Ba-la-mật (Pārami) mình cũng phải có Thiền An Chỉ Samadhi, và cũng có Thiền Minh Sát Vipassana, và trong cái đó mình tu tập và trong tu tập đó phải có trí tuệ.
Trong Thiền An Chỉ Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, thì không có trí
Trong Thiền Minh Sát Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ, thì có trí (Tuệ)
Thiền sinh hỏi: Thưa Sư, trong Thiền An Chỉ Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, đó là tới Tứ Thiền thì lúc đó là mình tu tiếp nữa là nó có Thắng-trí (abhiññā), thì nó là thắng trí, là Tuệ (Trí) ?
HT trả lời: Muốn có có 5 chi thiền trong Thiền An Chỉ Samādhi là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, mình phải trong Đại Thiện Tương Ưng Trí.
Trong 5 chi thiền Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí. Thì khi tới trạng thái Nhất Thống (Nhất Tâm) là Định, và Định đi xuống tới Tuệ, Đại Thiện Tương Ưng Trí + Tuệ = Thắng-trí (abhiññā)
Mình có nhiều cách để đi tới Đạo Quả, mà tại vì mình không có cái tâm để đi tới Đạo Quả, hay là tầm cầu Đạo Quả, hay là tu tập để được Đạo Quả, mà mình bị nghiệp báo quá khứ lậu hoặc triền cái nó lôi kéo mình.
Ngay cả người xuất gia cũng vậy, họ gột rửa hết rồi, họ cắt ái đi xuất gia, nhưng tới khi vô trong môi trường của Tam Bảo, danh thơm, tiếng tốt, lợi lộc, tất cả những cái nó tới là họ vuột hết. Cái người tu mắc nợ nặng hơn người bên ngoài, tại vì họ thọ ơn của Tam Bảo, người bên ngoài không có mắc nợ, như đồng tiền của ông Sư, hay tài vật Tam Bảo.
Cũng như miếng đất mà không có gieo trồng mà muốn cho người ta dọn dẹp cỏ lác gai góc thì mình thiếu nợ người ta công làm sạch miếng đất. Còn cái miếng đất người ta đã gieo trồng rồi thì người vô muốn lấy những thứ mình gieo trồng và người ta dọn sạch cỏ gai cho mình thì mình không thiếu nợ. Còn cái kia không làm ra mà muốn người ta dọn sạch sẽ miếng đất của mình là mình thiếu nợ.
Thì ngay khi mình đang ở trong trường hợp đầy đủ như vậy mình vẫn còn bị.
Vậy thi khi, trong đời sống hàng ngày mình dùng trí tuệ của Đức Phật Tam Thời Nghiẹp Trí mười Như Lai trí lực (Tathāgatabalañāṇa), hôm nay mình có cái này tức là quá khứ mình có, và nếu hôm nay mình không gieo nữa hay là mình không vun bồi nữa thì ngày mai mình sẽ không có. Kiếp này là quá khứ có, vị lai có là do kiếp này vun bồi. Mình không tự giải cứu thì mình không giải thoát.
Trong Ngũ Ác Ma (pañca-māra) viết lên tờ giấy xem quí Phật tử sợ loại ma nào nhất ? Hay loại ma nào quí Phật tử không dám đối diện nó.
Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:
1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.
2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra) (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.
3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.
4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.
5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.
Khi quí Phật tử nói sợ Ngũ Uẩn Ma thì coi lại phần Māra trong cuốn Chính Thị Kim Sinh.
Ngũ Uẩn Ma; Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, nếu mà nó trơn thì không có gì để là ma, Sắc thân mình mà nó trơn không có cái gì thì không có gì là Māra. Còn nếu như Thọ của mình mà nó trơn, nó không có cái gì thì không có Māra. Tưởng cũng vậy, Hành cũng vậy, Thức cũng vậy.
Ngũ Uẩn Ma là cái bàn, cái ghế, căn nhà, chiếc xe, đồng hồ, vật dụng để nó giống cơm nguội, còn nếu nó tinh khiết thanh tịnh thì đâu có bị.
Bây giờ như Bồ Tát (bậc Giác Hữu Tình) hay Đức Phật, hay các bậc Thánh Nhân, các Ngài không nói Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra) , mà các Ngài nói Phiền Não Ma (Kilesamāra).
Phiền Não Ma (Kilesamāra) xâm nhập vô Pháp Hành nó là ác ma, nó xâm nhập vô trong uẩn làm Thủ Uẩn Ma. Không nói diệt trừ thủ uẩn mà nói diệt trừ phiền não.
Ngũ Uẩn Ma do từ Phiền Não Ma ra. Đối với Đức Phật và các bậc Thánh chỉ diệt trừ phiền não chứ không diệt trừ ngũ uẩn.
Khi mà quí Phật tử nói sợ Ngũ Uẩn Ma là không đúng, Ngũ Uẩn của mình mà ma nhập vô là do phiền não.
Ngũ Uẩn của Đức Phật, Ngũ Uẩn của các bậc Thánh Nhân, Ngũ Uẩn của các người tu tập diệt trừ được phiền não thì Ngũ Uẩn của họ là thanh tịnh thuần tịnh.
Phiền Não sinh ra Ngũ Uẩn, phiền não tái sinh ra Ngũ Uẩn. Mình bỏ kiếp này này mà phiền não còn thì tái sinh ra một Ngũ Uẩn khác.
Cho dù quí Phật tử không có ngũ uẩn thì vẫn có nghiệp hữu trong thế gian và đi đến đâu nó cũng xâm nhập tấn công mình, ngũ uẩn này hay ngũ uẩn kia cũng vậy, nó nằm trong lưới của phiền não.
Bây giờ mình mới hiểu được, thì khi mình hành Ba-la-mật (Pārami) với 2 vế Sát Trừ Phiền Não và thành tựu Ba-la-mật (Pārami) thì quí Phật tử mình phải Sát Trừ Phiền Não này với pháp Ba-la-mật (Pārami) để Sát Trừ Phiền Não mà mình đang có, và không nói một chiều được. Một là tài vật, hai là tinh thần, ba là vừa vật chất vừa tinh thần với đối tượng đó và chính mình cũng là đối tượng đó, mình phải biết, mình phải trí tuệ để mình giải quyết, chứ không phải mình nói suông. Cái đó mới là trí.
Trong khi mình đi hành Ba-la-mật (Pārami) mình đi cả 2 luôn vì mình đang tu tập:
- Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm
Bhāvanā
- Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ
thì 5 chi Thiền này của Thiền An Chỉ để hành Ba-la-mật (Pārami) thì sẽ thấy Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm với cảnh là đối tượng mình hành Ba-la-mật (Pārami) này với Tâm Đại Thiện Tương Ưng Trí, sau đó mình mới nghiệm cái pháp Ba-la-mật (Pārami) mình đang hành đó mình an trú cái pháp hành mình đang có rồi Trí Tuệ này mới ra để mình mới giải quyết được Đạo Quả Giải Thoát.
Vậy thì người ta hỏi người đang hành thiền An Chỉ Samādhi có trí tuệ không ?
Trả lời là có.
Trí Tuệ nằm ở đâu ? Nằm ở Đại Thiện Tương Ưng Trí.
Đại Thiện Tương Ưng Trí đi vô tới phần Thiền Minh Sát tới Thắng Trí.
Tuệ thứ 1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc
Niệm Danh / Sắc
Định Danh / Sắc
Tuệ Danh / Sắc
Tuệ này là quí Phật tử đang hành Minh Sát Trí Vipassanā, đó là quí Phật tử đang đi Vipassanā có 3 chi thiền là; Niệm, Định, Tuệ, thì dĩ nhiên là quí Phật tử có áp dụng Samādhi có 5 chi thiền là; Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm vô trong Vipassanā.
Rồi bây giờ mình quay ngược vấn đề, với một Minh Sát Trí mà quí Phật tử đi vào trong con đường hành Ba-la-mật (Pārami) thì đi bằng cái nào?
Tôi tu Ba-la-mật (Pārami) với Minh Sát Trí Vipassanā thì đi bằng cái nào ?
Bây giờ mình áp dụng phương pháp này tu Ba-la-mật (Pārami)
Vậy thì khi quí Phật tử đi Minh Sát Trí Vipassanā mà đang hành Ba-la-mật (Pārami) trên Vipassanā . Vipassanā trở thành cảnh hay là đối tượng cho mình để mình hành.
Tuệ thứ nhất Phân Biệt Danh Sắc Ba-la-mật (Pārami)
Ở đây mình không nói Chế Định, mình nói về Siêu Lý.
Tuệ thứ 1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc
Niệm Danh : Tôi / Ta / Sinh / Diệt (Thọ, Tưởng, Hành, Thức)
Sắc: Tôi / Ta / Hoại Diệt
Định Danh /
Sắc
Tuệ Danh /
Sắc
Thì cái phiền não của Danh mà mình niệm ra được là cái gì mình mới thấy được là cái gì? cái Tôi / Ta / Sinh / Diệt, là cái nào ?
Tuệ Phân Biệt Danh Sắc khi mình tìm ra được nó thì mình mới phân biệt được 2 thành phần trong con người mình và mình không còn lầm nữa
Thì đầu tiên là bấy lâu nay nếu mình hành Ba-la-mật (Pārami) cho tuệ thứ nhất này thì Danh này đó là một cái phiền não là vì mình hiểu lầm có tôi, ta của mình trong đây.
Cái phiền não Danh mà mình niệm được để mà phân biệt được nó hiển lộ từ nơi trạng thái "Tôi, Ta" chứ không phải Sinh Diệt. Sinh Diệt không có phiền não, mà cái "Tôi, Ta" mới là cái phiền não, và mình phải tu Ba-la-mật (Pārami).
Vậy thì khi quí Phật tử niệm được "Tôi, Ta" trong cái Danh này thì mình mới hành Ba-la-mật (Pārami) được, rồi mới giải cứu thì mới giải thoát.
Danh --> Thọ, Tưởng, Hành, Thức
Sắc --> Tôi, Ta, Hoại, Diệt.
Sắc này giờ mình tìm ra được là nó phiền não, cũng vậy sắc này là "Tôi, Ta" thôi. Nó không nằm trong Pháp Thực Tính thì mình hành Ba-la-mật (Pārami) .
Nếu quí Phật tử không tìm ra được cái đó trong cái niệm này là quí Phật tử niệm Minh Sát Tuệ thôi, niệm trong cái suông thôi. Chứ mà bây giờ niệm mỗi một cái tuệ thứ nhất nó có một cái phiền não của nó thì cái đó hành Ba-la-mật (Pārami) để giải cứu nó, giải thoát cái phiền não đó thì qua cái Ba-la-mật (Pārami) trong cái Minh Sát Trí.
Như thế thì nói lại, bấy lâu nay nếu mình hành Minh Sát Trí là mình có được Minh Sát Trí. Nhưng nếu hành Ba-la-mật (Pārami) thì mình chưa, mình đi con đường Minh Sát Trí thôi, biết phân biệt Danh Sắc nhưng chưa diệt phiền não. Phiền não vẫn còn và con đường Minh Sát Trí chỉ có Tuệ biết thôi chứ giải thoát hay giải cứu mình chưa có.
Giống như người học sinh vô lớp học thi cử đỗ đạt thì là người học thức chứ chưa phải là họ giải thoát được cái phiền não trong cuộc đời. Còn khi họ học xong rồi ra đời thì có thêm những chuyện phiền não khác họ không thấy, họ lấy cái kiến thức của họ che lấp đi và họ sống trong cái nghề của họ để sống cho qua ngày tháng.
Ngay cả các nhà Sư xuất gia cũng vậy, học xong rồi, có kiến thức rồi đi thuyết giảng, nhưng họ không có trong giải cức giải thoát, cái phiền não của họ thì họ trở thành một người pháp sư giảng sư giỏi lắm, nhưng mà trở về chính mình phiền não vẫn còn, tức là chưa có kết quả của Ba-la-mật (Pārami) và con đường đó còn luân hồi.
Thì khi tuệ thứ nhất mà mình phân biệt được Danh và Sắc, hay mình nói theo kiểu chế định là tinh thần và thể xác nó chỉ là một ổ phiền não "Tôi, Ta" thôi thì mình đi Ba-la-mật (Pārami), khi mình áp dụng cái đó với phương pháp của Thiền Minh Sát Trí mà mình đi Ba-la-mật (Pārami) này thì mình được Ba-la-mật (Pārami) vượt qua từng giai đoạn của Minh Sát Trí, thì mình đi tới đường Đạo Quả đó mới có kết quả.
Mình đi như vậy mới ra được Đạo Quả, Thuận Tùng (anuloma) , Cận Hành (upacāra), Chuyển Tộc (Gotrabhū), Đạo (Magga) và Quả (Phala) nó mới có.
Còn kia mình đi tới Hành Xả Trí (Saṅkhārupekkhā ñāṇa) cái mình trở lại, không đi qua được, vì không có sát trừ phiền não nên không đi qua được.
---------------------------------------------
MƯỜI SÁU TUỆ MINH SÁT - 16 Tuệ Minh Sát (Vipassanāñāṇa)
Tuệ thứ 1. Nāmarūpapariccheda ñāṇa: Tuệ phân biệt danh-sắc.
Tuệ thứ 2. Paccayapariggaha ñāṇa: Tuệ nhận biết nhân của mỗi sắc pháp và danh pháp cùng sự tương duyên giữa hai pháp.Tuệ phân biệt nhân duyên.
Tuệ thứ 3. Sammasana ñāṇa: Tuệ thấu đạt, nhận thức danh-sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā). (Phổ Thông Trí)
Tuệ thứ 4. Udayabbaya ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). Tuệ sanh diệt.
Tuệ thứ 5. Bhaṅga ñāṇa: Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc. Tuệ diệt.
Tuệ thứ 6. Bhaya ñāṇa: Tuệ kinh sợ.
Tuệ thứ 7. Ādīnava ñāṇa: Tuệ quán chiếu hiểm họa, tức quán chiếu trạng thái nguy hiểm của các hành. Quá Hoạn Trí, Bố úy trí: Cái trí thấy được sự đáng sợ của các hành. Khi hành giả tu tập về quán diệt sung mãn, sẽ thấy tính chất của các hành thật khủng khiếp, khi y muốn sống yên ổn.
Tuệ thứ 8. Nibbidā ñāṇa: Tuệ quán chiếu tình trạng chán nản. Quyết Ly Trí
Tuê thứ 9. Muñcitukamyatā ñāṇa: Tuệ muốn giải thoát. Dục Thoát Trí
Tuệ thứ 10. Saṅkhārupekkhā ñāṇa: Tuệ xả hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các hành. Hành Xả Trí
Tuệ thứ 11. Paṭisaṅkhā ñāṇa: Tuệ suy tư
Tuệ thứ 12. Saccānulomika ñāṇa: Tuệ thuận thứ (thuận theo thực tế, tức thuận theo Tứ Diệu Ðế).
Tuệ thứ 13. Gotrabhū ñāṇa: Tuệ chuyển tánh, vào lúc "chuyển thay dòng dõi" (tức từ phàm trở nên Thánh).
Tuệ thứ 14. Magga ñāṇa: Ðạo tuệ.
Tuệ thứ 15. Phala ñāṇa: Quả tuệ.
Tuệ thứ 16. Paccavekkhaṇa ñāṇa: Tuệ ôn duyệt.
--------------------------------------------
Khi mình tu Minh Sát Trí, Sư thường hay nói là mình hành Đạo hay hành Thiền. Nếu mình hành Đạo, mình áp dụng Ba-la-mật (Pārami) thì mình nhìn thấy Danh và Sắc trong phân biệt này chỉ là một sự phiền não thôi, và mình phải giải cứu cái này và mình phải giải thoát nó, và mình không có lập lại.
Thiền sinh hỏi: Lúc mình hành Minh Sát Trí Vipassana thì dĩ nhiên mình cũng phối hợp giữa cái Ba-la-mật (Pārami) ở trong đó rồi ?
HT trả lời: Chưa, mình thường thường nặng về vấn để tìm ra được Danh Sắc "tôi phát hiện được danh, tôi phát hiện được sắc" chứ mình không để ý tới phiền não ở trong đó.
Thiền sinh hỏi tiếp: Khi có Niệm có Định có Tuệ rồi thì có Chánh Kiến. Khi có Chánh Kiến rồi thì thấy Tập Đế và Khổ Đế, mà khi thấy được Tập Đế và Khổ Đế là mình phân biệt được "Tôi, Ta" là phiền não, ngay khi đó mình đi ra mình mới là áp dụng Ba-la-mật (Pārami) là Bố Thí Ba-la-mật (Pārami) hay Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) , Trí Tuệ Ba-la-mật (Pārami) thì lúc đó mình đi luôn, chứ thật sự cái này khỏi cần phải đi từng đoạn từng đoạn.
HT trả lời: Khi mà cô nói cái đó là cô có hướng nhìn. Hồi trước tới giờ mình không biết con người có 2 thành phần tinh thần và thể xác, hay danh từ Siêu Lý là Danh và Sắc, giờ mình tìm ra được.
Hít vô là Sắc, mà biết hít vô là Danh.
Biết chân dở là Danh, chân dở là Sắc.
Đó là phân biệt Danh Sắc, bắt đầu mình khắn khích cái đó, chứ mình không thấy đó là phiền não.
Rồi bắt đầu mình tìm cái nhân sanh ra Danh Sắc, đó là tuệ thứ hai
Tuệ thứ 2. Paccayapariggaha ñāṇa: Tuệ nhận biết nhân của mỗi sắc pháp và danh pháp cùng sự tương duyên giữa hai pháp.Tuệ phân biệt nhân duyên.
Rồi tuệ thứ 3, tu một thời gian mình thấy nó. Nó có Sanh Diệt thì mình thấy Tam Tướng, chứ mình không thấy nó phiền não, mình không thấy mình đang hành Ba-la-mật (Pārami)
Tuệ thứ 3. Sammasana ñāṇa: Tuệ thấu đạt, nhận thức danh-sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā). (Phổ Thông Trí)
Nếu mình trở lại là khi mình có Chánh Kiến, mình thấy được 2 vế là Tập Đế và Khổ Đế. Trong Tập Đế nó là phiền não, trong Khổ Đế đó là rừng phiền não, Nibbana là không có phiền não. Mình có Chánh Kiến, mình thấy được 2 vế là Tập Đế và Khổ Đế, nhưng mình không thấy nó là phiền não.
Chính cái đó giờ mình tu lại. Chỉ cần một sát na hay một pháp hành, chỉ là một lần mình tìm ra được, tôi hành Ba-la-mật (Pārami) chính xác với 2 vế tôi phải giải cứu phiền não này, tôi giải thoát khỏi phiền não này trong phần Danh và Sắc mà tôi phân biệt được trong con người tôi rõ như vậy.
Thiền sinh hỏi: Mình nói trong Danh có phiền não, trong Sắc có phiền não, vậy phiền não trong Danh là cái gì ?
HT trả lời: Phiền não trong Danh là Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Phiền não trong Sắc là Sắc Uẩn. Mình nói theo Siêu Lý, cái đó là một rừng phiền não.
Bây giờ mình nói Tứ Xuất Sinh Xứ của Sắc (Catusamuṭṭhànikarùpa) là Nghiệp Lực, Tâm Thức, Vật Thực, Qúy Tiết, cũng là một phiền não.
Tứ Nhân Sanh Tâm, Tứ Nhân Sanh Danh là nghiệp quá hhứ, cảnh, căn và hành sự tác ý, cũng là phiền não.
Thế thì khi mà mình lấy được Chánh Kiến mà 2 vế thấy được cái hướng đi là Tập Đế là phiền não, Khổ Đế là một rừng phiền não thì mình mới có ly tham, ly sân, ly oan trái trong Danh Sắc này mình mới có Chánh Tư Duy, còn ngoài ra mình nói lý thuyết suông.
Ly tham cái gì, nếu mà ngũ uẩn thường không có phiền não không có bất tịnh thì mình đâu cần ly, mà thật ra mình không có thuần, mình phải tu tập, mà chễnh mãng việc tu tập, ngừng trong tu tập, không tinh tấn trong tu tập là phiền não sinh lên. Nên nếu mình tu tập mà không có Ba-la-mật (Pārami) thì mình không giải cứu và mình cứ tiếp tục đè phiền não rồi phiền não mọc lên lại.
Tại sao mà Thắng-trí (abhiññā), tâm Đại Thiện Tương Ưng kết hợp với Minh Sát Trí, thấy được Thực Tinh, Thực Tướng thì mới là Thắng-trí (abhiññā). Còn cái kia mới là tuệ ñāna thôi như Đại Thiện Tương Ưng Trí thôi với 5 chi thiền. Quan sát với cảnh, hoan hỉ với cảnh, an vui với cảnh và nhiếp tâm với cảnh, chỉ vậy thôi, mình với trí mình làm vậy thôi chứ không abhi.
(Abhi nghĩa là vi tế hoặc thâm diệu),
Nhưng khi mà abhi đi Ba-la-mật (Pārami) với Minh Sát Trí, vừa diệt trừ phiền não, vừa giải thoát chính mình, nên mới có câu là giải thoát tri kiến.
Có Chánh Kiến thấy được 2 vế mới giải được, có Chánh Tư Duy mới ly tham, ly sân, ly oán hận. Chứ ly tham không có suông như vậy được, phải ly tham trong các phiền não, ly sân trong các phiền não, ly oán hận trong oan trái phiền não, chứ không phải không có đối tượng, trong tư duy này.
Do đó, mình phải nghiệm lại qua tới phần định mà thấy được Danh, thấy được Sắc thì cô mới thấy mới sợ. Qua tới phần tuệ, trong Danh và Sắc mà mình đi tiếp Ba-la-mật (Pārami) mình mới thấy rõ, Sư chưa nói tới.
Do đó, khi mình niệm được Danh và Sắc trong tuệ thứ nhất Tuệ Phân Biệt thì mình có Ba-la-mật (Pārami) liền trong đó là mình thấy đây là Danh Sắc phiền não thì mình phải giải cứu,
- Bước thứ hai mình định vô Ba-la-mật (Pārami) chứ không phải mình định vô trong phần Danh Sắc.
- Bước thứ ba, cái tuệ vô trong phần Ba-la-mật (Pārami) của mình định của Danh Sắc mình mới ra được.
Khi mình qua cái niệm liền là mình đã có Ba-la-mật (Pārami) thì cái định tiếp của Danh Sắc này là phiền não không phài, thì đi Ba-la-mật (Pārami) tiếp, thì cái tuệ đi tiếp là Đạo Quả.
Cái tuệ thứ hai mình tìm được cái nhân và cái quả. Tuệ thứ ba là vô Tam Tướng liền. Nếu đi Minh Sát Trí liền, không phải như vậy, đó là công thức thôi, nhưng nếu đi Ba-la-mật (Pārami) mình mới thấy được tam tướng, chứ còn nếu đi Minh Sát Trí là mình chỉ thấy Pháp thôi, lấy thực tính thực tướng suông thôi chứ không có Ba-la-mật (Pārami) .
Nếu như người đắc được tuệ thứ ba là Phổ Thông Trí; Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, họ có giải thoát nếu họ thấy được tam tướng, đó là một, thứ hai là trong đời sống hàng ngày họ còn tái phạm lại những cái gì mà không phải là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã mà họ vẫn còn bị tái phạm trong cái phiền não này.
Cũng giống như xả thí Ba-la-mật (Pārami) với xả thí thường. Xả thí thường thì không diệt được bỏn xẻn, hay không diệt được phiền não. Thì khi vẫn xả thí các phiền não vẫn còn. Nhưng nếu xả thí có Ba-la-mật (Pārami) thì cái xả thí này kết hợp với phiền não này thì một lần xả thí những lần sau thì không có cái nào mà phiền não tấn công được việc xả thí này, mình đi tới được.
Thì câu đó cho mình ra được câu trả lời giải quyết được người đạt được tam tướng Phổ Thông Trí mà không có Ba-la-mật (Pārami) người đó chỉ đi công thức thôi, họ chưa giải thoát, họ thấy Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, nhưng ra khỏi Minh Sát Trí này, ra khỏi pháp tu này, qua khỏi niệm hiện tại này, họ trở lại vẫn còn cái phiền não đó không ra, thì làm sao đi tới Sinh Diệt, tới Hoại Diệt, Yểm Ly, Dục Thoát
Do đó, một câu hỏi cho một câu trả lời, mình mới thấy được sự tu tập của mình và mình biết là mình đang đi trên con đường nào cho mình thấy tu tập con đường đó.
Khi đi tới Tuệ Phân Biệt Danh Sắc. Danh đó thuộc về vật chất hay là Danh thuộc về tinh thần. Danh đó phiền não thuộc về vật chất hay là tinh thần. Cả 3 cái đó mình phải tìm ra được.
Sắc đó là phiền não đó nó thuộc về vật chất, hay thuộc về tinh thần, hay là cả hai vật chất và tinh thần trong cái Sắc đó. Như có người cho nhưng không cần về tinh thần, có người không cần vật chất mà họ cần tinh thần thôi.
Thì khi phân biệt được Danh và Sắc mình đây là một cái phiền não thì bắt đầu mình đi Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) trong tuệ thứ nhất. Tuệ Phân Biệt Danh Sắc đi Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) thì lúc đó Danh mà mình đang Xả Thí Ba-la-mật (Pārami) với cái Danh phiền não này là tinh thần hay là vật chất ?
Cái Sắc mà phiền não mình đang phát hiện được trong phần phân biệt Danh Sắc nó là vật chất hay tinh thần, hay là vừa vật chất và tinh thần ?
Không trả lời được vì mình chưa có trải nghiệm.
Thì Sư trả lời là. Khi quí Phật tử đi tới phần tuệ Phân Biệt Danh và Sắc với Ba-la-mật (Pārami) xả thí chứ chưa nói tới 10 Ba-la-mật (Pārami) , nếu nói tới 10 Ba-la-mật (Pārami) thì sẽ thấy thù thắng lắm.
Thì khi Danh này là phiền não mà mình đang hành để giải cứu nó thì nó chỉ thuần túy là vật chất thôi, nó không có tinh thần trong đó, mà đem tinh thần vô giải đáp nó là chỉ có một cái lý giải của kiết sử, nó không có Ba-la-mật (Pārami) , đó Danh nó chỉ là vậy mình biết rồi, không nói tới nó nữa, mình nhìn thấy nó là mình phiền não là mình tránh thôi, nó đã trả lời cho mình là phiền não rồi nó không có gì để mà nói tới nó, mà ngồi xuống để giải thích nó nữa, nó thấy ra nguyên khối rắn chắc, trong Thọ, Tưởng, Hành, Thức này nó chỉ là những phiền não, cũng như Sắc phiền não này nó cũng là vậy thôi, mình không có giải thích. Cái người mà ngồi mà giải thích đó là cái người đó phải bậc Chánh Đẳng Giác thấy rồi là giải thoát, thấy rồi là giải cứu, mình không có đi về mặt tinh thần nữa, mình lấy vật chất mình đi, vừa thấy vật, vừa thấy danh là đi liền, thấy sắc phiền não là đi liền, đó chỉ là vật chất thôi. Mà đã vật chất nó là vô tri vô giác, không giải thích được.
Thì khi thấy Danh là phiền não, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này coi nó là một phiền não thì nó là vô tri rồi. Mà ngồi xuống giải thích nó, nó giải thích hơn mình, và mình không có kết quả trong cái tu này.
Do đó, Chánh Tư Duy, khi thấy Chánh Kiến, Khổ Đế, Tập Đế, Chánh Tư Duy là ly tham chứ không diệt tham, ly sân chứ không diệt sân. Mình đọc kỹ từ ngữ đó mình mới thấy là nó là vật chất thôi. Nếu nói diệt là phải nói về tinh thần, gặp nó là ly, không có gì để nói nữa, nó còn biết mà nói thì mình có tinh thần để mà nói, còn nó không biết để nói nữa, và nó không cần để mà nói nữa, thì mình chỉ thấy nó là vật chất thôi, mình đi tránh nó.
Nên khi Đức Phật Ngài thấy được Bệnh, Lão, Tử, Tăng, thì Ngài thấy được là Sinh, Già, Bệnh, Chết, và Níp-bàn, ly chứ không diệt, Ngài không có qua khỏi Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, nhưng Ngài ly khỏi Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã và không tái sinh lại.
Từ đó quí Phật tử mới có Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định, dùng Ba-la-mật (Pārami) để mà đi, chứ không phải Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định trong pháp hành mà mình có để mà mình hành tiếp.
Ly chứ không diệt và không tái lập lại nữa, không tái sinh lại nữa, và tôi không có trở lại nữa, và tôi không muốn chuyện đó lập đi lập lại nữa. Nó là phiền não, mình ly từ Ý. Từ Ý nó ra Ngữ.
Nên quí Phật tử phải hiểu Chánh Tư Duy với Ba-la-mật (Pārami) là ly chứ không diệt.
Chánh Kiến với Ba-la-mật (Pārami) thì thấy Danh và Sắc này là Tập Đế và Khổ Đế.
Chánh Kiến có Ba-la-mật (Pārami) thì lấy Danh và Sắc này là Tập Đế và Khổ Đế.
Chánh Tư Duy có Ba-la-mật (Pārami) lấy Danh và Sắc này phải ly tham, ly sân, ly oán hận chứ không diệt.
Khi mà ly tham, ly sân, ly oán hận, tham nó không có sự sống. Quí Phật tử ở trong đó tham mới có sự sống, ly tham không có sự sống, ly sân thì sân không có sự sống, ly tức là mình không để ý tới nó, không quan tâm tới nó, thì sự sống đó, sự đang có nó bắt đầu mất dần.
Cái tham nếu còn để ý tới nó là nó còn lên xuống, còn không để ý tới tham mà chỉ tập trung Ba-la-mật (Pārami) toàn thiện thì tham không có cơ hội để sống, sân không có cơ hội để sống.
Ngày nào mà không để ý tới tham, là quí Phật tử đang ly tham, thì cái tham đó không có mạng sống. Ngày nào không để ý tới Sân thì quí Phật tử đang ly Sân, thì Sân không có mạng sống.
Còn để ý tới nó, dù là để diệt nó hay làm giảm nó thì nó có sự sống và nó có lời lý giải của nó với mình, mình không đủ sức để lý giải nó.
chữ Ly với chữ Diệt, hiểu là chữ Ly là mình rời nó, không để ý tới nó. Còn chữ Diệt là mình còn dính mắt tới nói, mình đối diện với nó là một thắng hai thua và nó có thể có còn trở lại, nếu nó thắng mình thì nó trở lại, nếu nó không thắng mình thì nó mất./.
-----------------------------------------
Notes: Từ Internet
Dứt Bỏ (cāga). Chữ pariccāga = pari+ cāga;
pari là trọn vẹn,
cāga là lìa bỏ, bỏ đi.
Chữ pariccāga là phóng khí, theo nguyên ngữ là "buông bỏ trọn vẹn"
-----------------------------------
Mười trí lực (Dasabalañāṇa), hay mười Như Lai trí lực (Tathāgatabalañāṇa):
1. Trí hiểu nguyên lý và phi nguyên lý (Ṭhānāṭhānañāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự kiện, cái gì có thể xảy ra và cái gì không thể xảy ra.
2. Trí biết quả nghiệp (Kammavipākañāṇa), đức Như Lai biết rõ các hạnh nghiệp của chúng sanh, thiện ác dẫn đến quả dị thục tốt xấu ra sao? Quả trổ mức độ như thế nào?
3. Trí biết đạo lộ mọi sanh thú (Sabbatthagāminīpaṭipadāñāṇa), đức Như Lai biết rõ các sự thực hành là con đường dẫn đến tái sanh trong những cõi vui và cõi khổ, biết rõ hành động đưa đến lợi ích hiện tại, lợi ích tương lai và lợi ích tối thượng.
4. Trí biết bản chất dị biệt (Nānādhātuñāṇa), đức Như Lai biết rõ thế gian có bản chất đa dạng như uẩn sai biệt, xứ sai biệt, và giới sai biệt.
5. Trí biết khuynh hướng dị biệt (Nānādhimuttikañāṇa), đức Như Lai biết rõ sự khác biệt khuynh hướng của chúng sanh, có chúng sanh khuynh hướng hạ liệt, có chúng sanh khuynh hướng cao thượng, chúng sanh đồng khuynh hướng sẽ thuận dòng với nhau, hạ liệt thân cận hạ liệt, cao thượng thân cận cao thượng, dù ở quá khứ hay hiện tại cũng vậy.
6. Trí biết thượng hạ căn (Indriyaparopariyattañāṇa), đức Như Lai biết rõ căn cơ cao thấp của chúng sanh, biết rõ chúng sanh có kiến chấp như vậy tiềm miên như vậy, sở hành như vậy, có căn trì độn, có căn lanh lợi, có tính khó dạy, có tính dễ dạy, có khả năng giác ngộ hay không thể giác ngộ.
7. Trí biết sự nhiễm-tịnh-ly của thiền định (Jhānādisaṅkilesādiñāṇa), đức Như Lai biết rõ sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất ly của thiền định, nhập định và sự giải thoát.
8. Trí biết tiền kiếp (Pubbenivāsānussatiñāṇa), đức Như Lai có trí nhớ chính xác và nhớ nhiều về các kiếp sống quá khứ, từng nét đại cương và chi tiết đa dạng.
9. Trí biết sự sanh tử (Cutūpapātañāṇa), đức Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân ngài thấy rõ sự sống chết của chúng sanh; biết chúng sanh này sanh đến chỗ hèn hạ hoặc cao sang, xấu xí hay xinh đẹp, hạnh phúc hay đau khổ, là do hạnh nghiệp như vậy. Chúng sanh đi đến tùy theo nghiệp.
10. Trí đoạn lậu (Āsavakkhayañāṇa), đức Như Lai tự mình thắng tri vô lậu tâm giải thoát, đoạn tận các lậu hoặc. Ngài biết rõ sự đoạn diệt hoàn toàn các lậu hoặc như vậy.
M.I.69; A.V.33; Vbh.336.
-------------------------------
309] Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:
1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.
2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.
3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.
4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.
5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.