Thursday, February 11, 2021

Hỏi: Lòng đại bi và đại trí, làm sao có thể hợp nhất trong tâm bậc thánh giải thoát

 Hỏi: Dự nhất quán giữa lòng đại bi và đại trí,  nhìn chúng sanh làm đối tượng,  nhìn của đại trí là vạn pháp như huyễn, hai cái nhìn đó làm sao có thể hợp nhất ở trong một tâm hồn của bậc thánh giải thoát, khi các Ngài sống với cả hai quan niệm hầu như hoàn toàn trái ngược với nhau như vậy.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Nguyên giảng: Theo chỗ suy tư  của chúng tôi,  có lẽ một trong những nét đặc biệt nhất, chữ đặc biệt vẫn chưa đủ mà phải dùng chữ độc đáo thì đúng hơn của Ðạo Phật là chỗ gặp nhau ở bi và trí.

Vì thời gian có hạn chúng tôi chỉ xin trình bày ngắn gọn thôi. Ở trong cái nhìn của Ðạo Phật nói chung và suy tư của bậc thánh nói riêng, theo trong kinh điển thì rõ ràng vạn pháp vốn chỉ tồn tại trong từng sát na một, qua hình thức tiếp nối với nhau bằng sự tác động của vô số nhân duyên, và mỗi thứ như : vạn pháp hữu vi như huyễn, như mộng, như bào ảnh. Thì cái nhìn trí tuệ này hoàn toàn không có gì là mâu thuẫn, đối lập lại với cái nhìn hiếu sinh, hay đức từ bi của người tu hành cả.

Bởi vì chúng ta suy cho cùng chính vì thấy rõ được thọ mạng của muôn loài vốn mong manh, càng thấy nó mong manh thì mình càng có cơ hội đễ phát khởi bi tâm hơn. Bởi vì chúng ta cũng thấy rằng đối với một người có nếp sống bình tỉnh chúng ta sẽ thấy rằng, chúng ta càng phải thương yêu nhau nhiều hơn khi cơ hội tương phùng tái ngộ giữa người và người, giữa chúng sanh và chúng sanh rất là hiếm hoi.

Chúng ta còn nhớ một nhà thơ Thanh Tâm Tuyền có một câu nghe rất là thế tục, nhưng nó rất Phật Giáo đó là “Ôm em trong tay hôm nay mà nhớ em ngày sau”. Có nghĩa là chúng ta có nhau bây giờ đó, nhưng mai mốt đây, một phút sắp tới nữa đây chúng ta không còn nhau nữa.

Như vậy thì càng hiểu được vạn pháp là mong manh, chúng ta phải trân quí sự tồn tại, sự tương phùng, sự tao ngộ, sự gần gủi, sự thân thiết với nhau hơn, cho dù đó là con ong cái kiến, một cành hoa, một cọng cỏ đi nữa thì mỗi thứ nó tồn tại ở trên đời này nó chỉ là một nhân duyên, hoặc do một số nhân duyên tác động nào đó, rồi từ đó chúng ta chia tay nhau mà đi, và chúng ta cũng nhớ rằng tất cả giây phút trong cuộc đời này, đều là những giây phút sau cùng cả, cho dù hiện giờ chúng tôi đang nói chuyện và tất cả đại chúng đương nghe, thì đây rõ ràng là những câu nói sau cùng của chúng tôi và những gì quí vị đương nghe chúng tôi là những lần lắng nghe sau cùng.

Tại sao nói như vậy, tại vì hiện giờ tính theo giờ Florida, chúng tôi  đang nói theo giờ Florida, bây giờ là 9:30 buổi sáng, mai này quí vị có nghe tiếng nói của chúng tôi vào 9:30 sáng. 9:30 sáng đó là 9:30 sáng của ngày khác, một đêm khác, của một năm khác, của một tháng khác, của một kiếp sống khác, do đó chỉ có một lần chúng ta gặp ngay trong đời mà thôi.

Trong một bài thơ đạo chúng tôi có viết một câu: "Nghe sanh tử đi qua từng hơi thở, một lần đi sẽ mãi mãi không về". Nếu đối với hành giả tu theo tứ niệm xứ thì chúng ta thấm thía hơn bao giờ hết tâm niệm này, bất cứ hơi thở nào, dầu dài, ngắn, vào ra, thở bằng thiện tâm hay bằng ác ý, thì hơi thở đó chỉ một lần đi đến với chúng ta rồi nó qua mất không bao giờ trở lại nữa, cơ hội tương phùng trong đời này không còn nữa.

Trong tự điển của Phật Giáo Nam Tông, trong tinh thần A Tỳ Ðàm, không bao giờ có chữ tái ngộ. Mà nếu thấy rằng không bao giờ có tái ngộ, không bao giờ có sự tương phùng, thì làm sao chúng ta lại không thương yêu nhau nhiều hơn. Mà yêu thương đó là cách gọi rất thế tục, còn cách gọi của Phật học đó là lòng từ bi, đó là đức hiếu sinh. Cho nên càng hiểu cuộc đời là huyễn hóa, càng hiểu cuộc đời là khói sương, thì chúng ta càng phải nuôi dưỡng, càng phải hàm dưỡng lòng hiếu sinh nhiều hơn nữa.

Vì xưa nay chúng ta thường quen không nghĩ nhiều về người khác, bởi vì chúng ta nghĩ về mình quá nhiều, chúng ta còn có một hoài vọng rất trẻ con, rất thơ ngây,về những cuộc tương phùng, những cuộc tái ngộ, nếu chúng ta biết rằng những chuyện tương phùng hay tái ngộ đó không có, thì chúng ta phải thương nhau nhiều hơn.

Cho nên cái nhìn bi và cái nhìn bằng trí của Đạo Phật là hai cái nhìn bổ sung cho nhau một cách rất mật thiết, rất cần thiết cho nên, theo chỗ chúng tôi nghĩ, là chúng ta càng thấy được sự mong manh của kiếp người thì chúng ta càng có dịp thương nhau.

Thậm trí như Hoà Thượng Nhất Hạnh đã từng gợi ý rằng, chuyện bảo vệ môi trường, bảo vệ môi sinh, bảo vệ từng ngọn cây lá cỏ trên trái đất này, ngoài chuyện lợi ích cho bản thân mình, nó còn là một đóng góp, một cách thể hiện tánh tình của mình đối với chúng sinh, đối với muôn loài và cũng là một cách thể hiện cho cái nhìn đầy trí tuệ của Đạo Phật. 


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật


Wednesday, February 10, 2021

Hỏi: Niệm Phật hoặc tu tịnh khẩu thì có thể chứng đắc đạo quả không? - HT Chí Tâm

 Hỏi: Một người không tu Thiền định, chỉ niệm Phật hoặc tu tịnh khẩu thì có thể chứng đắc đạo quả không?

Minh Hạnh chuyển biên

HT Chí Tâm: Câu trả lời là chỉ duy nhất thiền vipassana nghĩa là thiền quán mới đưa đến đạo quả còn người không tu tập thiền nhưng có niệm Phật và tu tịnh khẩu thì như ở đây chúng ta thấy rằng vấn đề tịnh khẩu không phải là tu, mà người tu là làm như thế nào phải thấy được những sự sanh diệt và chúng ta căn cứ vào đó mới có thể là chúng ta tu.

Còn chúng ta tịnh khẩu, tuy thân khẩu chúng ta không nói nhưng tâm chúng ta bực tức vì ấm ức quá cũng chưa gọi là tu, do đó không hẳn người tịnh khẩu gọi là tu đó là điểm thứ nhất.

Điểm thứ hai chúng ta niệm Phật, thì niệm Phật cũng nằm trong pháp tùy niệm, trong đó có niệm Phật, hay niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, v.v... Thì ở đây niệm Phật chỉ đưa đến cận định chứ chưa đắc chứng được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, nếu nói theo kinh. 

Cho nên niệm Phật chỉ đưa đến tâm định mà thôi chứ chưa gọi là đắc chứng đạo quả, muốn đắc chứng đạo quả người đó phải đầy đủ pháp độ, đó là điều cơ bản thứ nhất.

 Điều cơ bản thứ hai là, người đó phải là người tam nhân. 

Trong Vipassana bài kinh Đại Niệm Xứ đã trình bày cho chúng ta thấy rằng người đầy đủ duyên lành nếu hành đúng theo Tứ Niệm Xứ thì chắc chắn ngay đời sống hiện tại này không cần đâu xa có thể bảy ngày vị ấy có thể chứng đạo quả. Nếu chúng ta không đầy đủ pháp độ, không phải là người tam nhân thì chắc chắn chúng ta hành suốt đời này đời sau và mãi mãi trong sanh tử luân hồi cũng chưa đắc chứng được đạo quả.


Câu trả lời cho câu hỏi này là như vậy.


Namo Buddhaya

Tuesday, February 9, 2021

Hỏi: Làm sao để định nghĩa người bạn lành - HT Chánh Minh giảng

 Hỏi: Làm sao để định nghĩa người bạn lành

Minh Hạnh chuyển biên

HT Chánh Minh : Bạn lành có hai ý nghĩa: một ý nghĩa bạn lành ở cuộc đời và một bạn lành ở nội tại.

Phật trong Trường Bộ kinh, kinh Thầy Giáo Thọ Thi Ca La Việt, Đức Phật định nghĩa, người bạn lành ở cuộc đời là những người có nếp sống đạo đức, tức là thân không rơi vào ác nghiệp, ngữ không rơi vào ác nghiệp. Và đặc biệt người bạn lành khi mình sắp sửa làm việc tội lỗi thì ngăn cản liền. Còn trái lại khi mình làm việc ác bất thiện pháp người bạn đốc xúi mình làm thì người này trên danh nghĩa là bạn nhưng thật sự không phải là bạn.  Trái lại người bạn khi mình sắp sửa vi phạm vào các ác bất thiện pháp nào thì cản ngăn liền đó là người bạn lành. Và đối với người bạn lành khi mình chưa muốn làm việc thiện đã khuyến khích mình làm việc thiện, tán trợ ủng hộ mình thì đó là người bạn lành. Còn nếu như mình chuẩn bị làm việc thiện thì cản ngăn nói này nói kia, thì người này trên danh nghĩa là bạn nhưng thật sự thì không phải là bạn. Đây cũng là lời Đức Phật dạy ở trong bài kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt.

Cho nên cuộc đời chúng ta biết là phải chọn bạn thì chọn những người đạo đức có nếp sống tốt đẹp, còn nếu trên đường đời không gặp những người bạn như vậy chúng ta cũng có những người bạn nhưng chúng ta xem là những người bạn theo tính chất thường tình cuộc đời không giao du thân mật, cũng giao du vậy nếu không thì chúng ta trở thành kẻ cô đơn nhưng chỉ là xã giao.

Chính Đức Phật Ngài dạy:

 "Nếu không gặp bạn đồng hành hiền nhân chân chánh hiểu rành lối đi, am tường thắng phục gian nguy như voi rừng thẳm thà đi một mình" hay là "Như vua bỏ nước phong suy như voi rừng thẳm thà đi một mình" hay là "Thà rằng chiếc bóng độc hành không cùng đứa dại kết phần thâm giao, độc cư chẳng phạm nỗi nào, an nhàn như tượng ra vào rừng sâu." 

Nếu trên đường đời chúng ta không gặp được những người bạn tốt, những người bạn có đạo đức, thì dĩ nhiên trong một cộng đồng chúng ta không thể sống một cách biệt lập, dĩ nhiên phải có giao du,  cũng phải có tiếp xúc, nhưng sự giao du đó sự tiếp xúc đó không phải là cận giao, không phải là thân thiết. Vì trên phương diện xã hội thì phải như vậy, nhưng xem như những người thông thường mà thôi chứ không có chú ý lắm, không có cận giao lắm. Người bạn khi gặp được là người có trí, người sống theo thiện pháp, người có nếp sống đạo đức thì kết giao để học tập những nếp sống đạo đức của người đó.

Nhưng đặc biệt quan trọng nhất là người bạn ở bên trong chúng ta tức là những thiện pháp, những thiện pháp đó chính là người bạn chân tình nhất và những người bạn xấu ở bên trong chúng ta chính là những ác pháp là kẻ tai hại nhất./.

 

Monday, February 8, 2021

Hỏi: Lợi ích của việc tụng Namo tassa bhagavato arahato sammā sambuddhassa - TT Pháp Chất

  Hỏi: Lợi ích của việc tụng Namo tassa bhagavato arahato sammā sambuddhassa 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Pháp Chất: Bài Namo Tassa đọc ba lần, không phải những bài khác không có, chẳng hạn chúng ta thấy bài tam qui "Con đem hết lòng thành kính xin qui y Phật," quy y Phật lần thứ nhì, quy y Phật lần thứ ba, cũng đọc ba lần như vậy. Nói theo lý thông thường cũng giống như chúng ta cột một cái gì đó thì khi cột một gúc chưa chắc, chúng ta phải cột hai gúc, phải cột ba gúc, chúng ta phải cột ba gúc thì mới chắc, theo lý niệm Namo Tassa phải đọc ba lần là như thế.

Còn ba lần tụng đọc Namo Tassa lại có thêm một nghĩa khác nữa,  ở đây, lý về bổ túc cho hành thiền định, cũng giống như chúng ta niệm một lần chưa đủ thì chúng ta phải niệm hai lần, niệm ba lần v.v...

Nhưng trong phần phân tích về lý giải này, chúng tôi thấy trong quyển Tổng Đề Pháp Sư các Ngài giải rằng niệm thứ nhất là đảnh lễ bậc Thượng Tuệ Phật, niệm lần thứ hai là đảnh lễ Thượng Tấn Phật và niệm lần thứ ba là đảnh lễ Thượng Tín Phật, nghĩa là đảnh lễ ba hạng Phật, theo phân tích là vậy thì nghe cũng được.

Nói về sự lợi ích của niệm Namo Tassa, nói theo tục lệ ngày xưa trong các ngành các nghề nào đi nữa, người ta khi muốn được có lợi ích thường thường trước khi làm việc gì đó thì họ cũng phải lễ tổ và, lễ tổ  là người ta có một bài niệm về ân đức của tổ hay cầu xin tổ vấn đề gì đó v.v...

Điều ấy như thế nào, thì nói về sự lợi ích này có bốn điều: Điều thứ nhất là đi theo đường lối của các bậc thánh thiện. Điều thứ hai là nhờ xin uy lực của Đức Phật hộ trì. Điều thứ ba làm cho đời sống có giá trị. Điều thứ tư là đặng thanh lọc tâm, đó là nói theo cái lý đó.

Lý thứ nhất, theo đường lối của bậc thánh thiện, nói chung là bậc thánh thiện nào khi làm những việc gì thì trước hết phải tưởng nhớ đến công ơn của thầy tổ. Chúng ta theo Phật giáo thì trước khi làm một điều gì chúng ta niệm Namo Tassa cũng giống như chúng ta lễ tổ trước rồi làm việc sau. Lễ tổ cũng giống như ở ngoài đời người ta có nghi thức cúng tổ, lạy tổ hay bái tổ, thì tục lệ lạy tổ bái tổ đó cũng giống như chúng ta niệm Namo Tassa để bái tổ, bái tổ ở đây là chúng ta tri ân Đức Phật. Đó là cái điểm thứ nhất là nương theo lý của bậc thánh thiện luôn luôn tri ân thầy tổ, chúng ta theo Phật giáo thì chúng ta cũng tri ân Đức Phật. Thì điều thứ nhất là noi theo đường lối thánh thiện của bậc thánh đó.

Điều thứ hai, nói về cầu xin uy lực của Đức Phật hộ trì, tức là muốn nói rằng khi chúng ta làm một công việc gì e rằng chúng ta có thể bị thất bại hay bị trở ngại, chúng ta niệm Phật như thế này để nhờ uy lực của Đức Phật hộ trì cho chúng ta được hanh thông, nghĩa là trong mọi công việc sẽ khởi lên hay là sẽ xảy ra v.v... Cũng giống như chư tăng khi làm một tăng sự chư tăng cũng phải Namo Tassa v.v... để mong cho lễ đó được thành tựu trọn vẹn. Đó là điều thứ hai.

Điều thứ ba, làm cho đời sống có giá trị, ý muốn nói rằng chúng ta niệm Phật cũng giống như chúng ta làm cho phước sanh ra để đời sống chúng ta càng có nhiều thiện pháp, làm cho đời sống có giá trị, hay cho mạng sống chúng ta còn có cốt lõi. Có cốt lõi tức là có được sự vững chắc. Mạng sống của chúng ta có giá trị tức là muốn nói thiện pháp chúng ta có nhiều chừng nào thì con người chúng ta có giá trị nhiều chừng nấy, sau khi chết thì nhờ phước đó được sanh khởi cho chúng ta trong những đời sau được những địa vị cao sang quyền qúi hay, sanh lên thiện thú thiên giới ở cõi đời này, hoặc là sẽ cho chúng ta đắc chứng đạo quả giải thoát. Đó là điều thứ ba làm cho đời sống có giá trị.

Điều thứ tư, đặng thanh lọc tâm là đương nhiên rồi, nếu chúng ta để cho tâm chúng ta bình thường thì những phiền não có thể xen vào và có thể quấy rối tâm chúng ta, lúc bấy giờ chúng ta niệm Phật lúc nào thì lúc đó chúng ta đang thanh lọc tâm chúng ta lúc đó.

 Đó là nói về bốn cái lợi ích, chúng tôi xin giải thích tóm tắt cho câu hỏi niệm Namo Tassa là như vậy.


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


Sunday, February 7, 2021

Hỏi: Pháp tu tịnh khẩu có là cách tu tốt không? - HT Liễu Tông

 Hỏi: Nếu ai đó làm mình buồn, nếu mình trả lời lại tức là mình sân, còn nếu mình im lặng theo pháp mà người ta gọi là tịnh khẩu, tức là mình không nói năng gì hết thì cách tu đó có thật sự đúng không?

Minh Hạnh chuyển biên

HT Liễu Tông: Xin được đóng góp như vầy:

Hồi xưa trong trường thiền nơi bần đạo ở, có một bà tín nữ người Thái, bà ghen ghê lắm, bà cứ nghĩ chồng mình luôn luôn đi ra ngoài kiếm chuyện này chuyện nọ để làm khổ bà, lần nào ông xuống xe, bà từ trong nhà trên tay bà có cái gì bà liệng vô mình ông cái đó, nhưng ông chồng hiền cứ nhịn hoài. Một ngày nọ không biết bà nghĩ sao bà tới tìm ông Cả, ông Cả là vị Thiền Sư của Sư và kể về chuyện của bà.

Thì ông Thiền Sư mới nói:

"Thôi được rồi, để ta làm nước phép cho đem về."

Ông lấy cái chai múc đầy nước vào chai, rồi ông lấy tay vẽ vẽ ,còn miệng thì niệm niệm gì đó không biết. Rồi ông nói:

"Về nhà, mỗi lần  bà nghe tiếng xe ông về thì hớp một hớp nước này gậm trong miệng, nhưng cấm nhổ ra và cấm nuốt, gậm chừng 15 tới 20 phút rồi mới được đi nhổ."

Bà được chai nước phép bà thích quá xách về. Bà vừa nghe tiếng xe ông chồng thắng cái kẹt, bà chạy vô lấy chai nước gậm một hớp. Thường thường ông chồng biết tánh bà rồi, vì ông ở với bà lâu, ông tới ông quẹo qua quẹo lại lén lén nhìn, sao hôm nay thấy nhà êm re không biết chuyện gì xảy ra, ông lén mở cửa nhè nhẹ ló đầu vào nhìn, mỗi lần thường thường ló đầu vào có gì còn né kịp, nhưng khi ló đầu vào cũng không thấy gì hết, mà thấy bà ngồi đó.

Ông liền hỏi: "Bộ bữa nay không khoẻ sao vậy?"

Bà không trả lời, bởi vì nước thánh trong miệng trả lời là tiêu luôn nên không trả lời, nuốt không được và nhả ra cũng không được.

Ông hỏi: "Ủa sao vậy, hôm nay tịnh khẩu hay sao vậy?"

Bà cũng nhất định không trả lời, bởi vì nếu mở miệng nói thì nước phép chảy ra rất uổng, nước này của ông Cả ông cho, không được lãng phí, bà ngồi bà gậm, cái miệng bà cứ trạo qua trạo lại muốn nói cũng không được, muốn cười cũng không được, làm gì cũng không được, ông chồng thấy vậy rón rén đi vô ngẫm nghĩ không biết hôm nay chuyện gì xảy ra.

Ông nói: "Chắc bữa nay sắp có hoà bình tới nơi sao mà tự nhiên bà không có la hét gì mà ngồi im lìm giống như là tiên nữ trên trời mới xuống."

Ông đi vô tới chừng đúng 15 phút thì bà phun nước ra, thì lúc đó bà hết giận rồi và cũng hết nghĩ ông chồng này nọ, thế là hết giận rồi, xong một ngày khỏe, một ngày hoà bình.

Ngày hôm sau cũng vậy, mỗi ngày  nghe tiếng xe bà lại ngậm nước thánh, bà làm riết chai nước hết nước, thế là bà quên luôn cái chuyện nghĩ ông chồng này kia, ông chồng thấy bà sao kỳ vậy nên ông ráng đi về đúng giờ như bình thường.

Đó là yếu tố tâm lý, cho thấy rằng khi nào mình nhịn được thì nên nhịn, bởi vì mình nhịn mình đừng nghĩ rằng họ khinh thường mình,hay mình không nói ra thì họ nói mình ngu. Thật sự họ nói mình ngu, mình cứ nghĩ mình ngu thì khỏe. Họ chửi mình là con heo con gà thì mình cứ nghĩ mình là con heo con gà thì cho nó khỏe. Lý do tại mình cứ chấp mình là người cao thượng, mình chấp mình là người con rồng cháu tiên. Họ chửi mình đồ con rồng cháu tiên mình không giận. Nhưng đi qua các xứ Nam Phi mấy nước thờ chó, mình chửi họ đồ con chó, họ không giận, mà mình chửi con rồng cháu tiên thì họ giận. Thì những cái đó là những cái chế định, và khi chấp vô thì mình cho mình là như vậy.

Thành ra, khi nào mình nghĩ, khi nào tâm mình là thiện pháp, nếu mình không nói mà tâm mình lúc đó là tâm thiện, lúc đó tâm là tâm từ, lúc đó tâm mình là tâm bi, thì hành động bao giờ cũng tốt. Dầu rằng ai nói gì đi nữa thì hành động cũng là hành động tốt. 

Còn bây giờ mình không nói mà tâm mình hầm hầm, mình làm như mình là người có pháp nhẫn cao thượng, ai nói gì cũng kệ, nhưng trong bụng thì mình ghìm lời nói của người ta từng câu, ghìm với sự sân hận như vậy thì cũng không lợi ích gì. 

Thành ra, trong đời mình phải để ý mình nhường một chút, nếu mình làm hành động gì để người xung quanh mình cũng biết điều mà nhường một chút thì tự nhiên mình đi vào con đường trung đạo của giáo pháp. Không có chuyện gì để mình phải chấp hết.


Namo Buddhaya ./.


Saturday, February 6, 2021

Hỏi: Chúng ta có thể dùng ý chí để chận đứng khả năng tạo tác luân hồi? - TT Uyên Minh

 Hỏi: Chúng ta có thể dùng ý chí  để chận đứng khả năng tạo tác luân hồi, chủng tử của luân hồi hay không? 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Uyên Minh: Theo chỗ nghĩ chúng tôi sự suy nghĩ thiện cũng là một cách luân hồi, mà để cho tư tưởng bất thiện xuất hiện trong tư tưởng mình cũng là cách luân hồi, chỉ khác nhau ở chỗ là một tư tưởng dẫn mình đi lên cao và một tư tưởng dẫn mình đi xuống thấp, một tư tưởng hướng thượng, một tư tưởng hướng hạ. 

Như vậy mình ngồi yên không làm gì hết, như vậy coi như mình chận đứng được giòng sanh tử luân hồi. Ở đây về mặt căn bản theo giáo lý A Tỳ Ðàm, cho dù mình có ngồi yên đi nữa, thì những tư tưởng, gọi là tâm thức của mình nó vẫn tiếp tục trôi chảy. Bởi vì đó là một trong năm pháp cố nhiên, tức là ngày nào mình chưa chứng đắc thánh trí thì ngày đó mình còn là phàm nhân, cho dù ngồi yên, tay chân không làm gì, miệng không nói gì, nhưng tư tưởng vẫn trôi chảy, nó vẫn sanh diệt nó vẫn tiếp diễn. Thì như vậy mình nói mình ngồi yên, chỉ là tay chân mình yên, thân mình yên, miệng mình yên chứ, tâm mình không yên. 

Cho nên trong câu hỏi này, thì chúng tôi thấy vấn đề này Ðức Phật đã dậy rõ trong kinh Tứ Niệm Xứ, nếu một người có đủ duyên lành balamật, chuyện họ chánh niệm tỉnh giác trong từng sát na, trong từng giây phút, dầu đó là đời sống nội tâm, hay đời sống của sinh hoạt của tay chân, của thân nghiệp, khẩu nghiệp, nếu mình có đủ duyên lành balamật thì chánh niệm tỉnh giác, có thể trong bảy năm, bảy tháng hoặc trong bảy ngày hoặc ngắn hơn có thể dẫn đến thánh trí đoạn trừ sanh tử.

Còn nếu như mình không thể thành tựu được thánh trí, cũng không thể trở thành thánh nhân, thì tối thiểu nếp sống chánh niệm tỉnh giác đó cũng là chủng tử giác ngộ, hạt giống bồ đề mình đã gieo sẵn, một lúc nào đó, một kiếp nào đó trong tương lai mình sẽ thành tựu được trí tuệ giác ngộ. Đó chính là thái độ cần có của người tu tập.

Chứ còn tư tưởng cho rằng tư tưởng thiện thì dẫn đến thiện thú, tư tưởng bất thiện thì dẫn đến ác thú, nếu nghĩ như vậy là tôi không làm thiện, tôi không làm ác, đó chỉ là cách lý luận trên văn tự, trên chữ nghĩa mà thôi chứ không thể nào có chuyện đó.

Cho nên ở đây vấn đề căn bản của người tu học vẫn là bài kinh Tứ Niệm Xứ, cho dầu ngay trong đời này mình có trở thành thánh nhân hay không, chuyện đó mình còn chưa biết, nhưng lời dậy của Ðức Phật vẫn tiếp tục có giá trị trong mọi nơi và mọi lúc, trong mọi không gian và thời gian đó là;  làm gì biết nấy, nói gì biết nấy, nghĩ gì biết nấy, đó chính là thái độ tích cực.  Còn mình buông xuôi hết mọi thứ đó là một thái độ tiêu cực.

Cho dù mình không đắc đạo quả ngay trong kiếp này đi nữa thì trách nhiệm tu học là một điều mình không thể buông xuôi được, bởi vì dầu muốn hay không tư tưởng của mình vẫn trôi chảy và tuổi thọ của mình mỗi giây phút vẫn rút ngắn và thân xác này mỗi giây phút nó đang mỏi mòn dần và càng lúc mình càng đi gần đến quan tài hơn. 

Cho nên điều quan trọng nhất vẫn là đời sống chánh niệm tỉnh giác, được xem là một nếp sống tích cực cần có cho một người tu học, và đó chính là khả năng dùng ý trí của mình để chấm dứt sanh tử. Còn chuyện mình có đạt được cứu cánh giác ngộ hay không thì cái đó, còn phải nói thêm vào là còn tùy thuộc vào túc duyên giác ngộ của mình trong đời trước, tức là duyên lành ba la mật nữa.

Chứ còn không tu học về tam nghiệp, cứ ngồi yên đó và nghĩ rằng cứ ngồi yên bó tay, bó chân, nhắm mắt, bịt tai, bịt mắt, rồi cho đó là tu học, thì đây không phải cách tu học theo lời Phật dậy, mà đó là cách tu học theo cách suy nghĩ của mình, đó là cách lười biếng chứ không phải là cách chấm dứt sanh tử. 

Bài kinh Tứ Niệm Xứ mới chính là đường lối tu tập.  Bây giờ mình có học Phật Pháp, có tu tập bao nhiêu pháp môn đi nữa, thì không có một pháp môn nào nằm ngoài bài kinh Tứ Niệm Xứ cả.  Và chính tu tập theo bài kinh Tứ Niệm Xứ là câu trả lời cho câu hỏi này.  Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


Friday, February 5, 2021

Hỏi: Thuyết số mệnh và nghiệp có phải là liên quan dến nhau không - HT Chánh Minh giảng

 Hỏi: Thuyết số mệnh và nghiệp có phải là liên quan dến nhau không.

 Minh Hạnh chuyển biên

 HT Chánh Minh: Một từ là thuyết số mệnh và một từ nữa là nghiệp báo có đúng hay không và hiểu như thế nào.

Xin thưa thuyết số mệnh, bây giờ chúng ta nói giả tỷ có một số mệnh, vậy thì ai đặt ra số mệnh đó, ở đây chúng ta thấy rằng cứ cho là có ông thượng đế, có ông trời đã đặt ra số mệnh đó.  Thì nếu là ông trời hay là ông thượng đế có chủ quyền định đoạt số mệnh của những thần dân của mình, dĩ nhiên ông trời này phải là một ông trời rất là công minh, rất là công bằng, số mệnh mà tốt đẹp là do người này làm tốt cho nên ông trời mới cho một sự an lạc, một sự hạnh phúc, một sự giàu sang.  Còn trái lại thần dân nào làm ác quấy mà sai làm không đúng thì ông trời sắp xếp cho một số mệnh cực khổ cơ hàn v.v... Như vậy, chúng ta thấy, dù cho thuyết số mệnh có chăng nữa do ông trời định đặt, ông trời này phải là công minh và chính chúng ta phải tự quyết định lấy số mệnh của mình, nếu muốn cho được an lạc, được giàu sang, được phú qúi, được hanh thông v.v...thì chúng ta làm việc thiện tốt.  Còn nếu như không làm những điều tốt những điều lành những điều phước dĩ nhiên ông trời sẽ cho một số mệnh xấu.  Như vậy rõ ràng Đức Phật đã dậy chúng ta nên nương theo chúng ta, đó là điều thứ nhất.

Bây giờ trở lại vấn đề thứ hai chúng tôi muốn bổ túc thêm là, một được thầy bói là sẽ bị gãy xương, dù gìn giữ cách mấy chăng nữa cũng bị gãy xương, vậy ông thầy bói có bói đúng hay không?  Xin thưa ,sự kiện xảy ra đó là nghiệp báo tới thì quả tới, trong kinh dạy người quen cung kỉnh đảnh lễ Tam Bảo và những bậc trưởng thượng nhất là những  bậc trì giới  sẽ làm tăng trưởng bốn pháp sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh. 

Do nguyên nhân đó là có hai ông Bàlamôn cũng nhau xuất gia làm đạo sĩ và một thời gian sau một ông  hoàn tục trở về và có vợ có con, ông đạo sĩ thứ hai lâu ngày nhớ tới bạn nên tới thăm, gặp ông đạo sĩ đã hoàn tục có vợ hoan hỷ ra chào hỏi và giới thiệu vợ, khi chào hỏi vị đạo sĩ mới nói rằng chúc ông được sống lâu, rồi bà vợ đảnh lễ thì cũng chúc cho bà được sống lâu, mới có đứa con đầu lòng ẵm ra để vị đạo sĩ chúc phước, ông đạo sĩ làm thinh.  Hai vợ chồng mới ngạc nhiên hỏi tại sao vậy, vị đạo sĩ mới nói là 7 hôm nữa đứa bé sẽ chết và thật sự 7 bữa đứa bé chết thiệt.  Vì có đứa con đầu lòng nên hai vợ chồng hoảng và hỏi có cách gì chữa được không, vị đạo sĩ nói may ra Đức Phật có thể giúp được.  Khi thỉnh ý Đức Phật, Đức Phật nói là làm phước trai tăng và đúng 7 bữa thì đứa bé chết bởi vì trong kiếp trước đứa bé đã oan trái với dạ xoa, 7 bữa nữa  dạ xoa vừa mãn kỳ phục vụ cho Đế Thích sẽ tìm đứa bé để trả thù, rõ ràng là vị đạo sĩ thấy được điều này nhưng nhờ phước uy lực của Chư Tăng những vị Thánh Tăng nên dạ xoa không dám vào, mà thời hạn của dạ xoa chỉ là 7 ngày thôi, nếu không bắt được đứa bé thì đứa bé sẽ được thọ. 

Cho nên ở đây, chúng ta thấy rằng trường hợp bói trước thấy được điềm nghiệp tới, và trong một từ khác thì gọi là do số mệnh, đây là vấn đề chúng tôi mới trình bày với qúi vị đó là số mệnh tức là điềm nghiệp tới nên mới đoán ra như vậy.  Rồi điềm nghiệp tới đúng như vậy thì là đúng và trong điềm nghiệp chúng ta thấy nhiều lắm. 

Do vậy, những người thầy bói do nhờ những học tập những công thức đó mà tính toán ra được nghiệp xấu sẽ tới như vậy, hoặc là tính toán ra những điềm tốt tới để tiên đóan như vậy.  Hoặc giả trong những môn nhân tướng học chẳng hạn thấy sắc tướng người này tươi tốt rồi nhờ có học tập nên đoán được nghiệp lành sẽ tới, bởi vì chúng ta thấy rằng nói theo kinh tạng thì tâm tạo sắc, nếu tâm tốt sẽ tạo sắc tốt và hễ tâm tốt, dĩ nhiên sẽ cho quả tốt, tâm thiện cho quả lành, điều này là bất di bất dịch không cãi được. Hễ tâm xấu  cho quả xấu, tâm phiền muộn  cho ra sắc không được tốt và, tâm phiền muộn  dẫn tới những tai hoạ dẫn tới những nghiệp xấu nó trổ ra.  

Ở đây chúng ta dùng chữ nghiệp xấu hoặc chúng ta dùng những điềm lành theo tục ngữ nhà Phật, ngoài đời người ta không biết dùng những tục ngữ nhà Phật nên nói rằng coi chừng tai họa sẽ tới, hoặc may mắn tới v.v... Cho nên chúng ta thấy rằng những danh từ không có ý nghĩa bằng những gì chúng tôi vừa trình bày.

Thì ở đây, có những lúc những nhà nghiên cứu nhân chủng học hoặc những nhà tử vi họ từ những công thức tính ra chứ không có gì ghê gớm, nhưng ở đây điều chúng tôi muốn trình bày là dù cho người thầy bói nào khi bói thì nói là cô về lo tu nhân tích đức để mong cho tai qua nạn khỏi.  Nhưng biện pháp làm phước cách nào để cho tốt đẹp để được sung mãn để có nhiều kết quả tối thắng thì rõ ràng ở ngoài không biết, chỉ nói chung chung là về làm phước làm việc thiện đi.  Nhưng phương án để làm việc tốt đẹp  ở ngoài không có, những môn học đó không hề có và cách thức làm phước chỉ có trong Phật giáo mà thôi. 

 Như vậy,  rõ ràng chúng ta thấy thuyết số mệnh hay thuyết nghiệp báo chẳng qua là khác danh từ nhưng  cùng là một ý.  Và nghiệp báo chính mình tạo ra thì mình nhận lấy,  số mệnh kia giả sử có ông trời định đặt ra hay có một vị thượng đế định đặt ra thì dĩ nhiên là ban thưởng cho những người tốt chứ không thể ban thưởng cho người xấu được, và có chừng phạt  cũng chỉ chừng phạt người xấu chứ không thể chừng phạt người tốt, bởi vì vị trời là một vị thông minh, vị thượng đế là vị liêm chính, cho nên Đức Phật dậy rằng ta nên nương vào ta và chính những thiện nghiệp là mình nương vào.

Đức Phật Ngài dậy rằng: “Cho dù bay khắp phương trời, cho dù đáy biển có nhờ đặng đâu, cho dù thăm thẳm hang sâu cũng không thoái khỏi nghiệp mình đã gieo.”  Như vậy kết cuộc dù có biết hay không biết thì điều chánh yếu của chúng ta là tạo được phước đức đó là điều tuyệt vời nhất, chúng tôi xin trả lời như vậy.