Saturday, September 26, 2026

087 Paṭṭhāna - Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha", "cha ăn mặn, con khát nước. - HT Sán Nhiên giảng ngày 30 tháng 12, 2023

 087 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 30 tháng 12, 2023  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 087 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Đề thi: "Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha", rồi "cha ăn mặn, con khát nước." Nghiệp báo đã có, nghiệp chủ nó đuổi theo, bạn giải quyết làm sao? 

Bây giờ Sư nhắc lại bài học cũ của mình khi mà nói tới Buddhavaṃsa Hệ Tộc Chư Phật  thì có:

Nghiệp Tộc

Gia Tộc

Xứ Tộc.

Có hai phần:

1. Thứ nhất nói về Đức Phật Gotama. 

2. Thứ hai là nói về Bản Thân mình.

Đức Phật Gotama

-  Nghiệp Tộc thì Đức Phật Gotama là Bồ Tát Bodhisattva

-  Gia Tộc của Ngài là Hoàng Tộc

- Xứ Tộc của Ngài là Trung Ấn Độ

Bản Thân Mình

- Nghiệp Tộc của mình là gì? 

Thì người nào có Nghiệp Chủ (Kammassakatā) thì đề là Nghiệp Chủ. 

Nghiệp Tộc của quí Phật tử là nam tộc, nữ tộc, tức là nghiệp nam, nghiệp nữ. Mình sinh ra là mình có nghiệp nam hoặc nghiệp nữ, là cái nghiệp của mình hình thành ra mình ra cái sắc thân của mình.

Rồi cái Nghiệp Tộc nói về Danh, là mình sinh ra là người nhị nhân, người tam nhân, hay là người thiện lành vô nhân. Thì cái Nghiệp Tộc của mình sinh ra mình phải biết.

- Gia Tộc của mình là gì? 

Thì người nào trung lưu thì đề trung lưu. hoặc thượng lưu, hoặc hạ lưu. Thượng, trung, hạ.

Nếu quí Phật tử điền được 3 cái Buddhavaṃsa của mình là quí Phật tử sẽ biết được con đường tu tập của mình.

Thí dụ như Xứ Tộc của Đức Phật là Trung Ấn Độ, nơi đó là trung tâm quả địa cầu là nơi các vị Bồ Tát kiếp chót thành Phật đều tới đó, họ có những ân đức đó, họ đi với pháp Pāramī Ba-la-mật của họ. 

Bây giờ mình nói tới mình. Mình sinh ở biên địa. Tại vì nước Việt Nam ở bên kia bờ của Thái Bình Dương.

Trong Buddhavaṃsa (Biên Niên Sử) nói đi từ East qua West, từ Bắc sang Nam, từ Đông sang Tây - from center to edge, thì mình ở đây, nếu mình nói đây centre = chính trung, edge = biên địa.

Nước VN ở biên địa, Thái Lan, Cambodia thì nằm trong đất liền. Còn thí dụ như trong nước mình như Vũng Tàu là biên địa phía bên bờ biển Thái Bình Dương. Như Phan Rang là biên địa, nó ở ngoài biển rồi, Sài Gòn là đất liền, là trung tâm.

Thiền sinh hỏi: sinh ra ở trung Ấn Độ, những người không phải Bồ Tát, những người bình thường, như người dân ở xứ Ấn Độ họ sinh ra họ được phước báu nào ?

HT trả lời: Nó có 2 vế: Sinh ra ở ngay Ấn Độ, nhưng phước mà sinh cùng thời Đức Phật lại khác, mà sau thời Đức Phật lại khác.  Như bây giờ là sinh sau thời Đức Phật. Sinh cùng thời Đức Phật thì phước đầy đủ, nhưng sau đó thì mất dần.

Do đó, khi viết Buddhavaṃsa của Đức Phật xong bắt đầu mình viết qua tới phiên mình thì mình ra được con đường tu tập của mình.

Khi Bồ Tát Siddhartha Ngài ngồi quán sát rồi Ngài kể lại cho Ngài Xá Lợi Phất khi Ngài Xá Lợi Phất hỏi là Ngài hiện bày thần thông, rồi Ngài hiện bày Pāramī Ba-la-mật, rồi như Ngài nói: "Từ khi ta phát nguyện để thành Phật thì ta phải coi lại những sự thành tựu của các Chư Phật quá khứ để mà làm biểu tượng, biểu hình, hình mẫu ta noi theo", chứ không phải là Đức Phật Ngài tự ên vạch con đường Ngài đi. Chứ không phải là Ngài tự hư cấu ra hay là tự nghĩ tưởng ra, Ngài phải coi lại những sự thành đạt kết quả của các Chư Phật.

Cũng như Sư nguyện Chánh Đẳng Giác, nhưng Sư được may mắn, thời này Sư coi được các Chư Phật quá khứ, trước nhất là Sư có được Đức Phật Gotama, làm biểu tượng, mẫu hình cho Sư noi theo được.

 Nếu như đến thời kỳ mình sinh ra, thí dụ như sau 5000 năm mình mới sinh ra mình không có.

Do đó, thì bắt đầu mình biết rồi thì mình không có 5000 trong cõi nhân loại, không có thì giờ, mình phải mau mau nguyện thành chủng tử của Tusita liền cho hết 5000 năm của Phật lịch, hết 5000 năm của Giáo Pháp: "Tôi nguyện xin trở về trú xứ của các vị Bồ Tát, ở nơi đó tôi tu tập tiếp chứ không bị gián đoạn."

 Đức Phật Ngài nói: "Khi ta còn ở trong Tusita group" không có rời ra. Tusita group dịch là quần thể Đâu Suất Đà, group dịch là quần thể.  Ở trong quần thể Chư Thiên mà các vị đó có chánh pháp, Ngài không có rời. Còn khi Ngài rớt xuống làm con sư tử, con voi, con khỉ, lúc đó Pāramī Ba-la-mật của Ngài đi chứ không phải là Ngài noi theo với một cái giáo pháp nào. Có lúc Đức Phật Ngài là con sư tử đi theo một vị Phật suốt một tuần lễ, không phải là Ngài học giáo pháp của vị Phật mà là đi theo cái lực của Đức Phật đó để Ngài nguyện thành Pāramī Ba-la-mật là không sát sinh, Ngài nhịn đói luôn trong một tuần lễ đó, sau đó Ngài mất luôn, Ngài trở về Tusita group.

Nên khi quí Phật tử có rớt xuống, nhưng mà rớt xuống ngay cả các vị Bồ Tát rớt xuống làm thú chứ không phải làm người, người có hai loại, người sinh thời giáo pháp Phật, người sinh vào thời không giáo pháp Phật, thì người trong hai thời đó, mình đây là người sinh vào thời không có Phật nhưng mà thời có giáo pháp Phật.  Còn tiếp nữa là sau này thì không biết, không có giáo pháp Phật không có thời Phật nữa. 

Thì khi Đức Phật Ngài rớt xuống làm thú, thì Ngài có hai đường để đi là đi theo Pāramī Ba-la-mật của Ngài đã kiên cố nguyện, hai nữa là thời có Phật mà Ngài là thú, chứ Ngài không có rời. Ngài sinh ra trong thời có Phật mà Ngài là thú sinh ra trong thời có Phật. Còn không được thời có Phật thì Ngài phải đi theo Pāramī Ba-la-mật của Ngài đã kiên cố.

Còn mình đây mình không có, các quí Phật tử mình phải lo cái chỗ đó.  Nên mình có giáo pháp, mình có chánh pháp, mình có môi trường tu tập là mình phải nắm bắt liền còn không là mình phải có nguyện.

Trong quần thể của Tusita Ngài ở trong đó không rời kiếp chót của Ngài là khi Ngài xong kiếp chót của Ngài là kiếp chót nào? Là Vesadon, Vessantara

Bên Thái Lan tất cả những ngày lễ Vesak, Vessantara ngày Tam Hợp họ đều đóng kịch diễn tuồng Vesadon là Vessantara. Là sau khi Ngài xong xả thí Pāramī Ba-la-mật này Ngài trở về quần thể Tusita cho tới khi Chư Thiên thỉnh Ngài xuống. Chư Thiên tới với Ngài họ chỉ nói một câu là: "It is the time for you - đây là tới thời cho Ngài". Thì lúc đó Ngài mới quán sát 5 điều, lúc đó Ngài đang ở Tusita group Ngài quán sát 5 điều là: 

1. Nơi nào mà ta đi ---> Trung Ấn Độ.

2. Thời điểm nào mà ta đi ---> Thời điểm 100 năm của nhân loại

3. Gia đình nào ta đến ---->  Ngài coi cha mẹ của Ngài

4. Xứ tộc nào ta đến ----->  Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu)

5. Gia Tộc nào ta tới -----> Giòng Gotama

Đó là điều Ngài phải quán sát. Tuổi thọ chúng sinh, hội chúng lúc đó rồi Ngài mới đi xuống trần. Rồi Ngài đồng ý thì Ngài cắt đứt giai đoạn mà Ngài đang hành Pāramī Ba-la-mật ở tại quần thể Tusita, và Ngài hạ sinh vô trong thai bào của người mẹ.

Quí Phật tử phải nhớ, nên Sư nhắc quí Phật tử nhớ, cũng như Sư nhắc cho Sư, Ngài Tịnh Sự cũng nhắc cho Sư cũng vậy. Các quí Phật tử phải nhớ 3 điều. Nhớ giai đoạn này mình có 3 điều là:

1. Được sinh làm người.

2. Được gặp Phật Pháp, Chánh Pháp.

3. Có cơ hội được tu tập.

 Có Chánh Pháp mà họ không biết. Họ vẫn còn nói thời này là thời mạt pháp. Không phải, mạt là mình mạt, chứ Phật Pháp không mạt, mình mới qua 2567 năm, mới qua một nửa. Và mình có môi trường tu tập, có điều kiện tu tập và có cơ sở tu tập, là mình có Xứ Tộc. Rồi tụt xuống nữa thì không biết làm sao.

Sư chia sẻ với quí Phật tử. Khi Sư đi xa về, vô rửa mặt rửa tay xong là vào phòng làm việc ngay, ngồi gõ máy, tối gõ, sáng gõ, trưa gõ, chiều gõ. Mà tất cả các Bồ Tát Chánh Đẳng Giác đều có Tứ Chánh Cần. Nên các vị Bồ Tát nên đi theo là noi gương con đường mà các vị Phật đi, họ noi theo đó tu tập làm điểm tựa, mà mình đây cũng có rồi mà mình không làm. Sư nhắc thôi, mà Sư cũng nói, Sư cũng vậy hà. Quí Phật tử đâu bao giờ nói lá xanh khóc là vàng, lá vàng khóc lá xanh, đó là sự vô thường, nên Sư chỉ nhắc nhở hoài, ráng lo tu, có cơ hội đừng bỏ qua, đọc ít đọc nhiều cũng phải chịu khó đọc để có chủng tử. Bồ Tát đi tìm một câu thôi "các Pháp hữu vi là vô thường" xong là bị con dạ xoa nuốt. Còn mình đây không có, khi vô thường nó đến là không kịp nữa.

Còn Nghiệp Chủ kéo mình nữa, quí Phật tử đã sài credit card rồi thì chủ của credit card không buông mình đâu.  Quí Phật tử tu giải thoát là chạy trốn nghiệp.  Như Aṅgulimāla giết 999 người, để mà trả nghiệp thì bao giờ mới được giải thoát, gặp Đức Phật Aṅgulimāla buông dao xuống quay lại tu thì ông đắc Alahan, mà còn chưa hết ông bị đá chọi vào đầu máu chảy, ngày nào đi bát cũng bị người ta đánh tại vì vợ con bị giết, gia đình tan nát, giờ ông đi tu nhờ được Đức Phật che chở mà trở thành Alahan, Đức Phật nói hãy trả cái nghiệp dư xót của mình, cái này còn dư xót lại, cái này là hữu dư y Niết-bàn, bây giờ là Vô Sinh là ông chạy được. 

Mình đâu có được như Aṅgulimāla, mình thấy cái gương trước mắt. Ông chạy vù một cái là qua cửa Vô Sinh.

Còn quí Phật tử mình may mắn thì hẹn, nhưng không biết hẹn tới khi nào giải quyết xong cái hẹn của mình, là kẹt rồi.

 Nên Sư viết lại cái Nghiệp Tộc của Đức Phật lúc bấy giờ Ngài là Bồ Tát rồi. Bồ Tát tức là Ngài đã 23 Tăng Kỳ, 400,000 đại kiếp rồi, kiếp này là kiếp chót. 

Còn mình đây không có tư tưởng sắt đá thì Nghiệp Tộc của mình là gì ? Thiện, bất thiện, cả hai.

Gia Tộc của Đức Phật là gì? Gia Tộc của Đức Phật là Hoàng Tộc.

Gia Tộc của mình là gì ? mình không thấy, còn Ngài có sẵn hết rồi, Ngài tới để thọ hưởng thôi, tại vì Ngài đã làm hết rồi, kiếp này là kiếp chót, mà Ngài không phải trả 6 năm của Ngài do có một lần Ngài khinh suất thôi mà Ngài phải trả 6 năm tìm đạo. Các vị Phật kia đâu có dài lê thê như Đức Phật. Đức Phật Gotama phải trả dài và khổ sở nhất. 

Hai mươi ba tăng kỳ Ngài tu, 100,000 đại kiếp Ngài tu, nhưng Ngài sống trên đời này có 80 năm, ngắn nhất trong các vị Phật, mà trong 80 năm thì Ngài hưởng vị Phật có 45 năm, từ 1 đến 35 năm Ngài ở ngoài đời, từ thành Phật là 35 tuổi cho đến 45 năm là 80 tuổi, Vô Dư Y Niết-bàn, chấm dứt, mà trong 45 năm đó đâu phải là ngọt ngào hết đâu, cũng bị mắng chửi, bị lăn đá chảy máu chân, rồi đủ thứ hết. Nhưng mà Ngài xong rồi. 

Tới phiên mình thì sao? Bây giờ mình nói Gia Tộc của mình.

Mình sinh ra. Đầu tiên mình sinh ra trong gia đình có chánh kiến không? Trong quốc độ có quốc giáo không? Gia đình mình có chánh kiến không, hay là gia đình mình không có chánh kiến. Tới giờ vẫn còn cúng cơm, còn cúng vật thực. Mà giờ có người có chánh kiến, có người biết chánh pháp, mà nói không có nghe thì là thua rồi. Cũng như có người đi xuất gia, có con xuất gia, có chánh pháp mà kinh sách không đọc. Cái nghiệp chúng sanh nặng quá, cái Nghiệp Tộc nặng hơn Gia Tộc. Gia Tộc chỉ là một yếu tố nhỏ, Nghiệp Tộc bao trùm luôn Gia Tộc lọt vào trong, đừng nói tới Xứ Tộc nữa.

Nghiệp Tộc của mình có cả thiện và bất thiện. Còn Nghiệp Tộc của Đức Phật mình ở kiếp chót là Bồ Tát Chánh Đẳng Giác, Gia Tộc của Ngài là hoàng tộc ở trong cung điện là Ngài không tạo điều ác. Còn mình đây, mình ở trong Gia Tộc, mình coi lại đi, thời cha mẹ nghèo buôn gánh bán bưng, phát sinh trộm cắp, phải làm hết để mưu sinh nuôi con, nuôi gia đình, rồi nói thật nói láo, ngũ giới không giữ, cũng phải làm để có tiền để nuôi con, Gia Tộc mình mà, cái nghiệp của mình mà. Rồi mình coi, mình nghĩ giờ mình được rồi, còn Gia Tộc mình trải qua hồi lúc nghèo khó hồi ông cha của mình trải qua nghèo khó.

Đức Phật Ngài sinh ra, có Vua Cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là Hoàng Hậu Maya sống trong hoàng cung toàn làm việc thiện, mà hai ông bà giữ bát quan trai trường. Mà Ngài ở trong hoàng cung đâu có việc gì bất thiện, Ngài chỉ hưởng phước thôi. 

Còn mình đây không có, bây giờ mình ngồi đây, Sư cùng với quí Phật tử ngồi đây là mình đang hưởng phước. Hồi lúc ba mẹ sinh mình ra cho tới khi mình có ngày hôm nay mình ngồi nghĩ lại coi, Gia Tộc mình đã chạy qua bao nhiêu cái nghiệp, rồi bây giờ mình cắt hết mấy cái đó để mình giải thoát, hay là mình cắt hết mấy cái đó đi để mình không trả quả, thì mình làm cách gì để mình vượt mau nhanh được như Ngài Aṅgulimāla, khi mà ông giết 999 người, rồi ông cắt hết cái nghiệp để trả nợ vay mượn của 999 người này thì trong thời gian ngắn này là phải nhanh tới Alahan, mà Alahan xong rồi thì cũng phải trả cái dư xót. 

Mình có làm được như Ngài Aṅgulimāla chưa, chưa được. Tại vì thời này mình chưa có Phật. Thứ hai nữa, thời này Pāramī Ba-la-mật mình chưa đủ, người sinh ra thời Đức Phật là họ đã có Pāramī Ba-la-mật đủ. Mình phải bồi đắp, nếu không nỗ lực thì sẽ trôi lăn.

Sư nói đây không phải để mình bi quan hay mặt cảm, mà để mình thức tỉnh.

Ông bà mình nói câu:  "Cha ăn mặn, con khát nước". Nghiệp Câu Sinh nhau. Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha.

Người ta nói: "Cha ăn mặn, con khát nước." Con gái hưởng đức cha, con trai hưởng đức mẹ". Giờ làm sao mà xóa được, gặp người cha mà ngày xưa đi lính thì có nghiệp sát, vì nhà binh thì có nghiệp sát, thì cha ăn mặn rồi con khát nước.

Nên quí Phật tử phải hiểu khi mình không học Paṭṭhāṇa, không học về Duyên, mình không học về 7 bước của Phát Thú Paṭṭhāṇa là quí Phật tử tắc nghẽn liền, nhất là trong Nikaya Kinh Tạng là chết, nguyên tắc là nguyên tắc, nhất là Tạng Luật còn chết nữa, vì nó là cán cân, nó không lệch lạc, không thiên vị, đâu ra đó, một với một là hai, không có du di, không linh động, không uyển chuyển, không có châm chế. Như ông luận sư đó chỉ bứt ngọn cỏ thôi mà đi địa ngục.

Đối với Abhidhamma thì không có, không phải mình bào chữa hay mình chạy, hay mình chữa lửa cho mình. Nhưng Abhidhamma phải Tương Ưng Trí, còn cái kia họ nói luật chứ không nói Đại Thiện Tương Ưng Trí hay Đại Thiện Bất Tương Ưng Trí.

 Do đó, khi câu hỏi: "Cha ăn mặn, con khát nước." Con gái hưởng đức cha, con trai hưởng đức mẹ. Cha ăn mặn con khát nước". Bạn giải quyết sao về Nghiệp Báo của bạn khi bạn đã có Nghiệp Chủ?  

Thiền sinh hỏi: Sư nói cái câu đó là làm sao để mình ra khỏi Nghiệp Chủ đó khi đã có Nghiệp Báo.

HT trả lời: Nghiệp Báo là Nghiệp Chủ.

Thiền sinh: Nhưng mà cái Nghiệp Báo đó không phải trên người con, mà là của người cha mà.

HT trả lời: Câu Sinh Nhau. Hồi lúc mà người cha làm cái gì đó thì người con hưởng cái đó rồi, một thành bốn.

Sư cho thí dụ là, cha mình là lính, sĩ quan, hay là tướng, hay là tá, hay là lính thường thôi. Cha lãnh lương lính rồi đem về nuôi con bằng đồng tiền đó. Mà cha phải đi làm nghiệp sát này là vì nhà binh.

Thiền sinh hỏi: Trước Sư nói là mình chỉ để ý cái nghiệp hiện tại của mình ngay lúc đó. Vậy thì nghiệp quá khứ mình đâu có chuyển được?

HT trả lời: 

Những gì Sư nói thì không bao giờ Sư nói dư, và không bao giờ Sư nói chơi, Sư nói đều có gợi ý, nhưng quí Phật tử không hiểu được cái gợi ý.  Như Đức Phật một bậc Chánh Đẳng Giác có thể xử dụng năng lực của Iddhipāda Tứ Thần Túc để kéo dài mạng sống thêm một kiếp trái đất, nhưng Ananda không thỉnh mời Ngài mà vuột mất, Đức Phật 3 lần Ngài gợi ý mà Ananda không thực hiện thì Marā nhảy vô, thì lúc đó Ananda thỉnh Đức Phật ở lại nhưng không kịp. Đức Phật nói: "Đủ rồi Ananda, ba lần Như Lai gợi ý nhưng Ananda không nghe, Như Lai đã thọ ký với Ác Ma Marā rồi, thì còn ba tháng nữa thôi.

 Hồi nãy Sư nói về Hệ Tộc Chư Phật là khi Đức Phật Ngài về hoàng cung các hoàng thân quốc thích  coi Ngài là hoàng tộc không coi Ngài là Phật. Nhưng Đức Phật hiển lộ thần thông và nói: "Ta không còn là giòng Sakiya mà ta là chủng tộc Phật". 

Giờ Sư nói tiếp hồi nãy nói là Đức Phật Ngài coi những thành quả  đạt được của các Chư Phật làm biểu tượng để Ngài noi theo, nếu như có Phật thì Ngài hành theo, nhưng mà Ngài là thú thì Ngài hành Pāramī Ba-la-mật, còn không thì Ngài theo đường đi của các Chư Phật.

Do đó, khi người ta đặt câu hỏi: "Con trai hưởng đức mẹ, con gái hưởng đức cha", rồi "cha ăn mặn, con khát nước." Nghiệp báo đã có, nghiệp chủ nó đuổi theo, bạn giải quyết làm sao? 

HT trả lời: Tôi là chủng tộc Phật, tôi có quy y, tôi là con của Phật. Con của Phật có bốn loại.

 Do đó, quí Phật tử là con của Phật rồi thì quí Phật tử phải có Đại Thiện Tương Ưng Trí  với Câu Sinh Nghiệp với Phật và mình không còn nghĩ tới nghiệp cha nghiệp mẹ, thì quí Phật tử mới đi con đường an toàn, mà đường đó quí Phật tử được hết giòng tộc Pāramī Ba-la-mật của Đức Phật rồi, của vị Thầy của mình rồi.

Người Mỹ là người nước ngoài, bà họ gì tôi không biết, nhưng khi bà lấy chồng thì bà theo họ chồng mình, tức là bà bỏ tộc của mình và bà theo tộc của người chồng.

Khi mình quy y, nếu mình không biết dùng cái Tộc của quy y của Phật hay là Thầy Tổ mình thì mình bỏ mất,  mình sống theo kiết sử của mình theo  thói quen của mình và mình Câu Sinh Nghiệp riêng và mình không có Đại Thiện Tương Ưng Trí.

Con có bốn hạng:

1. Con ruột -----> Nghiệp

2. Con nuôi -----> Nghiệp

3. Thiên tử ------> Nghiệp

4. Đệ tử. -------> Nghiệp

Quí Phật tử muốn là con hạng nào thì hưởng nghiệp đó.

Mình không biết liền. Khi mình nhìn thấy cái nghiệp của nó, con đường đi của nghiệp đó, Aṅgulimāla đâu có nhìn cái nghiệp mà 999, mà Sư nói cái nghiệp hiện tại của Aṅgulimāla là ông đang Câu Sinh với Nghiệp của Đức Phật, vì ông là con Đức Phật. Nếu ông không nghĩ đến Đức Phật (không câu sinh) mà nghĩ đến gia đình của ông thì ông phải trả cái nghiệp sát của ông, và ông không có đường giải thoát.

Vậy thì quí Phật tử  là tộc chúng là gì? Là Tộc Chủng Phật

Gia Tộc quí Phật tử là Gia Tộc gì? Là Phật Tộc

 Con có bốn loại con, nếu mà Thầy nói cái câu :"Cha ăn mặn con khát nước." Đó là con Hành Tộc. Nhưng con của Thánh Tộc họ không khát nước, tại vì Thánh không làm gì sai mà làm việc thiện, thì con đang sống theo Thánh Tộc, tại vì con có quy y, con là Phật Tộc, Thánh Tộc. Đó là cách giải thoát.

 Nên đề thi của Sư không phải là đề thi Pháp Cú mà là gài bẫy.

Từ khi tôi biết Phật, từ khi tôi quy y Phật, tôi là Tộc Chủng Phật. Không phải mình xóa bỏ dĩ vãng, không phải mình xóa bỏ nguồn gốc gia tộc của mình.  Nhưng mình không có thì giờ. Mình phải bình tỉnh và trí tuệ để mình xử dụng phương pháp. 

Minh phải bình tỉnh và trí tuệ mình bình tỉnh để mà mình xử dụng phương pháp này, thì quí Phật tử mới có cơ may thoát ra. Không phải Sư chỉ cho mình thoát, cái đó là sự thật. Đức Phật Ngài Khi Ngài đi bát trở về thì Yasodhara (Da Du Đà La) bảo Rahula (La Hầu La) vô nói với ông nội là Đức Phật đi bát là làm nhục giòng Sakya, giòng tộc của mình là vua, không để con mình đi xin ăn.

Đức Phật nói: "Không, phụ vương, hôm nay Như Lai là chủng tộc Phật, người không để bát, ta phải đi khất thực, sống chánh niệm chánh mạng,"

Đức Phật đã nói như vậy trước mặt cha. Ngài đâu phải tốt cho họ đâu, nhưng mà Ngài biết dùng cái trí tuệ của Ngài để độ cha Ngài. Nếu quí Phật tử không biết cái này mà gặp người cha mình còn sống thì quí Phật tử không độ được cha mình, không chuyển nghiệp của cha mình.

Đức Phật Ngài nói câu đó, Ngài vừa dùng trí tuệ của Ngài và Ngài vừa chuyển được vua cha. Ngài không có ngã mạn, nhưng Ngài nói thật.

Con thì có bốn loại con, thì quí Phật tử muốn giữ đứa con nào thì giữ,  muốn giữ con nào thì giữ nghiệp con của mình. Nhưng người trí sẽ dùng cái nghiệp của mình. Ngay cả vị thiên tử lọt vô ngay ranh giới của hai vị Thiên Chủ, thì mặt người thiên tử đó mà nhìn về Thiên Chủ nào thì là con của vị Thiên Chủ đó, mà đã là con họ thì họ phải hưởng nghiệp của vị Thiên Chủ này.

Quí Phật tử là con hạng nào trong bốn hạng con?

Khi mình đứng ở đâu là mình hưởng cái phước đó liền, hưởng cái nghiệp đó liền. Đó là Câu Sinh Nghiệp Paṭṭhāṇa 

Đức Phật gặp mấy người đệ tử Ngài như Cūlapanthaka ở gần Đức Phật mà bốn tháng không thuộc một câu kệ.  Đêm đó ông buồn quá, ông đi ra nói với người anh là Mahāpanthaka đã đắt Alahan, nói câu kệ học không thuộc lòng mà ăn của đàn na tín thí thì mang tội, thì anh cho em ra đời được không, về làm cư sĩ hộ độ Tam Bảo, tốt hơn ở trong chùa mà ăn của đàn na tín thí rồi mắc nợ. Người anh nói đúng rồi, thôi em về đi, sống đời người cư sĩ hộ độ Tam Bảo 

 Nói xong với người anh rồi, sáng mang đồ đạt đi về. Thì Đức Phật Ngài biết, Ngài độ.  Ngài hỏi Cūlapanthaka xuất gia làm đệ tử của ai?  Cūlapanthaka trả lời: là đệ tử của Đức Thế Tôn.

Đức Phật nói: Vậy sao không hỏi Như Lai mà đi hỏi người khác?

Làm con thì phải hỏi người cha, chứ sao lại hỏi người khác.  Tức là Ngài nhận một cái trách nhiệm của Ngài, và Ngài đánh thức người kia vị trí của mình.

Cái đó là bậc Chánh Đẳng Giác hay là bậc Alahan hay bậc trí tuệ, đâu có tránh né, nhưng người ta biết trách nhiệm, biết dẫn dắt, biết dìu dắt người con ra khỏi cái nghiệp của mình.

Bảy Pháp của bậc Giáo Thọ là không cho đệ tử làm sai, mà chỉ khuyến khích đệ tử làm đúng thôi, chứ không cho làm sai. Đó là một trong bảy pháp của vị Giáo Thọ.  

Nhưng mà tự mình quên. Mình quy y Phật, kính Phật, mình làm theo lời Phật dạy hay là mình làm theo kiết sử tập khí thói quen của mình, mình đâu phải là con Phật đâu. Mà cứ đòi mỗi Đức Phật từ bi hỉ xả.  Đức Phật Ngài cũng như người cha, Ngài từ bi hỉ xả tha lỗi cho mình đi. Nhưng mình lại không có tha lỗi, mình không thay đổi, chuyển tộc, không có chủng tử Phật Tộc, là quí Phật tử không có Câu Sanh Nghiệp với Phật.

 Bữa nay là cuối năm, Sư muốn quí Phật tử Chuyển Tộc và mình đi tới cái đường Tộc Chủng này, cái Chủng Tộc này thù thắng và mình sẽ có những lợi lạc với Câu Sanh Nghiệp. Mình không đánh mất.

 Quí Phật tử ngồi nghiệm lại, bây giờ quí Phật tử nghe lại bài pháp. Thật sự quí Phật tử sai hết, vì sống theo tập khí cái phàm tộc của mình, Tôi, Ta của mình, rồi bào chữa, biện giải, giải thích.

 Do đó, quí Phật tử mới thấy tại sao giá trị của Chánh Pháp, cái thời của Đức Phật cái giá trị Chánh Pháp là gì? 

Đức Phật nói: Lấy Giáo Pháp làm Thầy.  Tại vì khi Như Lai mất, không ai chỉ dạy thì lấy Kinh Sách để chỉ dạy cho mình, lấy đó làm y cứ mình hành theo.  

Nhưng mà mình không có. Mình không lấy chánh pháp, mình không thừa hành chánh pháp, Sư đến nhà, Sư thấy Kinh Sách để đó là Sư biết người này không thừa hành chánh pháp rồi.  Mà họ một ngày một giây một giờ họ sống trong thân ngữ ý họ tạo ra bao nhiêu nghiệp nữa.

Còn Bát Chánh Đạo; Chánh Nghiệp không có, Chánh Hạnh mình không có, Chánh Mạng mình không có, mình sẽ đi ra. Chánh Mạng, Chánh Nghiệp, Chánh Ngữ, trong ba giới phần đó của Bát Chánh Đạo mình không lấy Chánh Pháp mình làm chuẩn thì coi như là mình bị Tà Nghiệp, Tà Mạng, Tà Ngữ trong mỗi giờ mỗi ngày.

Khi Phụ Vương phẫn nộ bực tức nói làm nhục giòng họ Sakya, làm nhục giòng họ của Phụ Vương, đi xin ăn khất thực.

Đức Phật nói: Như Lai là chủng tộc Chư Phật.  Ngài không nói Ngài là chủng tộc của Phụ Vương.

Khi người ta đưa ra đề tài cho bài thi: Nếu bạn ở trong nghiệp của cha, mà cha làm nghiệp sát, sớm muộn gì bạn cũng phải trả quả báo này. Thì là bạn Câu Sanh Nghiệp với người cha. 

Nên Aṅgulimāla khi bị chọt đá, thì Đức Phật nói; sau này Aṅgulimāla giúp cho những sản phụ sinh khó thì Aṅgulimāla sẽ bớt đi cái nghiệp bị người ta chọt đá tại vì người ta hận thù. Thì ông ngồi bên đây, bà sản phụ sinh khó bên kia, ông đọc: "Từ ngày tôi đắc quả Thánh  không có làm gì sai trật về thân, ngữ, ý, mong rằng sản phụ này sanh dễ", thì người sản phụ đó sanh con được liền.  Một câu nói rất là mộc mạc.

Câu nói : "Từ ngày tôi là tộc Thánh", khai thác câu nói đó là Đại Thiện Tương Ưng Trí, khai thác ngay chỗ đó là mình Câu Sanh Nghiệp, cái hay của nó là mình hưởng giòng nghiệp đó liền.

Ngài nói "Từ ngày tôi vào Thánh Tộc, thân ngữ ý tôi thanh tịnh trong sạch, mong rằng lời nói chân thật này vị sản phụ sinh khó sinh được dễ dàng". Đứa bé được sinh ra liền.

Thì quí Phật tử cũng vậy. Khi Nghiệp Chủ Kammassakatā của quí Phật tử tới, bất kỳ ở đâu, trên máy bay, trên xe lửa, trên xe hơi, quí Phật tử phải nhớ nói: "Từ ngày tôi quy y Phật, từ ngày tôi là Phật tử, từ ngày tôi thọ giới thì tôi có chủng tộc Phật trong người tôi, mong rằng nghiệp chủ này không đủ để khống chế".

Đừng có lấy vỏ phàm tục của mình mà nói. Mình phải khôn ngoan bằng trí tuệ.

Nên phài biết như thế để đánh tan đi cái câu: "Cha ăn mặn, con khát nước". "Cha lấy đức cho con gái, Mẹ lấy đức cho con trai" chưa chắc. 

Chỉ có Phật Tộc, Đức Phật cái nghiệp của Phật, cái đó mới là ăn chắc mà bền và nó an toàn hơn. Cái thế gian hiệp thế này thì 50/50. Không có ai là hoàn hảo, cha mẹ có tu cả đời đi nữa cũng không thằng được. Mình đã quy y Phật rồi, mình sống nương vào Tam Bảo.

Nên Đức Phật nói quay về nương nhờ Tam Bảo, mà mình đây không có, mình lấy cái tôi cái ta của mình để đương đầu với Nghiệp Chủ Nghiệp Báo mà từ vô minh làm ra mà mình không biết nó đến đánh mình thì mình đánh sao lợi.

Nhớ chưa, Đức Phật Ngài cũng dùng Phật Tộc, Ngài coi Chư Phật đi như thế nào ta đi thế đó.  Các đệ tử Đức Phật đều nương vào Tam Bảo, chứ không đi theo chủng tộc phàm phu mình./.

--------------------------------

Notes:

--------------------------

Nghiệp Chủ - Kammassakatā (tiếng Pāḷi) là một giáo lý nền tảng trong Phật giáo, mang ý nghĩa là "nghiệp là tài sản duy nhất/riêng biệt của chính mình" hoặc "sở hữu nghiệp". Thuật ngữ này khẳng định rằng mỗi chúng sinh là chủ nhân duy nhất đối với các hành vi (nghiệp) do chính mình tạo ra và phải tự chịu trách nhiệm về quả báo của những hành vi đó. 

Nghiệp Báo - Karma-vipaka, theo luật nhân quả, "nghiệp" là nguyên nhân (hành động có chủ ý), còn "báo" là kết quả (sự phản hồi, gánh chịu hậu quả hoặc nhận phần thưởng). Nếu bạn gieo hành động thiện, bạn sẽ nhận lại quả báo an vui; ngược lại, nếu gieo hành động bất thiện (ác nghiệp), bạn sẽ phải nhận lại quả báo đau khổ.


----------------------------

Bảy Pháp của bậc Giáo Thọ:  người thầy mang trọng trách giáo hóa luôn phải thành tựu đầy đủ 7 đức tính này để dẫn dắt đệ tử: 

1. Khả ái, khả ý (Pali: Piyo): Người thầy sống có lòng từ mẫn, có cách cư xử và tác phong khiến đệ tử cảm thấy dễ mến, dễ gần, tạo ra không gian tu học ấm áp. 

2. Tôn trọng, đáng kính (Garu): Thầy là người có giới đức trang nghiêm, tâm hồn tự tại, khiến người đệ tử tự nhiên sinh lòng kính trọng và nể phục.

3. Đáng được bắt chước, đáng ca ngợi (Bhāvanīyo): Thầy có trí tuệ sâu sắc, thân giáo và khẩu giáo đều là tấm gương sáng để đệ tử noi theo. 

4. Nhà thuyết giả, biết nói lời khuyên răn (Vattā): Thầy khéo léo sử dụng ngôn từ, biết khi nào cần giáo huấn, chỉ ra lỗi sai để răn dạy, sách tấn đệ tử tiến bộ.

5. Kham nhẫn lời nói (Vacanakkhamo): Thầy có tâm bao dung lớn lao, nhẫn nại lắng nghe những lời bộc bạch, thắc mắc, thậm chí là sự bướng bỉnh hay những lời thô vụng của đệ tử mà không khởi tâm sân hận. 

6. Nói lời sâu kín, giảng giải giáo pháp thâm sâu (Gambhīrañca kathaṃ kattā): Thầy có khả năng phân tích và truyền dạy những giáo lý vi diệu, cốt tủy của Chánh pháp để khai mở trí tuệ cho đệ tử.

 7. Không hối thúc, ép buộc những điều không hợp lý (No ca aṭṭhāne niyojeti): Thầy không bao giờ hướng dẫn hay ép buộc đệ tử làm những việc phi pháp, mê lầm hoặc sai đường đạo

---------------------------------

Câu Sinh có nghĩa là Cùng Sinh

Sahajatakamma = Câu Sanh Nghiệp hay Đồng Sinh Nghiệp

1. Sahajāta (Câu sanh / Đồng sinh): Cùng sinh khởi lên một lúc.

2. Kamma (Nghiệp): Hành động hay ý muốn, mà chi pháp chân đế chính là tâm sở Tư (Cetanā).

Khi kết hợp lại, Sahajatakamma-paccaya được gọi là Câu Sinh Nghiêp Duyên. Đây là một trong 24 duyên hệ hệ trọng hệ thống duyên khởi của Paṭṭhāṇa (Đại Phát Thú)

Trong đời sống hằng ngày, bất kỳ khi nào một tâm (thức) khởi lên, luôn luôn có tâm sở Tư (Cetanā) đi cùng. Theo hệ thống của Paṭṭhāna, tâm sở Tư này không chỉ tích lũy để cho quả ở tương lai xa (gọi là Dị thời nghiệp duyên - Nānākkhaṇika kamma), mà ngay tại sát-na hiện tại, nó còn đóng vai trò đôn đốc, điều hành và phối hợp tất cả các tâm sở đồng sinh khác cùng hoạt động. 

(Đại Phát Thú. Tập III, trang 207)

1. CÂU SANH NGHỆP DUYÊN 

(SAHAJĀTAKAMMAPACCAYA) 

Vacanattha — Chú Giải: 

"Kāyangavācangacittangābhisankharanabhūtena cittappayogasankhātena kiriypabhāvena paccayo upakātrakoti = Kammapaccayo"- Pháp giúp đỡ ủng hộ theo hình thái của hành động tạo tác mà có liên quan với phương cách hiểu biết của Tâm, tức là Pháp giúp đỡ tạo tác với trạng thái tử nơi thân, từ nơi lời và tâm, gọi là Nghiệp Duyên

GIẢI THÍCH TÓM TẮT CÂU SANH NGHIỆP DUYÊN

Câu Sanh Nghiệp Duyên đây, có ý nghĩa đến Tâm Sở Tư, chính là Nghiệp câu sanh với Pháp Sở Duyên và giúp đỡ tạo tác với Pháp Sở Duyên.  Nó có ý nghĩa là Pháp Tương Ưng, đó là Tâm và Tâm Sở đang làm nhiệm vụ thâu bắt lấy Cảnh, có Cảnh Sắc đang hiện hữu, v.v. thì Tâm Sở Tư cũng cùng câu sanh với nhiệm vụ là giúp đỡ tạo tác trong việc tiếp thâu các Cảnh đó.  Ví như, một khi đã tiếp xúc với Cảnh Sắc rồi, Tâm Tham cùng với Tâm Sở sanh khởi thì Tâm Sở Tư giúp đỡ sắp đặt cho Tâm Tham đó đến tiếp thâu lấy Cảnh Sắc một cách trọn vẹn.  Khi Tâm Tham sanh khởi một cách trọn vẹn rồi thì tùy theo trạng thái của Thân hoặc Lởi mà sanh khởi ảnh hưởng từ nơi Tâm Tham đó, cũng thường hiện bày ra trạng thái của Tham.  Sự việc nầy là như vậy, cũng là do bởi chính mãnh lực của Tư căn Tham. Do đó, Tâm Sở Tư nầy mới được gọi là Câu Sanh Nghiệp Duyên

-----------------------------

 

No comments:

Post a Comment