Saturday, November 7, 2026

089 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 13 tháng 1, 2024

 089 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 13 tháng 1, 2024  

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 089 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Khi mình nói; gia có gia quy, quốc có quốc pháp, chùa thì có nội quy, pháp có pháp luật.

Thí dụ mình nói chuyện về gia đình: Gia đình có đạo lý của gia đình gọi là gia đạo.  Nhưng cái này là hiệp thế.

Nói theo siêu thế, thì gia đạo này là nhân đạo (nhân là người, nhân đạo là đạo lý của con người). Con ruột, con nuôi, đều có gia đạo. 

Thiên tử có Thiên đạo, đạo lý của trời.

Phật tử thì có Phật đạo, có đạo lý của Phật dạy cho mình.

Gia đình có đạo lý của gia đình - Gia Đạo

Bên Việt Nam người ta thường hay nói chết là đi theo ông bà.

Ngay cả Nguyễn Trãi còn ra tập thơ Gia Huấn Ca thể loại giáo dục gia đình hồi nhỏ Sư có đọc, thuộc loại gia đạo chết đi theo ông bà.

Thứ hai nữa là mình phải làm theo lời cha mẹ mới là có hiếu, 

Hiếu Đạo, chữ Hiếu Đạo này, giữa của gia đạo và của Phật đạo, chữ hiếu đó mấy cô sẽ thấy nó phù hợp hay không phù hợp.

Về gia đạo, tập thơ Gia Huấn Ca, thể loại giáo dục cho gia đình, cha mẹ dạy con phải nghe lời, áo mặc không qua khỏi đầu.

Trang 55 - Quyển Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi

Bất hiếu hữu tam, có 3 điều bất hiếu: không vâng lời cha mẹ, không lo học hành, không có con để nối giòng.

Trật rồi, bất hiếu rồi, quá đáng. Bất hiếu hữu tam - không có con nối giòng nối dõi là bất hiếu, thì phải sinh con đẻ cháu à, mình thua, mình đứng thế nào để đỡ. Đức Phật không có dạy vậy.

-------------------------------

Giáo Án Trường Bộ Kinh. - Tỳ Khưu PASADO Sán Nhiên biên soạn

Bài Kinh 31 Sigalovada Sutta - Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt. 

Vada là Giáo Giới.

Sigalo là chàng thanh niên tên Sigala.

 trang 187

B. Duyên Khởi

Với lòng kính tín, cung kính tôn trọng theo lời di chúc của thân phụ, thanh niên tên Sigālaka, mỗi sáng dậy sớm, với áo và tóc thấm ướt, đi ra khỏi thành RĀJAGAHA (Vương Xá), chắp tay đảnh lễ sáu phương và không hiểu biết ý nghĩa của việc đảnh lễ này.

----------------------------

Thanh niên Sigālaka ra giữa ngã tư đường lạy, thì bữa đó Đức Phật Ngài thấy người thanh niên này có duyên với Đức Phật, Ngài tới gần và nói: "Này Sigālaka, ngươi lạy như vậy có biết ý nghĩa gì không, lạy như vậy có giá trị gì không?

Thanh niên Sigālaka trả lời: Con không biết, nghe lời người cha của con trước khi chết, cha buộc là nếu con có hiếu với cha thì vâng lời cha phải làm điều này, nên con phải làm theo lời cha.

Do đó, mỗi buối sáng thanh niên Sigālaka dậy sớm, với áo và tóc thấm ướt rồi ra ngã tư đường lễ lậy. 

Đức Phật mới dạy Thanh niên Sigālaka ý nghĩa lễ Lục Phương.

--------------------------------

C. Chánh Kinh:

I. Đức Phật Ngài giải thích ý nghĩa lễ bái Lục Phương theo luật pháp của bậc Thánh.

1. Phải từ bỏ mười bốn Ác Pháp 

  Đó là diệt trừ bốn Nghiệp phiền não, không làm điều Ác theo bốn lý do, và không theo sáu nguyên nhân để phung phí tài sản.  

(1) Diệt trừ bốn nghiệp phiền não:  

 · Nghiệp phiền não sát sanh  

· Nghiệp phiền não trộm cắp 

· Nghiệp phiền não tà dâm 

· Nghiệp phiền não nói láo 

“Sát sanh và trộm cắp, 

Nói láo, lấy vợ người. 

Kẻ trí không tán thán, 

Những hạnh nhiệp như vậy.”  

(2)  Không làm ác theo bốn lý do:

· Ác Nghiệp làm do Tham Dục 

· Ác Nghiệp làm do Sân Hận 

· Ác Nghiệp làm do Si Mê 

· Ác Nghiệp làm do sợ hãi

“Ai phản lại Chánh Pháp, 

 Vì Tham, Sân, Bố, Si. 

 Thanh danh bị sứt mẻ, 

 Như mặt trăng đêm khuyết. 

 Ai không phản Chánh Pháp, 

 Vì Tham, Sân, Bố, Si. 

 Thanh danh không bị sứt mẻ, 

 Như mặt trăng đêm đầy.”  

 (3)  Không theo sáu nguyên nhân để phung phí tài sản: 

 · Đam mê ẩm tửu 

· Du hành đường phố phi thời 

· La cà đình đám hý viện 

· Đam mê cờ bạc 

· Giao du với ác hữu 

· Quen thói lười biếng

2. Có sáu điều nguy hiểm trong việc đam mê ẩm tửu: 

 · Tài sản hiện tại bị tổn thất 

· Sanh khởi tranh chấp cãi vã 

· Bệnh tật dễ xâm nhập 

· Tổn thương danh dự 

· Để lộ âm tàng (mất cả sự hổ thẹn:  mất nết, nằm bờ té bụi, v.v…) 

· Tổn hại trí lực 

 3. Có sáu điều nguy hiểm trong việc du hành đường phố phi thời: 

 · Tự mình không được che chở hộ trì 

· Vợ con không được che chở hộ trì 

· Tài sản không được che chở hộ trì 

· Bị nghi ngờ là tác giả các ác sự 

· Là nạn nhân các tin đồn thất thiệt 

· Tự rước vào thân nhiều phiền não 

 4. Có sáu điều nguy hiểm của sự la cà đình đám hý viện:

· Luôn luôn tìm xem chỗ nào có nhảy múa 

· Luôn luôn tìm xem chỗ nào có ca hát 

· Luôn luôn tìm xem chỗ nào có tiếng nhạc 

· Luôn luôn tìm xem chỗ nào có tán tụng 

· Luôn luôn tìm xem chỗ nào có nhạc tay 

· Luôn luôn tìm xem chỗ nào có trống đàn 

 5. Có sáu điều nguy hiểm của sự đam mê cờ bạc: 

 · Nếu thắng thì sanh sự oán thù 

· Nếu thua thì sanh tâm sầu muộn 

· Tài sản hiện tại bị tổn thất 

· Lời nói mất giá trị, không hiệu lực tại hội trường 

· Bằng hữu đồng liêu (không cờ bạc) khinh miệt 

· Không xứng được người gả con hay cưới làm vợ 

 6. Có sáu điều nguy hiểm của sự thân cận các Ác Hữu:

· Bạn cờ bạc 

· Bạn loạn hành đàng điếm 

· Bạn nghiện rượu 

· Bạn gian trá, trá ngụy 

· Bạn lường gạt, giựt của người 

· Bạn bạo động 

 7. Có sáu điều nguy hiểm của thói quen lười biếng: 

 · Lạnh quá, không làm việc 

·  Nóng quá, không làm việc 

· Trễ quá, không làm việc 

·  Sớm quá, không làm việc 

·  Đói quá, không làm việc 

·  No quá, không làm việc 

 Trong khi những công việc phải làm, lại không làm.  Tài sản chưa có, lại không xây dựng nên.  Tài sản có rồi, lại làm tiêu mất.

(Hết phần chánh kinh - phần 1. Phải từ bỏ mười bốn Ác Pháp )

--------------------------------

Đức Phật mới dạy ý nghĩa lạy sáu phương trời theo luật của Ngài dạy. Thì cái này thuộc Gia Đạo hay thuộc Phật Đạo?

Do đó, khi mình đứng góc độ này, mình nhìn ngược trở lại khi thanh niên Sigālaka lạy một lạy với lời dạy của Đức Phật, cái lạy đó không bỏ lời hứa với người cha của mình, nhưng thanh niên Sigālaka hiểu được ý nghĩa cái lạy của mình, chứ không phải anh ta làm với trạng thái vô ích máy móc, làm trạng thái không hiểu ý nghĩa, làm như vậy, như bài học tuần trước là làm với Đại Thiện Tương Ưng Trí, chứ không phải làm với trạng thái Đại Thiện Bất Tương Ưng Trí, thì nó mới có giá trị.  Làm như máy móc, làm với trạng thái không suy nghĩ, làm không có sự hiểu biết, mình làm như vậy không có được phước báu.

Thì Đức Phật Ngài dạy: Xa Lánh Mười Bốn Ác Pháp.  

Trong bài kinh này, người cha kêu con nghe lời cha Gia Đạo Hệ Tộc mà không có nói, cũng không có hiểu, không có chỉ hay dạy, chính người cha nói.

Bài kinh Sigalovada Sutta này là Gia Đạo, Gia Huấn Ca, và cái này kèm theo Phật Đạo thì mới có giá trị.

Mỗi hướng Ngài dạy hết, Ngài thuyết giảng phương cách.

---------------------------------------------------

Trang 192. 

Chánh Kinh:

III. Đức Phật thuyết giảng phương cách hộ trì sáu phương.

Sáu Phương cần được hiểu biết như sau:

. Phương Đông cần được hiểu là Cha Mẹ

. Phương Nam cần được hiểu là Giáo Thọ

. Phương Tây cần được hiểu là Vợ Chồng

. Phương Bắc cần được hiểu là Bạn Hữu

. Phương Dưới cần được hiểu là người giúp việc, tôi tớ

. Phương Trên cần được hiểu là Sa Môn, Bà La Môn

---------------------------------------

Phương Đông là phương của Cha Mẹ, Phương Đông là phương mặt trời mọc.  Khi mình quay về hướng Đông thì biết đó là hướng của Cha Mẹ. Phương Nam là hướng của Giáo Thọ là Thầy Tổ của mình. Phương Tây là hướng của Vợ Chồng. Phương Bắc là hướng của Bạn Bè, Phương dưới là người giúp việc hay là huynh đệ của mình. Phương Trên là các vị Trưởng Thượng, Sa Môn, Bà La Môn.

Thì đối với Cha Mẹ là Phương Đông thì mình phải có

-----------------------------------

Chánh Kinh. Trang 193

Ia. Năm điều người con phải phụng dưỡng Cha Mẹ (Phương Đông)

. Nuôi dưỡng Cha Mẹ

. Gánh vác công việc thay thế cho Cha Mẹ

. Gìn giữ gia đình và truyền thống

. Xứng đáng người thừa tự tài sản

. Làm tang lễ khi Cha Mẹ qua đời và kiến tạo Thiện Sự để hồi hướng Phước Báu đến Cha Mẹ đã quá vãng.

Ib. Năm điều Cha Mẹ có lòng thương tưởng đến con

. Ngăn chặn con làm điều ác

. Khuyến khích con làm điều thiện

. Dạy cho con nghề nghiệp

. Dựng vợ gả chồng xứng đáng cho con

. Đúng thời trao tài sản thừa tự cho con

Như vậy, phương Đông được che chở, được trở thành an ổn và khỏi các sự sợ hãi.

 2a. Có năm điều người đệ tử phải biết phụng dưỡng vị Thầy Giáo thọ (Phuong Nam) 

. Đứng dậy tiếp rước khi Giáo Thọ đến, 

. Hầu hạ Giáo Thọ theo giờ nhứt định

. Hăng hái siêng năng học hỏi nơi Giáo Thọ

. Tự phục vụ Giáo Thọ những công việc linh tinh của Thầy

. Chú tâm kính cẩn học hỏi nghề nghiệp

2b. Có năm điều vị Giáo Thọ có lòng thưởng đến người đệ tử

. Huấn luyện đệ tử những điều mình đã được khéo huấn luyện

. Dạy dỗ bảo trì những điều mình đã được khéo bảo trì

. Dạy bảo thuần thục mọi loại nghề nghiệp (không giấu nghề)

. Khen ngợi đệ tử với các bạn bè quen thuộc

. Bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt, trong mọi sự việc.

(Hết phần Chánh Kinh)

-----------------------------------------------------

Bài kinh này rõ ràng bổn phận đối với Thầy Giáo Thọ.

Phương Tây là nói đến Vợ Chồng trong gia đình, có năm điều đối với Chồng Vợ

Phương Bắc, Phương Trên, Phương Dưới.

Bài Kinh Sigalovada Sutta này dậy đầy đủ. không  xa các giáo điều của họ, không  xa Gia Đạo của họ, không xa con đường Gia Đạo của họ, nhưng ở trong Thập Đạo.

------------------------------------------------------

Qua phần Giáo Án Trung Bộ Kinh

 Bài Kinh 29. Kinh Đại Lõi Cây (Mahasaropamasutta) và Kinh Tiểu Lõi Cây

Trang 157

CHÁNH KINH

I. Pháp môn ẩn dụ lõi cây thứ nhất.

Ví như một người muốn được lõi cây, tầm cầu lõi cây.  Trong khi đi tìm lõi cây, đứng trước một cây thẳng đứng to lớn, người ấy lại bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong và vỏ ngoài, chỉ chặt cành lá và lấy chúng mang đi, mà tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy liền nói rằng "Thật sự người nầy không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong và vỏ ngoài, không biết cành lá.  Người nầy không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu". 

Cũng như vây, một Thiện Nam Tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình "ta bị chìm đắm trong Sanh, Già, Bệnh, Chết, Sầu Khổ Bi Uu Não, bị chi phổi bởi đau khổ.  Rất có thể toàn bộ Khổ Uẩn nầy có thể chấm dứt".  Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng và vị ấy hoan hỷ tự mãn.  do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng nầy, vị ấy khen mình chê người "ta được lợi dưỡng như vây, được danh vọng như vậy.  Còn các Tỳ Khưu khác ít được biết đến, ít có uy quyền".  Vị ấy trở nên mê say, tham đắm, phóng dật.  Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.

Vị Tỳ Khưu nầy được gọi là vị đã nắm lấy cành lá của Phạm Hạnh, vi do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây.

(hết phần chánh kinh)

---------------------------------

Có hạng người như vậy, đúng không. Khi đứng trước một cây họ chỉ lấy cành lá rồi mang về. 

Ở đây có bốn pháp, đọc cái này mình thấy bốn pháp, Sư chỉ các cô đọc kinh mà biết cách thâu được ý của Đức Phật thì mới nắm được trí tuệ của Đức Phật, chứ còn không là không được

Thì qua bốn pháp; đứng trước một cây thẳng đứng to lớn, bỏ qua lõi cây là cái ruột.  Thí dụ, cắt ngang cái cây thì nhìn thấy lõi cây nằm ở giữa, là cái ruột của cây.  Mà cây già chừng nào thì cái lõi nó cứng chừng nấy.

 Giác cây thì bọc bên ngoài, là phần thứ hai. Còn phần vỏ cây nằm ngoài cùng, tới nữa là thân cây và lá cây.  Có nhiều người chỉ lấy lá cây, nhánh cây đem về, người ta không nghĩ tới vỏ cây, vỏ ngoài vỏ trong, không lấy giác cây, mà họ lấy lõi cây. 

Như vậy pháp có bốn:

1. Thân và lá

2. Vỏ trong vỏ ngoài

3. Giác cây

4. Lõi cây

Pháp Đức Phật cũng vậy, từ Tạng Luật tới Tạng Kinh, Tạng Abhidhamma, đi bốn pháp từ ngoài đi vô thì mình mới lấy được cốt lõi của Kinh ra. 

Có nhiều người nghe pháp mà mình thích mình hoan hỷ, Đức Phật nói hạng người này chỉ thích cái vỏ bề ngoài thôi, không lấy cái ruột, chỉ cái ruột có chất lượng thì mới có kết quả được.

 Do đó, thì khi mình học để tu một pháp nào cũng vậy, mình cũng phải đi qua bốn giai đoạn để tới cái pháp đó mới thấm được, chứ không phải mình nói suông.

 Có người hời hởt, sơ sài, chủ quan, lượm xong đem về mà không xử dụng được.

Ví dụ như có bốn hạng người, nhưng thật ra một pháp có bốn loại, bốn giai đoạn, bốn hạng thứ tự lớp lang.  Ngài nói có bốn hạng người, thì Pháp có bốn loại. Mình phải nhớ, chứ không phải mình làm suông.

Có bốn hạng người, người sơ sài, người không có chất lượng bên trong, người không có tâm, người không có đầu óc.  Mình nói vậy đó, rồi mình đi tìm hay suy nghĩ một cách khiếm khuyết.

Do đó, khi Đức Phật Ngài thấy Sigālaka quì lạy theo lời người cha thì con hiểu được con lạy cái này vì chữ hiếu với Cha, nếu con không làm thì con bất hiếu, vậy con làm con có hiểu không?  Thì bắt đầu là phải bốn pháp.

Thí dụ Đức Phật Ngài nói trong bài Sigalovada Sutta. 

Có năm điều người con phải phụng dưỡng Cha Mẹ 

. Nuôi dưỡng Cha Mẹ

. Gánh vác công việc thay thế cho Cha Mẹ

. Gìn giữ gia đình và truyền thống

. Xứng đáng người thừa tự tài sản

. Làm tang lễ khi Cha Mẹ qua đời và kiến tạo Thiện Sự để hồi hướng Phước Báu đến Cha Mẹ đã quá vãng.

Thì mình nghe phụng dưỡng Cha Mẹ có bốn Pháp. Nuôi dưỡng Cha Mẹ là phải có bốn pháp, chứ không phải là nuôi dưỡng Cha Mẹ theo bốn pháp nuôi dưỡng Cha Mẹ là cứ hầu hạ, cơm ăn, nước uống, không phải hầu hạ áo quần, mà mình phải đi sâu vô., vừa thân, vừa tâm, hiệp thế, siêu thế.

Thì cái nghĩa đó, khi nói nuôi dưỡng Cha Mẹ, một vị Thầy thuyết giảng sẽ giảng theo pháp cành lá, hay giảng theo pháp vỏ bên trong vỏ bên ngoài, hay là giảng theo giác cây, hay người Thầy sẽ giảng theo lõi cây của việc nuôi dưỡng Cha Mẹ, mới có giá trị.

 Nên khi đọc qua bài kinh Lõi Cây, mình đọc trở lại bài kinh Sigalovada Sutta Giáo Giới Sigalo, mình phải hiểu chắc chắn Pháp của Đức Phật thì mới nắm được ý Đức Phật, thì mới có kết quả.

Khi đọc bài Kinh Sigalovada Sutta này, hay là bài kinh Song Tầm (Dvedhavitakka Sutta - Trung Bộ Kinh) cũng vậy, hay Kinh Lõi Cây thì ghi ra phương pháp.

Sư đọc qua bài kinh là Sư biết cách liền, và Sư chia sẻ với quí Phật tử với góc độ để nhìn Giáo Pháp Đức Phật.  Có nhiều người nhìn Pháp Đức Phật sơ sài giống như lá cây, hoa với cành thôi, chứ không tìm được lõi cây.

Nuôi dưỡng Cha Mẹ. Khi làm một luận án về Phật Pháp về các tương quan duyên sinh, thường người ta trình bày năm pháp bổn phận của người con đối với Cha Mẹ theo Phương Đông dựa theo bài kinh Sigalovada Sutta.  Thì các quí Thầy, các Tăng sinh viết rớt hết, cho dù Sư cho mở tài liệu ra coi, tại vì không ai cố vấn cho họ cách dùng phương pháp mà Đức Phật dạy, nên quí Phật tử trình luận án hồi xưa là vậy.

Thí dụ như bài kinh Tứ Niệm Xứ có bốn pháp, thân cây của Tứ Niệm Xứ là gì, vỏ trong vỏ ngoài của Tứ Niệm Xứ là gì, giác cây của Tứ Niệm Xứ là gì, lõi cây của Tứ Niệm Xứ là gì, mình áp dụng vô được.

Cũng như Bát Chánh Đạo, thân cây Bát Chánh Đạo là gì, vỏ cây trong cỏ cây ngoài của Bát Chánh Đạo là gì, giác cây của Bát Chánh Đạo là gì, lõi cây Bát Chánh Đạo là gì, phải biết áp dụng vào.

Nên mấy cái đó là Phật Đạo, không phải Nhân Đạo, không phải Gia Đạo, mà mình cứ lấy Gia Đạo hay Nhân Đạo chủ quan của mình hay là hiệp thế của mình, thấy thiện kiến của mình, không xử dụng được thì uổng cuộc đời của mình.

Thiền sinh hỏi: đâu có bắt buộc đi từ thân lá bên ngoài mà mình đi thẳng vô cái lõi luôn phải không?

HT trả lời: chưa chắc, không qua thân lá thì làm sao vô được lõi, phải biết bốn pháp đó thì mới đi được, không biết bên ngoài thì làm sao vô được bên trong lõi.

Thế thì khi nhìn thấy Pháp của Đức Phật Ngài nói, với bốn phương pháp này thì nhìn trở lại thế gian này cái pháp đời này nó cũng có bốn Pháp, cái cốt lõi nó là vậy.

Bất hiếu hữu tam (bất hiếu có ba) thân lá của nó là cái gì, cái vỏ trong vỏ ngoài của bất hiếu hữu tam là cái gì, và cái giác của bất hiếu hữu tam là cái gì, và cái lõi của bất hiếu hữu tam là cái gì?

Người mà nói cái đó cũng có ý nghĩa, chứ không phải họ nói trong vô nghĩa hay vô ích.  Mà họ nói cái đó họ có cái gì bảo vệ cho câu nói của họ để mà chứng tỏ họ nói đúng, đương nhiên khi họ nói ra là họ nói đúng, họ có lý do của họ.  Mà quí Phật tử không nắm được cái đó là không bẻ gãy được cái đó là thua cái đó, bắt buộc mình phải nhìn lại.

Khi Sư giảng lớp Tăng Ni sinh, Sư giảng nuôi con để nhớ ơn Cha Mẹ là sai.  

Tăng Ni mới hỏi, sao hồi đó Sư nói nuôi con để nhớ ơn Cha Mẹ mà.

Sư mới nói, vậy thì những người không có con để nuôi thì không nhớ ơn Cha Mẹ sao?  Cái đó là trật rồi. biết đạo làm người là biết ơn Cha Mẹ, không cần đợi tới có con mới biết ơn Cha Mẹ,  nhiều khi Cha Mẹ mất rồi mình mới có con.

Thì cái lõi cây, cái lõi cốt lõi mà họ nói câu: "Có nuôi con mới biết ơn Cha Mẹ" là nó có cốt lõi mới nói ra câu đó.

Cũng như Việt Nam mình hay người Hoa nói: "Hào con hào của - con đông chừng nào của nhiều chừng nấy.

Nên quí cô phải biết cách này, phải biết dùng Pháp.

Khi nói tới bài kinh Sigalovada Sutta thì mình phải lấy bốn Pháp Lõi Cây, mình dùng bốn Pháp Lõi Cây này áp dụng vô trong bài Sigalovada Sutta mới có ý nghĩa, chứ nói suông là chưa đủ, mà người dạy Sigalovada Sutta chưa đủ, và bộ chú giải nằm trong đó.  Mình học phải có trí tuệ, mình phải có sự hiểu biết thì mình nhìn Pháp mới đầy đủ được, còn không đọc suông rồi cắt nghĩa suông.

-------------------------------------

Trang 157 

Một người có mắt thấy vậy liền nói rằng  " Thật sự người này không biết lõi cây. không biết giác cây, không biết vỏ trong và vỏ ngoài, không biết cành lá.  Người nầy không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu"

Người có mắt thấy và người không có mắt là Ngài nói là mắt tuệ, tuệ nhãn, chứ không phải mắt trần mắt thịt

Khi mà câu này: Một người có mắt thấy vậy liền nói rằng  " Thật sự người này không biết lõi cây. không biết giác cây, không biết vỏ trong và vỏ ngoài, không biết cành lá.  Người nầy không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu"

Cũng như vậy, một Thiện Nam Tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình "Ta bị chìm đắm trong Sanh, Già, Bệnh, Chết, Sầu Khổ Bi Ưu Não, bị chi phối bởi đau khổ.  Rất có thể toàn bộ Khổ Uẩn nầy có thê chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng và vị ấy hoan hỷ tự mãn.

---------------------------------

Thì câu này "Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng và vị ấy hoan hỷ tự mãn."  Thì đem bài kinh đó, cái đoạn này bỏ qua bài kinh Trường Bộ Kinh bài DN2 "Quả Báo Sa Môn - Samaññaphala Sutta " thì mới thấy phước đầu tiên của Quả Báo Sa Môn của người xuất gia là đầu tiên được tôn kính. Đức Phật nói với Ajātasattu (A-Xà-Thế) và Chư Tăng ở trong rừng già.  Xuất gia là được người ta tôn kính.

Thì lúc đó mình mới thấy:

Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng và vị ấy hoan hỷ tự mãn.

--------------------------------

GIÁO ÁN TRƯỜNG BỘ KINH

Bài 2: KINH QUẢ BÁO SA MÔN (Sāmamaññahala Sutta) (trang 17)

Trang 19

Chánh Kinh

I. Đức Phật trả lời quả báo của hạnh Sa Môn.

Có tất cả 13 lợi ích của Sa Môn hạnh như sau:

1. Sự kính trọng và cúng dường danh cho một vị Sa Môn.

* Ví như có một vị đại quan biết nhận thức sự lợi ích của việc làm Thiện có quả dị thục công đức, nên đã cáo quan từ chức, xuất gia tu tập, sống tinh cần thu thúc thân, lời, ý, hoan hỷ tri túc trong ăn uống, y  áo, và trú xứ thanh tịnh.  Người có nhiều đức hạnh như thế thì hằng được tôn kính, cúng dường, và bảo hộ đúng theo Luật Pháp.  Chính như thế là quả báo thiết thực hiện tại của hạnh Sa Môn.

* Ví như có một nông phu cũng có những suy nghĩ (như trên) và đi đến hành động (cũng như trên) thì cũng vẫn có được sự tôn kính, cúng dường, và bảo hộ đúng theo Luật Pháp.  Chính như thế là quả báo thiết thực hiện tại của hạnh Sa Môn.

(dứt phần Chánh Kinh)

--------------------------

Khi mình đọc bài kinh Lõi Cây: "Vị ấy xuất gia, được cúng dường, được tôn kính, danh vọng và vị ấy hoan hỷ tự mãn." Là họ lọt vô Quả Báu Sa Môn này, và họ hưởng cái này, thì họ là người đang lượm thân cây của việc xuất gia của mình.

Hệ thống học Tam Tạng của quí Phật tử phải biết hết, bài kinh áp dụng như thế nào để thành bài luận án.

Đức Phật nói nếu như bạn có sự kính trọng, bạn có được sự cúng dường do sự xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình mà được có quả báo Sa Môn này mà bạn tự mãn là bạn đang hưởng lá cây của người xuất gia thôi, của hạnh Sa Môn thôi, chứ không tìm được lõi cây.

Thì lõi cây của Sa Môn là cái gì?  Phải là giải thoát tri kiến, phải là giải thoát.

Tại sao lõi cây không phải là cung kính, không phải là sự cúng dường.  Nếu bạn hoan hỉ, bạn hưởng sự hoan hỉ sự cúng dường này, người ta tôn kính mình, người ta lễ bái mình, người ta cho mình, mà mình dừng lại ở đây là bạn đi Sa Môn này, bạn sống đời sống của một người lượm lá cây, thân cây mà thôi.

Rồi xong xuôi cái đó, mới chụp bài kinh đó trong ý nghĩa này đối chiếu qua Thập Đội Quân Ma, Tự Tán Hủy Tha (khen mình mà chê người)

 Do đó, khi mình nhìn Pháp với phương pháp mà Đức Phật Ngài dạy thì quí Phật tử nhìn thấy thông suốt con đường tu của mình, còn không thì mình lơ tơ mơ lù bù rồi nghĩ theo ý chủ quan của mình. 

- Tại sao mình tự tán hủy tha? 

- Tại vì mình tự mãn.  

- Tự mãn chỗ nào?

- Tại tôi được sự cúng dường, tự mãn từ được cung kính, tự mãn trong sự hoan hỉ.

Đó là mình đang sống là cây, cái vỏ thôi, chưa vô tới vỏ mới bề ngoài thôi.

 Mình đọc được Pháp đó, mình hiểu được Pháp đó thì đầu tiên là quay trở lại soi rọi mình trước.  Đừng có nhìn người ta, mình nhìn người ta là mình sai trật rồi. Mình soi rọi mình để mình sửa để tu.  Mà có khi mình nhìn người ta mình còn tự tán hủy tha, "tôi hơn anh thua", "tôi cao anh thấp"

Phải cẩn thận.  Đó là cái bẫy sập của Ác Ma.  Đội quan ma luôn luôn tìm chờ sẵn những người phóng dật, những người không có niệm.  Nên chữ niệm là "tự giác" là "tỉnh thức".  Sự tu của mình là phải luôn luôn "tỉnh giác", mình chỉ có "niệm" nhưng chưa "tỉnh giác", có ghi nhớ nhưng không thức tỉnh.

Nên trong bộ Phật Sử & Sở Hạnh Tạng (Buddhavaṃsa & Cariyāpiṭaka) bà Elizabeth không bao giờ nói enlightenment, mà bà chỉ dùng chữ awake tức là tỉnh thức, tỉnh giác, chứ bà không dùng chữ giác ngộ. 

 Đấng tự tỉnh giác - self-aware, chứ không nói self enlightenment

Quí Phật tử thấy họ dùng từ đó mình phải đọc mình phải hiểu, chứ không phải mình nói chủ quan được, mình phải nghiệm cái đó với lời Phật chỉ mình, mình mới thấy được lõi cây, chứ học qua loa thì bao giờ xong, phải hết sức cẩn thận, chứ không phải mình học chủ quan khinh xuất mà tự mãn được.

Nên mỗi một Pháp đi, mỗi Pháp bài học mình thấy mình còn khiếm khuyết, nên mình phải ráng.

 Chữ defect dịch là khuyết hãm. 

Khuyết điểm, nghĩa là nó chưa đủ hoàn toàn như ý của mình.

Còn chữ khuyết hãm là nặng hơn, là theo như ý của mình, nó chưa hoàn toàn theo như ý của mình, thì cái đó gọi là defect.

Chữ defect là chưa đủ hoàn toàn như ý của mình thì người ta gọi là khuyết hãm. Là vì sao, nó làm như vậy, như vị Thiên Tử của vua Trời Đế Thích xây thảo am cho Ngài mà Ngài nói vẫn còn khuyết hãm, là chưa được như ý Ngài.  Còn khuyết điểm là họ đã làm sai, làm thiếu.  Còn cái này có. Vị Chư Thiên làm xong rồi, nhưng Ngài thấy là chưa đúng với ý Ngài, thì gọi là khuyết hãm.

Mình xây cái nhà mình thấy có nhiều khuyết điểm, đó là lỗi của thợ.  Nhưng người ta làm hoàn hảo rồi mà mình thấy nó khuyết hãm là nó chưa vừa ý mình.

Cái tu của mình, mình không trách ai hết, mà mình thấy mình còn khuyết hãm, quí Phật tử phải học chứ không được tự mãn.

Sự hoan hỉ tự mãn là mình đang khuyết hãm.

Trong gia đình của Cha Mẹ ruột thì có Gia Huấn Ca, có Gia Đạo, hay Đạo Lý của gia đình đó, mà theo hướng đó thì nó sẽ có

Nhưng Đức Phật Ngài dạy trong gia đình con cái làm đúng theo lời Cha Mẹ nhưng phải hiểu ý nghĩa của Cha Mẹ hay hiểu ý của Cha Mẹ mình làm, thì mới có giá trị, thì từ chỗ đó mình không còn khuyết hãm nữa.

Vậy thì đứng góc của Siêu Thế quí Phật tử mới thấy là trí tuệ rất quan trọng, trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, của bậc Thánh, hay trí tuệ của bậc trí giả, nó sẽ bổ túc được bên Hiệp Thế, chứ còn chỉ Hiệp Thế là không đủ.

Mình không chê gia đình dở, gia đình kia giỏi, nhưng với trí tuệ mình nhìn là thấy được.  Cái tu của mình là vậy.  Mình thấy mình vẫn còn nhiều điều khuyết hãm, và Pháp mà mình đang sống trên đời này còn nhiều điều khuyết hãm, chưa hoàn hảo.

Như vậy thì.  Con nuôi có gia đạo của nó, có đạo lý của nó.  Nhưng mà đứng với Đức Phật Ngài chỉ nói đó là Nhân Đạo.

Tới phần Thiên Tử - Đạo lý của người con Trời là Thiên Đạo.  

Thì Đức Phật dạy Thiên Đạo như thế nào? Và con người mình nhìn Thiên Đạo như thế nào? 

Mỗi một vị Thiên Tử có Thiên Đạo,  mà Thiên Đạo của vị Thiên Tử đó làm theo lệnh của Thiên Chủ, hay là Thiên Đạo của tổng quát ở cõi Trời, mình không biết.  Vị Thiên Chủ coi một cõi trời, các vị Thiên Tử ở trong cõi trời đó phải làm theo, đó là Thiên Đạo..  

Nhưng tới Đức Phật Ngài nói rất rõ ràng : "Ngũ Giới bất trì, triệt lộ nhơn thiên".  Người giữ năm giới này họ được trở lại làm người làm trời, Thiên Đạo có ngũ giới: 1. Không sát sinh, 2. không trộm cắp, 3. không nói dối, 4. không tà hạnh,  5. không dùng các chất say. Thiên Đạo là ngũ giới

Quí Phật tử coi lại bài đó bài Sigalovada Sutta coi lại trang 187

----------------------------------------

C. Chánh Kinh:

1. Đức Phật giải thích ý nghĩa lễ bái Lục Phương theo luật pháp của bậc Thánh

1. Phải từ bỏ mười bốn Ác Pháp

Đó là diệt trừ bốn Nghiệp phiền não, không làm điều Ác theo bốn lý do, và không theo sáu nguyên nhân để phung phí tài sản

(1) Diệt trừ bốn nghiệp phiền não:

. Nghiệp phiền não sát sanh

. Nghiệp phiền não trộm cắp

. Nghiệp phiền não tà dâm

. Nghiệp phiền não nói láo

  "Sát sanh và trộm cắp.

   Nói láo, lấy vợ người.

   Kẻ trí không tán thán

   Những hạnh nghiệp như vậy"

-----------------------------------------

Thì đó là Nhân Đạo, có qua phần Thiên Đạo.  Câu Đức Phật nói kẻ trí không tán thán, tức là với người có trí tuệ họ mới nhìn ra được Đại Thiện Tương Ưng Trí.  "Kẻ trí không tán thán với những người làm điều này".  Nếu mà sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối thì kẻ trí không tán thán thì coi như là khuyết hãm.  Do đó, khi làm việc nào phải dùng trí suy xét, mình có trí mình thấy được, và kẻ trí nhìn thấy được, hai cái đó mới kết hợp được.  Không bao giờ nghĩ rằng mình làm mà người trí không thấy, không biết.

Do đó, khi nói tới Thiên Đạo, câu đầu tiên là "ngũ giới bất trì, triệt lộ nhơn thiên" Đức Phật nói câu đó là mình giựt mình rồi.  

Năm con đường đó, năm giới hạnh đó, năm việc làm đó mình phải dừng lại, thì mình có đường trở lại làm người làm Trời.  Nếu mình vẫn tạo tác thì mình có bốn đường ác đạo, thì không có Nhân Đạo, không có Thiên Đạo thì có bốn đường ác đạo. Rồi mình đọc lại thì thấy đó là Nhân Quả, nhân này có quả đó, chứ không có sự sắp đặt, không có sự cưỡng chế hay là cái gì giáo lý để thức tỉnh được, mà có nhân thì có quả là mình thức tỉnh rồi, không cần ai cưỡng chế.

Như vậy thì qua tới Đức Phật khi Ngài nói Thiên Tử thì giữ giới.  Nhưng không, nếu muốn sinh về cõi trời mà bạn không biết cõi nào?  Như Đ Đ Xá Lợi Phất về thăm ông Bà La Môn trước khi chết, ông Bà La Môn không có đi về Niết-bàn, ông không muốn giải thoát, ông nói với Đ Đ Xá Lợi Phất cho về cõi Trời Sắc Giới.  Thì Đ Đ Xá Lợi Phất chiều ý ông Bà La Môn nói về cõi Trời Sắc Giới. 

Thì khi bạn muốn vô được cõi Trời Sắc Giới, bạn phải có Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, và có Nhất Tâm với các đề mục mà mình đang chọn lọc, thì con đường đó về Sắc Giới.  Đem câu chuyện đó về nói với Đức Phật, Đức Phật nói: "nếu gặp Như Lai thì Như Lai đưa ông Bà La Môn đến con đường đó giải thoát luôn chứ không về cõi Trời Sắc Giới".

Như vậy mình học thêm được từ Đức Phật không những giữ Giới mà còn phải trau dồi Định mới sinh về cõi trời.  Con đường phóng dật mới đi luân hồi sinh tử trong bốn đường ác đạo.

 Đức Phật Ngài nhìn góc độ đó với trí tuệ.

Do đó,  mình mới hiểu tại sao Hệ Tộc Chư Phật, hay là Buddhavaṃsa Hệ Tộc Chư Phật mình đang học, quí Phật tử phải mau mau chạy vô xưng mình là Gotami, mình phải có ý nghĩa, đi con đường đi theo ông bà.  Nhưng quí Phật tử không chối từ và từ bỏ, giòng giống gia tộc của mình, nên mình phải có trí, mình bổ túc vô thì mình có được phước báu hơn.

Đức Phật Ngài nói; Khi mình đi theo Đức Phật, mình là Phật tử, mình đổi họ.

Khi mình học Buddhavaṃsa nên mới thấy.

Cha Mẹ của mình có về với Đức Phật không? Cha Mẹ mình có qui y với Đức Phật thì về với Đức Phật, mình qui y với Đức Phật thì mình về với Đức Phật, trâu về hiệp phố, cùng một gốc cùng một cội.

Thế thì chữ Đức Phật này không có nghĩa, tại vì mình đặt vậy thôi mình chỉ trở về Tam Bảo độ mình, là tỉnh giác, thì mình có tỉnh giác, mình phải thức tỉnh, Cha Mẹ mình cũng vậy thôi.  Nếu như mình sai, mình khuyết hãm, mình không có ý thức, mình chưa nhận thức, chỉ có đó thôi.

Có nhiều người họ nói bữa nay mình học Đức Phật, rồi mình đổi họ, mình lấy họ Gotama. Mình có gốc có nguồn tại sao mình quên. Cha Mẹ mình cũng về đó, mình cũng đang đi về đó.  Còn nếu như Cha Mẹ không về đường đó, mình cũng phải kéo Cha Mẹ về đó, tại đường đó mình mới sống với chữ hiếu.  Nếu mà chưa xong là quí Phật tử chưa tròn chữ hiếu, không phải sinh con mới là chữ hiếu.

Nếu như quí Phật tử không biết không hiểu thì quí Phật tử đang khuyết hãm, chứ không phải khuyết điểm, chưa hoàn toàn vừa ý.

 Do đó, khi mình nói tới Buddhavaṃsa Hệ Tộc Chư Phật , mình thuộc giòng tộc Chư Phật hay là Phật tộc, thì mình phải hiểu được lõi cây, chứ không phải mình hiểu thân cây, vỏ cây,  giác cây, phải biết lõi cây, và mình phải hiểu bằng trí tuệ chứ không phải trong trạng thái truyền thuyết hay cách quán tính.

Do đó, mỗi cái đều phải có ý nghĩa đó.  Khi mình học Pháp mà không nắm bắt được cái đó coi như là còn thiếu, chưa đủ.

Vậy thì Thiên Đạo của Đức Phật thì đầu tiên là nói tới Giới, nói tới Định mới tới Thiên Đạo được, là phải năm chi; Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Nhất Thống.  Nếu đi cõi Sắc Giới thì đi đường này.

Còn nếu muốn đi lên nữa thì phải có Tứ Vô Lượng Tâm (Phạm Trú).  Đó là mình đang đi tới cấp độ Thiên Đạo, mới tới Thiên Đạo, không qua được.

Tới phần Phật Đạo.  Bữa trước mình nói là mình là Phật tử thì có Phật Đạo.  Cốt lõi của Phật Đạo là Bát Chánh Đạo.  Cốt lõi của Bát Chánh Đạo đi tới Bát Thánh Đạo. 

Bát Chánh Đạo và Bát Thánh Đạo hai cái này khác nhau;  Chánh Đạo đang hành chứng đắc bậc Thánh, trên cả hai vị trí Tứ Đế và Tứ Thánh Đế (không có Tứ Diệu).  Đó là Phật Đạo ở trên có Bát Thánh Đạo có Tứ Đế đi tới quả Thánh, Bát Thánh Đạo thì có Tứ Thánh Đạo, Tứ Thánh Đế.

Trở lại Giáo Án Kinh Trường Bộ

---------------------------------------

Trang 76

 Kinh DN 16 Mahā-parinibbāna Sutta - Kinh Đại Viên Tịch Níp Bàn.

Trang 98

X. Đức Phật tế độ SUBHADDA trở thành người đệ tử cuối cùng

* Du sĩ ngoại đạo SUBHADDA đến vấn hỏi Đức Phật về sự giác ngộ ở các vị Giáo Chủ ngoại đạo.

* Đức Phật cho biết rằng trong Pháp Luật nào không có Bát Thánh Đạo thì không thể có Đệ Nhứt Sa Môn, Đệ Nhị Sa Môn, Đệ Tam Sa Môn, và Đệ Tứ Sa Môn.  Trong Pháp Luật có Bát Thánh Đạo thì có Đệ Nhứt Sa Môn, Đệ Nhị Sa Môn, Đệ Tam Sa Môn, và Đệ Tứ Sa Môn.

* Những hệ thống ngoại đạo đều không có những Sa Môn.  Một vị tỳ khưu với đời sống chân chánh dẫn đến thành tựu quả vị A La Hán.

"Này SUBHADDA năm hai nươi chín,

Ta xuất gia hướng tìm chân Thiện Đạo

Trải năm mươi năm với thêm một năm,

Ta là du sĩ tu Trí tu Đức."

* Với Pháp Thoại đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, đã làm cho du sĩ ngoại đạo SUBHADDA tỏ niềm tịnh tín, xin quy y Tam Bảo, và xin được xuất gia thọ Cụ Túc Giới với trường hợp hoàn toàn cá biệt, không phải trải qua một thời gian sống bốn tháng biệt trú.  Và đại đức ANANDA đã làm lễ xuất gia cho SUBHADDA.

* Đại đức SUBHADA độc cư, an tịnh, không phóng dật, tinh tấn, sống nhiệt tâm, cần mẫn.  Và không bao lâu, đại đức SUHADA chứng đắc quả vị A La Hán và là vị đệ tử cuối cùng được đức Phật tế độ.

(dứt phần Chánh Kinh)

--------------------------------

Đức Phật tế độ Subhadda trở thành người đệ tử cuối cùng trước khi Ngài viên tịch, người đó đắc quả Thánh lúc ông 80 tuổi thọ, mà ông ta là du sĩ ngoại đạo.

Du sĩ ngoại đạo SUBHADDA đến vấn hỏi Đức Phật về sự giác ngộ ở các vị Giáo Chủ ngoại đạo.  

Thì Đức Phật Ngài nói với Subhadda khi mà ông ta hỏi. 

Đức Phật nói: Này Subhadda, Như Lai không đủ thì giờ, người hãy lắng nghe, chỉ trong giáo pháp Như Lai có Đệ Nhứt Sa Môn, Đệ Nhị Sa Môn, Đệ Tam Sa Môn, và Đệ Tứ Sa Môn, trong luật giới xuất gia.  Trong Pháp Luật có Bát Thánh Đạo thì mới có Đệ Nhứt Sa Môn, Đệ Nhị Sa Môn, Đệ Tam Sa Môn, và Đệ Tứ Sa Môn. 

 Bốn tầng Thánh qua con đường Bát Chánh Đạo trở thành Bát Thánh Đạo qua đến Tứ Thánh Đế trở thành bậc Sa Môn.

Đức Phật nói:

Này SUBHADDA năm hai nươi chín,

Ta xuất gia hướng tìm chân Thiện Đạo

Trải năm mươi năm với thêm một năm,

Ta là du sĩ tu Trí tu Đức."

Đức Phật nói tìm chân Thiện Đạo, chứ Ngài không nói chân Thánh Đạo.

Với Pháp Thoại đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, đã làm cho du sĩ ngoại đạo SUBHADDA tinh tấn tu tập.

Ngay đêm đó Subhadda vô rừng tu tập ba tháng.  

Thì với con đường đi của Phật Đạo, không có con đường nào khác ngoài con đường Nhân Đạo và con đường Thiên Đạo thì mình có đường Bát Chánh Đạo. 

 Ở vị trí Bát Chánh Đạo thì lấy Tứ Đế; Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Còn nếu như đạt quả Thánh Đệ Nhứt Sa Môn, Đệ Nhị Sa Môn, Đệ Tam Sa Môn, và Đệ Tứ Sa Môn, thì lúc đó là Bát Thánh Đế (không có Tứ Diệu).  Trong kinh VN viết Tứ Diệu, nhưng không có Diệu.  

Ariyasacca là Thánh Đế

Ariya là Thánh

sacca là sự thật

Do đó, khi mình nắm bắt được, thì từ ở trong con đường mình tu, đi theo con đường của Phật Đạo, thì Ngài là bậc Đạo Sư.  Đức Phật là bậc Đạo Sư, là Thầy chỉ đường đang đi trên đường đi của bậc Giác Ngộ.

"Ta là người đã Giác Ngộ.

Chúng sanh sẽ được Giác Ngộ".

 Ta là người đã Giác Ngộ, chúng sanh sẽ được Giác Ngộ, đi theo con đường của ta, ta là bậc Đạo Sư chỉ đường.  Đi và không đi là do nơi mình.

Trong thế đi của Buddhavaṃsa chia làm hai:

1. Có hạng người đi từ cái Khổ mà đi diệt Nhân Sanh Khổ.  Họ đi từ cái Khổ để diệt cái Tập. Họ bị Khổ từ cái Khổ. Họ Khổ từ cái Khổ này, họ thấy đúng, và không phải là truyền thuyết hay là ai đồn đãi.  

Thí dụ như: Ái biệt ly là khổ, hay là bệnh là khổ.  Thì họ tìm ra được cái khổ này do từ đâu mà có, tìm cái nhân chứ không oán ai được.  Cái đó là người đi từ khổ tìm ra được Nhân Sanh Khổ, nhận thức được từ đó mà không oán trách người nào, kể cả Cha Mẹ của mình, không đổ thừa ai được.

Thì trong cái khổ này có ba loại khổ:

1. Khổ Khổ

2. Hoại Khổ 

3. Hành Khổ

Trong ba cái khổ đó, cái khổ mà sợ hãi nhất là khổ hành. Còn Khổ Khổ và Hoại Khổ thì nó đã an bày rồi.

Vì Hành đem đến khổ, vì Hành mà đem đến cái hoại, nó thay đổi hoài không ngừng.

Ái do ba là Tham, Sân, Si.

Vậy thì trong cái khổ này nhận thức được do từ Tham Ái, Sân Ái, Si Ái mà ra cái khổ này, nhận thức được, không đổ thừa ai được.

Có những người nhìn thấy được lời dạy của Đức Phật mà họ đi tới chấm dứt khổ đau.  

Có người đi từ Đạo họ đi tới Diệt.  Họ đi từ Kiến, từ Tư Duy rồi đi tới Diệt.

Rồi mình ngồi nghiệm lại, thì trong cả hai hạng người đó.  Bây giờ mình dẫn chứng bằng tích chuyện.

Patāccārā sau khi mất người cha người mẹ, mất người anh, mất người chồng, mất hai người con, bà tràn ngập khổ đau, bà bị điên loạn, bà chạy vô trong chùa Kỳ Viên gặp Đức Phật Ngài độ. 

 Bà xin xuất gia, không có con đường nào ngoài xuất gia, con đường ở ngoài đời đầy dẫy khổ, chồng chết, con chết, cha mẹ chết, rồi bị điên loạn.

  Đức Phật Ngài nói: "Nước mắt của Patāccārā hôm nay đã chảy ra, mà không phải chỉ hôm nay thôi, không phải chỉ trong kiếp này thôi, mà Patāccārā đã qua biết bao nhiêu vòng luân hồi, nước mắt rơi nhiều hơn bốn biển. Hãy thức tỉnh".

Khi Patāccārā nghe được lời dạy của Đức Phật và xin xuất gia.  Bà chưa đắc đạo quả.   Từ trong bể khổ bà bước qua cái nghiệp của lời Phật dạy, bắt đầu bà đi qua con đường Phật Đạo thì bà mới có kiến mới tư duy, bả ra giòng sông múc nước đội lên đầu, ngày xưa người Ấn Độ làm vậy, như Ngài Ananda cũng múc nước đội lên đầu mang về.  Thì khi bà múc nước lên, nước chạy từ bình nước, bà dừng lại bà tạt nước từ bình ra chảy xuống, bà tạt nước ba lần như vậy, nước thấm dần xuống đất.   Bà lấy đó làm đề mục thiền quán, và bà Giác Ngộ.

Đức Phật Ngài nói: "Ai sống trăm năm, thấy Pháp sinh diệt, không bằng sinh một ngày thấy được Pháp sinh diệt, thấy đó mất liền."  Thì bà kiến được Pháp Sinh Diệt, chứ bà không kiến cái khổ. Tại mất trí nên khổ, cái khổ ngay sau lưng.

 Do đó, có hai hạng người đi vào con đường Phật Đạo:

1. Nhìn thấy Sinh Diệt, nhìn thấy Vô Thường

2. Do Kiến, do tư duy thấy được sinh diệt, thấy được Vô Thường

Cũng vậy, Upatisa nghe ĐĐ Assaji nói :

 "Tất cả các Pháp sinh lên bởi Duyên.

Chính Duyên hiện bày các Pháp".

Do nghe được câu này Upatisa thấy được Pháp Vô Ngã. Tất cả do Duyên hợp, duyên sanh, duyên hợp và tan, Vô Ngã, chứ Upatisa không thấy cái gì khổ hết, mà cái kiến giải, sự tư duy đúng là ra.

Do đó, quí Phật tử phải nghiệm. 

Quí Phật tử đứng vế nào, đứng về Khổ --> Tập, hay đứng về Hoại --> Diệt.

 Có người khổ đi vào con đường Phật Đạo.  Có người có kiến có tư duy đi vào con đường Phật Đạo.  

Quí Phật tử phải cẩn thận, nếu đang đi trên con đường Phật Đạo, 

Sư nói có hai hạng người, chứ Sư chưa nói tới hạng người thứ ba.

Có hạng người vô Phật Đạo từ cái khổ, là thấy được bản chất tử cái khổ đó là do nhân nào mà họ thức tỉnh, không đổ thừa ai hết, họ lo tu.

Có người kiến thức đầy đủ nhìn vô con đường Phật Đạo họ thấy được thực tướng, và họ lẳng lặng tu giải thoát.

 Thế thì có người từ cái khổ họ đi vô đường Phật Đạo, họ thấy sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, cầu bất đắc, khổ quá, họ đi vào đường Phật Đạo, họ tìm được nguyên nhân khổ đau này là do ái, từ nguyên nhân này, họ không đổ thừa ai hết, họ tu cho tới ngày giải thoát.

Nhưng có người không có khổ, Subhadda là trong hạng người không có khổ. Subhadda là người không thấy khổ mà ông đi tìm giáo lý, Đức Phật chỉ cho ông biết là trong giáo pháp Như Lai có Đệ Nhứt Sa Môn, Đệ Nhị Sa Môn, Đệ Tam Sa Môn, và Đệ Tứ Sa Môn, tức là Ngài đang chỉ con đường Đạo để diệt tắt mọi cái tầm cầu của ông ta, của thế gian.

Như thế thì quí Phật tử đứng ở hạng người nào?

Patāccārā không còn cái khổ, bà được xuất gia và sống trong giáo đoàn của Đức Phật, và bà được an vui đi lấy nước mang về dùng, khi bà nhìn thấy giọt nước bà thức tỉnh là kiến liền đó có tư duy và bà chứng đắc, phối hợp chung với câu Pháp Cú kệ ngôn 113 của Đức Phật: 

"Ai sống trăm năm không thấy pháp sinh diệt, không bằng sống một ngày thấy được pháp sinh diệt"

(Kinh Pháp Cú, kệ ngôn 113)

Bà Kisā Gotami người mẹ có một đứa con, mà đứa con đó chết không ai cứu được, vô tới Đức Phật thì Đức Phật nói, đi tìm chén hạt đậu của nhà người nào không có con trai hay con gái, hay bất cứ ai chết tới đây Như Lai sẽ cứu con.  Nhưng bà biết rằng nhà nào cũng có hạt đậu, nhưng nhà nào cũng có người chết, do đó bà thức tỉnh.  Sau khi bà chôn cất đứa con xong bà sắp xếp gia đình, tài sản bà bỏ hết bà đi xuất gia.  Bà Kisā Gotami sống an phận nhất trong Tăng đoàn.  Một hôm bà Kisā Gotami ở trong thảo am của bà có thắp cây đèn cầy, bà chăm chú nhìn ngọn lửa.  Ngọn lửa chập chờn tắt.  Bà lấy đó làm đề mục thiền quán. Ngọn lửa vừa tắt thì Đức Phật nói câu kệ: 

"Ai sống một trăm năm, Không thấy pháp sinh diệt, bằng sống một ngày, thấy được pháp sinh diệt"

(Kinh Pháp Cú kệ ngôn 114)

Bà đắc quả A La Hán, bà đâu có khổ, bà là tỳ khưu ni đang sống trong sự an trú của Phật lực đang bảo hộ cho bà.  Cái khổ của bà đã qua rồi, con bà chết thì bà khổ nhưng bà chưa đắc đạo.  Nhưng do câu mà Đức Phật nói bà mới đắc đạo.

  Thiền sinh: Có hạng người đi tìm giáo lý thì họ đi theo đường Phật Đạo.  Rồi từ Phật Đạo đó họ mới thấy họ khổ, họ chiêm nghiệm họ thấy rằng đời là khổ.

HT trả lời: Khi họ không thấy khổ, nhưng mà vô học giáo lý con đường đạo họ thấy được đời là khổ .

Lúc chưa đi tìm giáo lý Phật Đạo, họ không thấy gì là khổ đau, khi càng vô họ càng thấy khổ.

Người vô Phật Đạo mà phát triển Tuệ Văn thì có Kiến Văn rồi có Kiến Giải.

Khi phát triển Tuệ Tư thì có Tư Duy (Chánh Tư Duy)

Rồi qua Tuệ Tu thì có Minh Sát Trí, Minh Sát Tuệ (qua phần thực hành)

 Khi người thấy càng nhiều thấy Pháp Đức Phật thì họ thấy đời khổ, bản chất của khổ đó họ đang thấy cái kiến giải của họ.  Cái người mà đọc nhiều họ có kiến văn, họ thấy kiến giải, họ có thể là một nhà kiến giải sư nữa, có thể là giáo thọ, họ có thể giải thích được.  Nhưng họ không nếm được, hưởng được cái vị đạo giác ngộ giải thoát.

Trong Chánh Tư Duy, trong Thánh Tư Duy, lúc bấy giờ họ ly tham, ly sân, ly si thì họ mới có, cái này họ đang trau dồi kiến giải, kiến văn.  Mình học tới đâu mình coi tư duy của mình thì mới ra.

Mình phải cẩn thận, mình trở thành một kiến giải Sư, một kiến giải giáo thọ giỏi, phân tích đời là khổ, bản chất đời là khổ, thế gian là khổ, sanh diệt khổ, chính xác, nhưng ly tham ly sân, ly si mình chưa làm, mình vẫn còn khổ.  

Mình phải đi đúng ba tuệ này (Tuệ Văn, Tuệ Tư, Tuệ Tu) thì mới được kiến giải là phải tu tập mới ra, chứ còn không là đi suốt con đường ngang, phải cẩn thận.

Họ phải đa văn quảng kiến, họ thấy rõ bản chất đời là khổ, hay thế gian là khổ, cái khổ của thế gian này minh bạch nhưng không thưởng thức được cái hạnh phúc, vì họ chỉ có kiến văn thôi,  ly tham, ly sân họ chưa diệt.

Bây giờ trở lại, mấy cô ở trong vế nào?

Chính quí Phật tử đứng trong con đường Phật Đạo mà không biết mình ở trong hạng người nào.  Quí Phật tử phải mau mau, tại vì không ai nói cho mình biết thì mình lo, giờ có người nói cho mình biết, như bữa nay Sư nói cho quí Phật tử biết nhưng quí Phật tử cũng không chọn được.  

Quí Phật tử còn đang trong khổ, giờ mình thấy được thế gian này khổ thì mình lo mình tu, còn hai nữa là mình có kiến văn, mình có trí thức, mình thấy con đường Phật Đạo, mình tự lo mà tu.  Thời gian này học tới đâu mình diệt tới đó thì là con đường mình đang tu là vế Tập này.

Còn cái vế Khổ là mình tìm cái nguyên nhân mình nghiễm ra mình lo tu.

  Nếu tôi đang khổ, tôi tìm được nguyên nhân tôi không đổ thừa trách ai, tôi lo tu.  Tôi biết là nhân này quả này, tôi đang nhận cái khổ này, một trong tám nỗi khổ, hay là một trong khổ hành, tôi nghiệm ra được điều đó, tôi lo tìm được cái nhân quả này, tôi lo tu.

Còn tôi hiểu được Phật Đạo này tôi phải lo diệt tất cả những cái gì mà mình đang có.  

Subhadda đi vế thứ hai (Tập).  Subhadda là người đi tới để mà có kiến văn và diệt liền những cái sai trật của mình.

Khi người ta hỏi bạn đi từ khổ, bạn dùng phương pháp nào để bạn được nhân quả mà không đổ thừa ai?  Ghi nhận điều đó, bạn đang tìm con người kiến văn cho học đạo, bạn đi tới con đường diệt tắt những gì thân, ngữ, ý của mình trong khi mình đang tu tập.

Thì quí Phật tử phải trả lời:  Tôi là hạng người Subhadda.  Các quí Phật tử phải trả lời mình là Subhadda.  Mình không còn nằm trong trạng thái Khổ Tập.  Tại vì trạng thái Khổ Tập đó và mình không cần biết cũng có rồi.  Học lời Phật dạy, mình coi lại nghiệp của mình, lời Phật dạy đó mình diệt cái nghiệp của mình thì không còn cái khổ.  Khi nghe được lời Phật dạy, khi nghe được lời kinh dạy, hiểu được ý nghĩa của sự tu tập là mình lo diệt, chứ không quay trở lại tìm Khổ Tập.

Tại sao quí Phật tử nói nhận được rồi khi Sư nói có bốn loại Tộc: Nghiệp Tộc, Gia Tộc, Thiên Tộc, Phật Tộc, nếu chọn Phật Tộc thì phải tìm lõi cây của Phật Tộc.  Thì khi đi vào con đường Phật Đạo, mình tìm ra được Tứ Đế thì con đường Tứ Đế phân hai, thì mình đang đi con đường Đạo Diệt - từ Đạo Đế cho đến Diệt Đế, chứ không đi Khổ Đế và Tập Đế, không quay trở lại, và không nhìn thấy mấy cái đó, tôi chỉ hành theo lời Phật dạy, tôi diệt liền, đường Đạo tới đâu tôi diệt khổ liền tới đó.

Tu là phải Diệt, mình hướng vào lời Phật dạy mình diệt, chứ mình không phải đi tìm nhân và quả nữa./.

-------------------------------------------

Notes

-----------------------------------

Tứ Thánh Đế có bốn là: 

1. Khổ Thánh Đế, 

2. Tập Khổ Thánh Đế, 

3. Diệt Khổ Thánh Đế, 

4. Đạo Diệt Khổ Thánh Đế

------------------------------

Bát Khổ:

1. Sanh Khổ: Từ hồi trong bụng mẹ và 

2. Lão Khổ

3. Bệnh Khổ

4. Tử Khổ

5. Cầu bất đắc khổ

6. Ái biệt ly khổ

7. Oán tắng hội khổ

8. Ngũ uẩn khổ (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nếu không điều hòa nhau là khổ

---------------------------------------

Ba trạng thái khổ (Dukkhata), khổ của pháp thực tính, tình trạng bất ổn của pháp hữu vi:

1. Khổ khổ (Dukkhadukkhatā ), trạng thái khó chịu vì khổ thọ của thân và tâm, tức là thân đau đớn, tâm buồn bực.... sự khổ này thông thường chúng sanh đều nhận biết được.

2. Hoại khổ (Vipariṇāmadukkhatā), sự bất ổn do mất mát thay đổi, như là tình trạng thọ lạc diệt mất tạo ra sự thất vọng.

3. Hành khổ (Sankhāradukkhatā), sự bất kham do tính cách sanh diệt của danh sắc hữu vi.  Sự khổ này xuất phát từ tràng thái vô thường, sự khổ hiển nhiên của pháp hành.  Chỉ có tuệ quán mới nhận thức được sự khổ này.

(Kho Tàng Pháp Học - HT Giác Giới)