Tuesday, August 15, 2023

028 Paṭṭhāna - HT Sán Nhiên giảng ngày 27 tháng 8, 2022

 028 Paṭṭhāna

 HT Sán Nhiên giảng ngày 27 tháng 8, 2022 

Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng "028- Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ. 

Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.

Namo Buddhaya

Minh Hạnh

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

Thiền sinh hỏi: Vô Minh duyên hành ở bên phía thiện hành do mãnh lực của Thường Cận Y Duyên, mà hành theo phía bất thiện hành thì mãnh lực của Câu Sinh Duyên. Hai cái đó như thế nào mà nó đi hướng này thì mãnh lực này đi hướng kia thì mãnh lực khác?

HT trả lời: Vô Minh nói theo chi pháp ra được cái Duyên.

Vô Minh có 8:

1. Bất Tri Khổ Đế

2. Bất Tri Tập Đế 

3. Bất Tri Diệt Đế

4. Bất Tri Đạo Đế

5. Bất Tri Nhân Quả đã qua

6. Bất Tri Nhân Quả hiện tại

7. Bất Tri Nhân Quả liên quan

8. Bất Tri Liên Quan Tương Sinh

Hành có 6:

1. Thân Hành

2. Ngữ Hành

3. Phúc Hành (Thiện)

4. Phi Phúc Hành (Bất Thiện)

5. Bất Động Hành (Vô Ký)

6. Ý Hành

 Phần Hành của Thân, Ngữ, Ý là của Thân, Ngữ, Ý

Còn Phúc Hành, Phi Phúc Hành, Bất Động Hành - thì qua Câu Sinh.

Sư giải thích:

Thân, Ngữ, Ý, thuộc về Thường Cận Y Duyên, là do tập khí.

Thiền sinh hỏi: Nhưng Thân, Ngữ, Ý, Thường Cận Y Duyên có khi đi hai chiều, Thiện và Bất Thiện.

HT trả lời: Đúng vậy, Duyên là chung, Duyên có 2 chiều, đó là phần chi tiết của nó.

Còn phần Thiện là Phúc, Phi Phúc Hành là Bất Thiện, Bất Động Hành là Vô Ký, 

- Về chi pháp Thiện là Tâm và Tâm Sở Thiện, Tâm và Tâm Sở Bất Thiện, Tâm và Tâm Sở Duy Tác và Vô Ký và Quả, thì thuộc về Câu Sinh Duyên

Vô chi tiết thì thiện với bất thiện lại khác. 

Do đó, đứng về góc độ khi mình làm trong phạm vi Thân, Ngữ, Ý, thì mình bị mãnh lực của Thường Cận Y. Khi đứng về góc độ làm việc về tâm thì thuộc về mãnh lực của Câu Sinh, tại vì Tâm với Tâm Sở luôn luôn đồng sinh đồng diệt với nhau.

Hai cái đó mình viết chi pháp ra là mình thấy rõ.

Như đứng về góc độ Lộ Ngũ Môn với Lộ Ý Môn.

Lộ Ngũ Môn thuộc Dị Thục Quả.

Lộ Ý Môn thuộc Thiện, Bất Thiện, ý mình thiện hay ý mình bất thiện.

 Lộ Ngũ Môn gồm nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, thuộc về Dị Thục Quả.

Lộ Ngũ Môn gồm 5 đôi, nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, thuộc về Dị Thục Quả.

Thiện với Bất Thiện thuộc phần Ý Môn, nó nằm trong ý của mình nó không cho Dị Thục Quả.

Do đó, mình phải hiểu chi pháp, khi nắm được chi pháp thì ra được mãnh lực duyên, hay mình học mãnh lực duyên mình hiểu được chi pháp thì mình hiểu được vận hành của nó hiểu được mãnh lực của nó tạo tác như thế nào.

Do đó, Thân, Ngữ, Ý, của con người, hay của chúng sinh đều là Thường Cận Y, trong Thường Cận Y này luôn luôn có Dị Thời Nghiệp, có nghiệp quá khứ kết hợp nhau.

Còn Câu Sinh Duyên có Câu Sinh Nghiệp Lực Duyên là phần tạo tác bởi nghiệp lực.

Khi nói tới phần Câu Sinh Nghiệp Lực thì chia ra, Câu Sinh Nghiệp có Dị Thời Nghiệp. Khi mình nói tới phần chi pháp mình mới ra được. Nên tại sao đi về Thân, Ngữ, Ý là Thường Cận Y có Dị Thời Nghiệp. Nếu đi về Thiện với Bất Thiện nó thuộc về Tâm và Tâm Sở, nó thuộc giống Câu Sinh Duyên. 

Mình đi vô chi tiết có một cái duyên nữa 2 duyên nữa, thí dụ như Tương Ưng Duyên toàn là Danh Pháp, không có Sắc Pháp, tại vì Sắc Pháp không có Tương Ung, chỉ có Bất Tương Ưng.

 Thứ hai nữa đi thêm tiếp nữa là Vô Gián chỉ là Tâm với Tâm Sở nó vô gián nó  đi liên tục cho tới Tâm Tử vô Alahan.

Hồi đó Sư học Paṭṭhāṇa học về Duyên, Sư phải nắm chi pháp. Sư tính sau khi làm xong bộ Paṭṭhāṇa về 100 Nhị Đề thì Sư ra một quyển tổng hợp lại 22 Tam Đề và 100 Nhị Đề toàn bộ chi pháp Năng Sở Định. Quyển đó nắm bắt được Duyên một cách cụ thể hơn.

Khi nói tới Lộ Ý Môn trong đầu của mình nó không bắt cảnh ở ngoài, nó bắt cảnh ở trong nội tâm của mình, bắt cảnh thiện với bất thiện, nó không có Dị Thục Quả.

Còn Lộ Ngũ Môn, nhãn bắt cảnh, nhĩ bắt cảnh v.v... thì cái đó thuộc Dị Thục Quả.

Dị Thục Quả có 2 loại: Dị Thục Quả của Dị Thời Nghiệp, Dị Thục Quả của Tiền Sinh Nghiệp. Nó có phần tiền sinh nữa, cái trước sinh khỏi tác động cho hiện tại đang bị chi phối. Những cái đó đi vô phần chi tiết mình mới thấy.

Khi nói tới Lộ Ý Môn là trong tâm tư mình suy nghĩ. Lộ Ý Môn có 2 điểm chính là:

1. Thứ nhất nó có Tâm Hữu Phần. Là khi không có cảnh, nó ở lại phần nuôi dưỡng danh pháp. Thì Tâm Hữu Phần có 3 cảnh: Cảnh Nghiệp, Cảnh Nghiệp Tướng, Cảnh Thú Tướng. Ba cảnh này thuộc về quá khứ.

2. Thứ hai nó có Tâm Đổng Lực thuộc về hiện tại tạo tác. Do đó khi mình không có Đổng Lực phần ý môn của mình, chẳng hạn, nó có 3 điều xảy ra:

1. Thứ nhất là mình đang ngủ.

2. Thứ hai là mình đang thức mà mình nghĩ không ra, nghĩ câu chuyện không ra, hay là câu chuyện đó mình nhớ lại không được. Thí dụ một học sinh, học toán, học văn, học sử địa, trường hợp như một học sinh trong năm học hết rồi, cuối năm đi thi ra trường hay thi lên lớp, bài thi đó nghĩ không ra bài học đã học để giải bài thi này, cái đó cũng thuộc Lộ Ý Môn, người học sinh nghĩ không ra bài học đã học mà không nhớ được, thuộc về Hữu Phần.

 Nghĩ không ra, hoặc không nghĩ được, một là mình đang ngủ, mình không giải đáp được, thì tâm Hữu Phần sinh lên, thứ hai đang thức nhưng nghĩ không ra, cảnh đó mình không nhớ được, thì thuộc về Nghiệp, Nghiệp Tướng. Thuộc Lộ Trình Chiêm Bao, thuộc về cảnh bất minh hiển, cảnh không rõ. 

Thì một là đang ngủ say. 

Chiêm bao chỉ có khi người đó đang ngủ chập chờn không toàn giấc cứ mơ mơ tỉnh tỉnh, thì mới có Lộ Chiêm Bao. Còn nếu mà ngủ sâu, ngủ thiếp, ngủ say sưa thì không có chiêm bao.

Thì một là đang ngủ say, 2 là nghĩ không ra, 3 là không nhớ ra được điều mình muốn nhớ, thì Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng nhảy vào chiếm Lộ Ý Môn của mình đang bỏ trống.

Còn nếu như nghĩ ra rồi thì Tâm Đổng Lực hiện lên cắt đứt phần Hữu Phần này, cắt đứt dòng tư tưởng nuôi dưỡng 3 cảnh nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng cắt đứt liền.

Thế thì khi mình đang ở trong trạng thái. Để Sư nhắc chỗ này là điểm tu. Khi mình đang ngồi thiền, hay mình đang đọc kinh sách, hay đang ngồi suy nghĩ, thì nếu như mình ngồi thiền mà mình không sáng suốt với đề mục đó, không liễu tri đề mục đó, cái diễn tiến của đề mục đó, cái sinh diệt của đề mục đó, hay là pháp đang chuyển xoay của đề mục đó thì tâm tư của mình trong cảnh Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng của "tôi" "ta" kiết sử. Còn nếu mình thấy đề mục minh bạch rõ ràng, thí dụ mình biết danh, sắc đang sinh diệt mình thấy rõ thì tâm đó là Tâm Đổng Lực không có cảnh Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng của mình chen vô.

Vậy thì mình đang ngồi thiền, cũng như người đang ngồi đọc sách, thí dụ như mình đọc đoạn kinh đó không hiểu, thì mình có ý kiến của mình vô liền, hay là tư kiến của mình chen vô liền, mình nghĩ như vầy, mình chắc là như vầy thì cái đó là Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng của quá khứ nó chen vô nó không phải thiệt.

Trường hợp tại sao người ta nhiều chuyện, người ta nhiều chuyện là tại vì người ta không nắm được câu chuyện, phải có nhiều chuyện vô để biết là người ta là giỏi là hay. Chữ nhiều chuyện là người ta bỏ nhiều chuyện vô, chứ chuyện đó chỉ có một, bỏ nhiều chuyện là cái Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng của người ta bỏ vô trong câu chuyện đó cho nhiều, họ không sài Tâm Đổng Lực mà sài tâm Hữu Phần quá khứ bỏ vô, nó làm loãng sự thật câu chuyện của chất lượng đó.

Chính mình cũng vậy, mình đang tu mà mình không nắm được pháp mà mình đang hành thì bắt đầu mình bỏ kiết sử mình vô, rồi mình tưởng và mình chấp lầm. Minh ôm cứng nó, chứ thật ra pháp đi trật rồi, đã đi sai rồi, mà mình cứ nghĩ là mình nắm bắt đúng.

Mình nghĩ không ra, nhớ không được thì cảnh Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng nhảy vô, rồi nó giải đáp cho mình hết, mà cái giải đáp của nó là sai, cái đó thuộc quá khứ rồi, mà câu chuyện nào nó ra câu chuyện đó, chứ không phải mình lấy câu chuyện này đắp vô mà mình không hiểu và mình cứ để nó trôi đi.

Nên tu tập không phải Nệm là hay, mà Tỉnh Giác mới là đúng. Tu tập không phải là Niệm. Niệm chỉ là phần đầu thôi, chỉ là tiền đề thôi, là khởi mào thôi, Tỉnh Giác mới là chính là tu tập mới thành tựu được, lúc nào cũng phải Tỉnh Giác chứ không có trạng thái ngủ say, không trạng thái nghĩ không ra, nhớ không được. Tỉnh Giác là mình nhớ ra được, mình nghĩ ra được, mình không có ngủ, mình đang tỉnh.

Thiện và Bất Thiện đều có Tâm Hữu Phần và Tâm Đổng Lực.

Khi mình không nắm bắt được, mình ở một trong 3 cái; ngủ say, không nghĩ ra, không nhớ là mình sài tâm Hữu Phần, sài một trong 3 cái Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng, nó lôi kéo mình đi rồi đưa ra kiết sử mình ở trong đó không ra, cái đó gọi là lậu hoặc, nhiều khi biết mà không sửa, tâm của mình biết hết nhưng không sửa.

Đức Phật hiện hữu, luận sư ngoại đạo biết con đường giải thoát, con đường giác ngộ, con đường Alahan, nhưng luận sư ngoại đạo không sửa, Đức Phật Ngài tới tế độ nhưng không chịu sửa, cho tới bây giờ bao nhiêu triệu kiếp rồi, bao nhiêu luân hồi rồi mà họ không chịu sửa. 

Chuẩn xác tà kiến nặng hơn ngũ nghịch đại tội. Ngũ nghịch đại tội trả hết nợ thì mình giải thoát, chuẩn xác tà kiến không bao giờ thoát ra được, gọi là kiến hữu, nằm trong kiến chấp, làm khổ mình thôi.

Mình ở trong 3 cái; ngủ say, không nghĩ ra, không nhớ ra, những trường hợp đó sài Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng, trong đời sống bình nhật của mình.

Thường Cận Y nhiều hơn là Câu Sinh. Câu Sinh chỉ có một là hiện tại thôi, Thường Cận Y là có nhiều ở quá khứ, hiện tại, vị lai, nó làm đủ thứ.

Thường Cận Y là quả của tâm Đổng Lực Câu Sinh, nó là quả của tâm Đổng Lực từ sát na  2 đến sát na 6 ( 2 - 6) nó ra Thường Cận Y Dị Thời Nghiệp. Một cái câu sinh chỉ có tâm Đổng Lực một, nó hiện báo nghiệp, còn Đổng Lực 7 nó qua Dị Thời Nghiệp của thời vị lai.

Trong 7 sát na tâm Đổng Lực, thì sát na thứ nhất là Hiện, sát na thứ 7 là Hậu, còn 5 sát na giữa là Hậu Hậu.

Thì  Hiện Báo Nghiệp (cái thứ nhất) là Câu Sinh nó chỉ có một, còn 5 cái giữa là Hậu Hậu Báo Nghiệp Quá Khứ  là Dị Thời Nghiệp Quá Khứ, còn cái thứ 7 là Hậu Báo Nghiệp là Dị Thời Nghiệp Vị Lai.

Hiện Báo Nghiệp (cái thứ nhất) có 1 trên 7, mà cái 2 với 6 (Hậu Hậu Báo Nghiệp) là Lộ Trình Tâm nào cũng có. Do đó, khi thân, ngữ ý mình làm một chuyện thôi mà 2 với 6 này quá khứ hiện tại nó trồng nó trổi ra, nên Sư nói khi mình trả quả mình trả từ sát na tâm.

 Khi mình hiểu được mãnh lực của nó và chức năng của nó mà nó tạo tác ra mình kinh khiếp quá mình không dám khinh suất dễ dui. Phải cẩn thận, tại vì tâm Đổng Lực thứ nhất chỉ có hiện báo nghiệp ngay hiện tại, trong kiếp này, trong thời điểm này chỉ có một. 

Còn 2 với 6 nó đều gieo trồng cho tới kiếp thứ 3 nó mới ra. Còn cái thứ 7 là kiếp thứ 2 sau kiếp này nó mới ra. Hai cái cộng lại nó bứt cái thứ nhất dễ như không. Chưa kể Lộ Trình Tâm trước là 2 - 6 nhập vô nữa.

Thiền sinh hỏi: Thưa Sư, cái Hiện Báo Nghiệp nó có một, nhưng còn cái 2 - 6 nó nhiều nó sẽ trổ kiếp thứ ba đi luôn, nhưng mà cái Hiện Báo Nghiệp hiện tại, thí dụ như là một người đang tu để tạo việc thiện, một tâm bất thiện chỉ có 12 tâm sở bất thiện nó phụ nhau thì nó trổ quả ít hơn là một tâm đại thiện 

HT trả lời:

Một trong 12 tâm bất thiện nó trổ có 7 quả bất thiện thôi. Còn một trong 8 tâm đại thiện nó trổ quả từ 8  cho tới 16 quả, ba hạng 8, 12, 16. Nhưng không phải vậy. 

Cái tính của người trí không tính cái đó, cái đó chỉ là Niệm thôi.

Cái Tỉnh Giác là không nghĩ tới quá khứ.

Cái cửa ngõ, ngủ say, cái chữ Hán nó hay lắm, cái Lộ Chiêm Bao giờ Sư mới coi chữ Hán chữ ngủ say gọi là thụy tưởng, mà nếu như nằm mộng mà thấy cái gì thì gọi là mộng ảo, mà cảnh hiện bày trong giấc mộng thì gọi là mộng cảnh. Nhưng đối nghịch với nó lúc mình thức gọi là giác tỉnh.

Nếu mình đang ngủ say gọi là thụy tưởng.

Nhưng có giấc mộng thì gọi là thụy mộng.

Những cảnh mộng gọi là mộng ảo hay là mộng cảnh, nhưng thức tỉnh mình bị kêu thức dậy, hay là mình hết ngủ mình thức dậy thì gọi là giác tỉnh. Giác tỉnh nghịch lại với giấc ngủ.

Thì tiếng Nho gọi là Giác Tỉnh, tiếng Việt gọi là Tỉnh Giác.

Thì không bao giờ để cho cái không nghĩ ra, không nhớ lại được mà phải là luôn luôn Tỉnh Giác.

Vậy thì phải từ đầu tới nay mấy bài học qua rồi, Sư muốn nhắc 2 điều là không chạy quay đầu lại mà cứ đi tới, không nhìn lại quá khứ thì không biết 12 tâm bất thiện có bao nhiêu tâm quả của tâm bất thiện. Chỉ biết làm sao ta làm được tối đa các quả của thiện. Không thể mình làm cái quả là 8 được, mà muốn 12 nữa, phải là 16. Cái suy nghĩ của mình chỉ ở cái đó thôi, tâm bắt một cảnh thôi, thì cái đó mới chồng lên thì cái kia không chen vô được. Đó là Tỉnh Giác, chứ không phải mình đối phó với cái quả bất thiện.

Từ buổi đầu của lớp zoom Sư không nói tới bất thiện, Sư chỉ nói pháp thiện thôi.

Khi ta làm nếu không có trí mà không có Tỉnh Giác thì tập khí nó xen vô mình chỉ có 8 hay 12 thôi, do đó mình phải biết tích lũy, tập trung, phải là 16, 16, 16.

Khi độ chín muồi trong thân ngự ý của mình là trong giai đoạn 2 tới 6, cái đầu chưa đủ, và cái cuối không có, nhưng nó lại không trổ ngay trong hiện tại mà nó trổ ở kiếp thứ 3.

Do đó, 2 - 6 ngay khi đang làm là cái đó là cái già dặn nhất trong điều thiện của mình làm, mà nó lại không trổ ngay trong hiện tại được. Khi mình chớm lên bắt đầu làm thì chưa đủ năng lực mà chưa đủ kết quả cho mình để mình gặt hái mình đón nhận thì mình phải trải qua 2 - 6. 

Cái đầu mình chưa có được cái gì, chẳng hạn như mùa an cư của Chư Tăng, tháng đầu chưa có chi hết, là sát na đầu, nhưng từ Rằm tháng Bảy cho tới 30 tháng Tám chốt lên mới tạo ra được. Thì cái tạo ra được phước đầy đủ nhất của Chư Tăng trong giai đoạn từ Rằm tháng Bảy cho tới 30 tháng Tám là cho Ông Bà Cửu Huyền Thất Tổ của mình là quá khứ. 

 Thế thì mình ở đâu?

Thì bây giờ trong mùa an cư này là tất cả những việc thiện nào mình có làm Giới Định Tuệ hay là Thập Phúc Hành Tông, mình làm ra đều tập trung hồi hướng cho Cửu Huyền, thế thì mình ở đâu?

 Mấy cô đặt câu hỏi đó đi. Bây giờ mình có bao nhiêu phước mình cho hết Cửu Huyền, đó là quá khứ, thì cái của mình ở đâu, khi mà hết rồi, có cái hậu để lại cho mình có một chút xíu ở sát na thứ 1 và thứ 7 là cho mình, còn 2 - 6 cho Cửu Huyền. Cái tu của mình là vậy đó, cách sống của mình là vậy đó, và tác ý của mình là vậy đó, và mình phải gieo trồng như thế nào mình phải biết cách làm cho được.

Khúc đầu và khúc cuối cho mình, còn khúc giữa cho Cửu Huyền. Đoạn đầu mấy cô cúng dường Chư Tăng, chứ đâu cho Cửu Huyền, mấy cô gieo cho quí Sư, để quí Sư có đủ điều kiện quí Sư tu, rồi tới Rằm tháng Bảy tới 30 tháng Tám mình làm phước cho Cửu Huyền của mình, tới mùng 1 tháng Chín tới 15 tháng Chín mình lo sắm sửa để cúng dường Chư Tăng để ra An Cư.

Thì  2 - 6 là chín muồi nhất trong một lộ trình Đổng Lực, cái 1 là cái mới thì yếu  và 7 là cái cuối là cái tàn thì yếu, 2 - 6 nó thuần thục, già dặn đầy đủ, mà 2 - 6 lại là kiếp thứ 3 mới trổ ra, còn cái thứ 1 và thứ 7 thì chỉ có cái 1 là mình hưởng, còn cái thứ 7 đến kiếp thứ 2 mình mới hưởng.

 Trong hàng ngày trong mỗi thứ Bảy quí Phật tử đến chùa học tu, mấy cô cúng dường nào là phước vật. phước trí, mấy cô làm tam phước mỗi thứ Bảy, ở nhà cũng vậy mấy cô làm tam phước; phước vật, phước đức, phước trí mỗi ngày, mấy cô phải nhớ lúc nào làm việc phải đủ tam tư (Tư Tiền, Tư Hiện, Tư Hậu) và đủ tam phước (phước vật, phước đức, phước trí) mỗi ngày, mỗi lúc. 

Nhưng khi tác ý mình làm trong 7 sát na tâm Đổng Lực này thì mình chỉ được cái thứ nhất thôi, 7 tâm Đổng Lực mình chỉ được có 1 là Hiện Báo Nghiệp, tất cả những cái gì mỗi ngày mình làm từ đây cho tới ngày nhắm mắt, từ cái biết Phật Pháp, từ việc làm việc thiện tạo ra phước báu thì mình chỉ được có 1 sát na thứ nhất, 2 - 7 mình để ống để dành thôi.

(Một thiền sinh nói đập ống ra lấy phước trong đó, một thiền sinh nói đòi phước lại.)

Quí cô vô nhà băng mua CD ( Certificate of Deposit) thì họ có terms 12 tháng, hoặc 3 tháng hay 3 năm, thì đâu đập bể ống được, hay là mua 4.1 k để dành về hưu hưởng mà chưa tới hạn kỳ lấy ra bị phạt. Những gì mấy cô nói nãy giờ là mấy cô rơi vào trường hợp; nghĩ không ra, nhớ không được. Mấy cô liền bỏ vô cái Nghiệp, Nghiệp Tướng của mấy cô vào.

Và câu trả lời là

Thế thì hôm nay ta làm việc thiện này, đồng ý là ta chỉ được 1 (cái thứ nhất), nhưng trong sát na 2 - 6 của ta trong quá khứ (trổ trong kiếp thứ 3) là nó trổ cho ta hôm nay. Mình chỉ sống có 1 nhưng có phước báu từ  2 - 6 từ kiếp quá khứ thứ 3 trước kia nó trổ ra cho mình, hôm nay mình mới có thân hình này, mình có cuộc sống này, mình có nghiệp báo này. Nhưng mình không chịu Tỉnh Giác, do đó mình lại phóng trở lại Nghiệp Tướng của mình khi mình nghĩ không ra, mình lại không nhớ điều này điều kia thì bắt đầu trả lời theo Thường Cận Y (đập ống) và Dị Thời Nghiệp (cho mà đòi lại) mà không sống trong Tỉnh Giác của Câu Sinh Nghiệp, mình phải bình tỉnh, mình vẫn có 2 - 6 của quá khứ, hôm nay mình sống đây có 1, nhưng vẫn còn 2 - 6 quá khứ, nó vẫn là của mình không ai lấy nó hết.

Chính cái đó là bài học của mình, mà bài học đó vừa mới test mấy cô lọt vô liền. Minh phải tỉnh giác, chứ đừng sống theo trạng thái nghĩ không ra bỏ nghiệp của mình vô lại, mình tạo tác nữa, cái đó là sai ghê lắm. Cái đó, mấy cô phải nhớ bài, phải bình tỉnh, mình phải tỉnh giác, và mình sống trong trạng thái trí tuệ, không phải 12 mà có 7, không phải có 8 mà có 12, 16 nhưng phải trong Tỉnh Giác, cho dù là công thức có hay là pháp hiện bày như vậy có, nhưng mình phải sống trong Tỉnh Giác, mình phải biết là:

-  ta đi với nghiệp của ta, bữa nay ta tạo ra việc thiện này, nhưng ta còn bị ảnh hưởng của nghiệp quá khứ của ta nữa, chưa chắc hình thành cho ta theo ý của ta, nó còn lèo lái dẫn dắt mình đi nữa. Nếu không có Tỉnh Giác thì mình đi theo trạng thái như là một người thụ động, mình sống trong sự thụ động.

Dị Thời Nghiệp + Thường Cận Y, thân, ngữ, ý, chạy theo nghiệp, và nghiệp tướng.

Do đó, khi mình ngồi thiền cũng vậy, mình nghĩ không ra bắt đầu mình bỏ cái nghiệp mình vô, mình không bao giờ bỏ trống, và không bao giờ mình muốn làm người bỏ cuộc, do đó mình phải đắp vá vô, những cái đó có trạng thái không thành, không có kết quả, đó là không đúng.

 Cách sống của mình thiếu Tỉnh Giác, Sư không nói cái Niệm, cái Niệm là mình biết hết, nhưng mình không có Tỉnh Giác, cái Niệm sẽ trở thành cái thụ động của mình và nó sẽ dắt mình đi trong trạng thái con rối, nó làm cho mình một cách vô ích.  Cho nên mình sống phải cẩn thận.

Do đó, đời sống của mình phải cẩn thận, mình Câu Sinh nhiều hơn hay là Dị Thời Nghiệp, Thường Cận Y nhiều hơn. Minh phải biết không cái nào nhiều hơn cái nào ít hơn, mà chỉ có trạng thái thiếu Tỉnh Giác hay có Tỉnh Giác thôi, thì có quân bình, nếu có Tỉnh Giác mình có quân bình, cho dù 1 và 7 của hiện tại, nhưng mà mình biết Tỉnh Giác thì mình có 2 - 6 của quá khứ cộng lại thì cũng bằng với cái mình đang làm thiện, còn không thì thấy không công bằng. Bảy cái mà sài có một, còn 6 cái kia là của quá khứ vị lai thì mình sợ rồi, mình không chịu, nhưng mà thực ra nếu mình Tỉnh Giác mình lấy được cái 2 - 6 với cái 7 của quá khứ mình cộng lại được.

Do đó, khi nói tới Cửu Huyền, có 2 Cửu Huyền 7 và cửu huyền 2 - 6. Cửu Huyền 7 là mới, ông bà cha mẹ của mình mới, thì cái đó, khi làm việc phước mà mình hồi hướng mình hồi hướng đến Cửu Huyền 7 chứ mình không hồi hướng đến Cửu Huyền 2 - 6 vì mình không biết những ông bà cha mẹ đó.

Mình hồi hướng là hồi hướng cho số 7.

Mình việc thiện nào đúng thì mình mới có phước vả người đón nhận việc hồi hướng mới có hiệu quả được, chứ còn không chung chung thì không được.

Mỗi một vấn đề có 7 giai đoạn

1) Paticcavàra – Giai đoạn Liên Quan

2) Sahajàtavàra – Giai đoạn Câu Sanh, 

3) Paccayavàra – Giai đoạn Duyên Sinh, 

4) Nissayavàra – Giai đoạn Y Chỉ, 

5) Sansatthavàra – Giai đoạn Tương Tạp, hay là hỗn hòa, 

6) Sampayuttavàra – Giai đoạn Tương Ưng, 

7) Panhàvàra – Giai đoạn Vấn Đề.  

Giai đoạn liên quan, giai đoạn y chỉ, rồi giai đoạn hỗn hòa rồi mới đến giai đoạn vấn đề. Mình phải dùng trí, chứ mình không thể trả lời kiểu không nhớ, không nghỉ ra được.

Mấy cô làm phước hồi hướng chỉ số 7 thôi, chứ không có 2 - 6 .

Khi mình hồi hướng từ số 7 trước rồi đến số 6 - 5 - 4 - 3 - 2. Mình hồi hướng từ gần nhất của mình là 7 rồi tới 6 - 5 - 4 - 3 - 2 rồi mới tới 1. Người kế bên mình là số 7 là ông bà cha mẹ của mình rồi tới ông cố, ông sơ sau đó.

7 ->    / 6 - 5 - 4 - 3 - 2 /   - 1

Do đó, khi không biết công thức đó thì sẽ không làm được kết quả cho ông bà cha mẹ của mình về lễ báo hiếu này, và không có hiệu quả và không có kết quả và mình làm hoài sai, truớc xưa nay không có ai nói hết và họ không có học pháp của Đức Phật họ không biết cách dùng, Vu Lan chỉ là hình thức thôi chứ nó không có thực tiễn nếu mà không biết cách dùng, bữa nay Sư nói và mấy cô phải làm đúng mới được.

Trong 45 ngày đó Đức Phật Ngài cho phép chỉ dành cho Chư Tăng trong mùa An Cư thúc liễm mình mới làm cái đó, thì mình hồi hướng cho Cửu Huyền là ở số 7, và cái 6 - 2 mới bắt đầu trổ qua cho mình để mình hồi hướng cho Cửu Huyền Thất Tổ của mình.

để hình 1.07.22

Cửu huyền từ 2 - 6 nó trở lại mình chỉ làm ra số 7 cho ông bà cha mẹ, còn 2 - 6 là họ trở lại độ mình, chứ họ không đón nhận của mình. Tâm Đổng Lực của mình 2 - 6 trở lại mình độ lại mình, mình hưởng số 1 với số 7 trong hiện tại này, còn 2 - 6 của quá khứ nó trổ sinh lên cho mình để mình hưởng và mình làm số 1 và số 7.

Nên Cửu Huyền Thất Tổ họ không phải là người đón nhận của mình không, mà họ trở lại độ lại mình, mình chỉ làm được cái số 7 thôi, vì sao? cái số 7 họ còn non yếu, họ còn chưa đủ để độ cho mình, nhưng tới khi họ qua số 2 - 6 rồi họ trở lại độ cho con cháu. Còn số 7 này là họ đón nhận của mình, chứ mình không có làm được 2 - 6.

Đức Phật Ngài chỉ độ được Hoàng Hậu Maya chứ Ngài không độ được 2 - 6. Rồi trong cái 2 - 6 đó là 8 trăm triệu Chư Thiên, rồi trong 2 - 6 đó là chúng sinh hiện hữu Đức Phật đi tới.

Do đó mấy cô phải hiểu rằng là trong đời sống hàng ngày mình chỉ sống được cái số 1 mà 2 - 6 phải trộ giúp mình, và mình tạo tác cho số 7 sinh ra cho mình hưởng và 2 - 6 của quá khứ tiếp tục trổ lại cho mình. Mình chỉ trả cho số 7 thôi, chứ không trả cho 2 - 6, mà 2 - 6 trở lại độ mình, nếu mình làm tròn số 7.

2 - 6 nó trổ lại cho mình chứ không mất, nếu mình không hiểu thì mình sẽ sống theo những cái Nghiệp và Nghiệp Tướng. Giờ mình tạo tác ra hướng đi sai và không đi đúng của 2 - 6 mà mình đã tạo trong quá khứ thì mình lạc đường.

Do đó, 500 tích chuyện bổn sinh jātaka của Đức Phật là 2 - 6  do đó bây giờ Ngài mới hưởng được, nên Ngài nói 4 A Tăng Kỳ Đức Phật thọ ký ta, 23 A Tăng Kỳ ta tu tập là 2 - 6  nó mới trổ sinh cho Ngài, Ngài mới hưởng được cái 1 và 7 để giải thoát, đắc đạo là số 1 và số 7 là giải thoát và không còn sinh tử nữa.

Do đó phải hiểu công thức đó, 2 - 6 sẽ trở lại độ mình, mình chỉ trả được  số 7 và mình gieo lại cho mình số 1 để mình có tương đương. Nếu 2 - 6 mà không biết mà đang độ mình mà mình coi lại kỹ, thì mình đang sống với cái "không biết, nghĩ không ra" thì mình trở lại Nghiệp Tướng của mình.

Đức Phật Ngài chỉ độ được Hoàng Hậu Maya, còn Cửu Huyền Thất Tổ Ngài không có mà Ngài có chúng sinh 2 - 6.

Trở qua trường hợp của Bình Sa vương. 

Thế thì khi cha của bà Gia-du-đà-la là vua Thiện Giác bị đọa vô gián địa ngục là nghiệp quả đưa đi do Vua Thiện Giác cũng dòng họ Thích, vua không bằng lòng Đức Phật vì Ngài đã bỏ con gái ông đi tu. Rồi con trai ông được nhận vào Tăng đoàn khiến ông hận thù thêm. Ông rắp tâm ngăn cản Đức Phật đi đến nơi mời Đức Phật thọ thực, ông ngồi giữa đường, uống rượu mạnh, đón Phật để cản đường. và ông bị đất hút xuống lòng đất . Ông bị đọa Địa Ngục Vô Gián ngay sau đó.

Ngài Ananda hỏi Đức Phật tại sao không độ, Đức Phật nói đó là nghiệp quả của họ, ngoài tầm rồi, mà không đón nhận được phước của Đức Phật, mà Đức Phật Ngài không làm 2 - 6 và Ngài cũng không làm số 7 nghiệp quả,  đó là nghiệp quả của họ

Do đó, Bình Sa Vương nghe lời Đức Phật làm được 2 - 6 cho 3 đời Phật Cửu Huyền của Ngài mà tới nay cái đó là nghiệp quả tới chứ không phải là thiện phước mà họ hưởng.

1) Phước báu đến Cửu Huyền Thất Tổ hạng (7) (Cha mẹ, Ông Bà)

2) Phước báu của hạng 2 - 6 là Ông Bà của mình từ thứ 2 cho đến thứ 6 trở lên trở lại độ cho mình để mình tạo phước (1 + 7) (1 là cho mình, 7 là cho Cửu Huyền hiện tại)

3) Đức Phật độ được Mẹ là Maya (thứ 7) trong Thiện Phước. (Thiện Phước khác với nghiệp quả bất thiện). Đối với vua Thiện Giác là nghiệp quả bất thiện phải đi theo nghiệp của mình, ngoài tầm phước của Đức Phật không giúp được

4) Ngoài Mẹ, Ngài còn độ Chúng sinh --> Chư Thiên, các bậc hữu tình khác là Cửu Huyền Thất Tổ của Đức Phật là trong 800 triệu Chư Thiên mà Ngài nói là những chúng sinh hữu tình hữu duyên với Ngài mà Ngài độ là thân bằng quyến thuộc của Ngài trong đời sống hiện tại là 2 - 6.

Còn Thiện Phước, vua Thiện Giác là nghiệp quả bất thiện phải đi theo nghiệp của mình, ngoài tầm phước của Đức Phật không giúp được

Nên Bình Sa Vương làm không được mà phải nhờ Đức Phật và Chư Tăng chuyển phước đó đi, bởi vì bà con quyến thuội của Bình Sa Vương là đi theo nghiệp quả.

Chính do đó những cái gì là Cửu Huyền của mình vả Ông Bà của mình là phải đi chung một đường thiện phước với mình thì mình đón nhận được, còn nếu họ đi qua nghịch thì họ đi con đường của họ, mà mình muốn chuyển mình phải nhờ cái lực khác chứ không phải lực của mình được.

Thì 2 - 6 trở lại độ cho mình, chính cái đó mình làm hữu duyên cho chúng sinh.

Như bây giờ mình nhìn thấy là thân bằng quyến thuộc mình 2 - 6, còn bên ngoài là nghiệp quả, càng ngày càng đi xa 

Thí dụ, trong đời này mình không thích người  thân bằng quyến thuộc của mình uống rượu, hút thuốc, thì kiếp sau họ không đi chung với mình nữa, nó tách  ra liền, không đi chung đường nữa, và mình muốn cũng không được nữa, họ có đường đi của họ, đó là nghiệp quả tách đi. Bây giờ mình muốn độ thì cái nghiệp của nó phải có một người khác độ mà mình cầu họ độ giùm, đi gián tiếp mới độ được, chứ không đi trực tiếp.

Bây giờ cùng một đường cùng một hướng thì nó sát nhập vô đi tiếp tục đi trên con đường thiện phước quả trổ sinh.

Có 4 điều hồi hướng cho người quá vãng không thành, trong kinh Kiết Tường:

1)  nếu như thân bằng quyến thuộc tà kiến nặng hồi hướng phước không nhận được giống như dội nước lên tường nước chảy xuống, nó không thấm vô được.

2) Nghiệp nặng, phước hồi hướng đến không nhận được .

3) Nếu như thân bằng quyến thuộc không hoan hỉ thì không nhận được phước báu mình hồi hướng.

4) Không đón nhận phước báu do mình hồi hướng.

Nhất là người tà kiến nặng mình hồi hướng họ không nhận được, họ không đi chung con đường với mình 

Có 4 điều, nghiệp nặng, tà kiến, không hoan hỉ, họ không bao giờ đón nhận được phước mình hồi hướng, nó trở thành cái nghiệp quả bất thiện dẫn họ đi, họ sẽ trở thành không phải là Cửu Huyền.

Còn họ hàng của Bình Sa Vương họ còn biết quay trở về, tại vì hồi trước là do cái nghiệp của họ là họ cúng dường cho Phật cho Chư Tăng, nhưng mà là họ ăn trước nên họ phải trả, giờ họ biết rồi, cái đó là cái tội, cái sai của họ thì bây giờ họ sám hối ăn năn thì cái phước của Chư Tăng và Phật độ lại thì họ mới thoát. Chứ còn họ không biết đó là tội mà họ còn cố chấp nữa thì họ không bao giờ gặp được Phật và Chư Tăng, mà họ đang trả cái quả của họ, không có cửa đi tới và họ đi tuốt xa luôn.

Do đó, mình biết được thân bằng quyến thuộc của mình mà còn tới mình là họ còn có cửa trong thiện phước mới tới được, còn họ không tới được là họ đang bị cái nghiệp quả bất thiện chận họ, họ ở trong cảnh giới trả quả bất thiện của họ, không có cơ hội để đón nhận quả phước do mình hồi hướng. 

Vậy thì khi nằm ngủ mà thấy Cửu Huyền vế hay là Ông Bà mình về là họ còn có cửa đến trong thiện phước của mình, đừng sợ và mình hồi hướng cho phước cho họ. Tại vì mình sống trong phước thiện chứ mình không sống trong bất thiện hay nghiệp quả bất thiện nào.

Còn nếu họ sống trong bất thiện và trong nghiệp quả bất thiện họ phải trả thì không có cửa nào để tới gặp mình được. Nên người tới với mình trong giấc mơ báo cho mình biết hay nhắc cho mình biết hay cầu cứu mình cứu giúp thì họ còn có cửa để đến với mình. Thì mình phải làm việc hồi hướng phước cho họ.

Trong bài kinh hồi hướng, mình hồi hướng đến Cửu Huyền, hồi hướng cho thân bằng quyến thuộc hiện tại, rồi cuối cùng là cho tất cả chúng sinh trong 3 giới, 4 loài  (số 7 và 2 - 6) và cho chúng con là số 1, mình hưởng cái đó cộng lại, đều nhau cả thảy. Đó mới là thành tựu được phước và hồi hướng mới có ý nghĩa được.

 Thiền sinh hỏi: Con không có nằm mộng nhưng gần đây tới phần hồi hướng là tự nhiên mấy tên của người bạn con hiện ra, như vậy là sao?

HT trả lời: Không có tự nhiên đâu, mà là những chúng sinh hữu duyên họ cần phước hồi hướng của cô cho họ, và cô phải mở cửa đón và hồi hướng cho họ. Và những người đó cô biết nên mới đọc tên được.

Cửu Huyền của vua Bình Sa Vương tới, vua không biết vì thấy toàn là ngã quỉ, sáng thức dạy lên hỏi Đức Phật đó là điềm gì. Đức Phật nói đó là Cửu Huyền của đại vương đó, bị khổ 3 đời Phật rồi tới dời Phật này là thứ 4, mà cơ hội này là thiện phước của đại vương mới làm được, và Chư Tăng hiện tại này độ mới được, trả hết 3 đời Phật cái nghiệp quả đời này rồi  phước đó đã gieo trồng trong nhiều đời Phật quá khứ mới trổ sanh lên (là 2 - 6) thì họ mới dược đón nhận như vua Bình Sa Vương được đó nhận Phật với Chư Tăng độ họ mới ra khỏi.

Còn cái người mà đến với cô bây giờ là cô biết tên biết người, cái đó là số 7 của cô thì cô phải hồi hướng cho họ. 

Do đó khi người nào đến gõ cửa mình là thiện phước của họ còn, vì mình làm việc thiện, mình sống trong thiện, phước báu mình có họ mới tới với mình, cửa thiện phước của họ còn họ mới tới, còn nghiệp quả của họ trả không ra thì không tới gần mình được. Người nào tới với mình là họ có cửa để tới với mình, còn họ không tới với mình, một là họ siêu rồi họ không cần tới mình, họ ra 7 rồi ra 2 - 6 họ đi theo cái nghiệp phước báu của họ rồi, thứ hai là nghiệp quả của họ đang trả, bất thiện của họ chưa hết.

Nghĩ tới chúng sinh thì phải nghĩ tới mình. ngày mình lâm chung mình là 7 của thân bằng quyến thuộc của mình, rồi mình trở thành 2 - 6 của Cửu Huyền và của mình trong kiếp thứ 3. Do đó, bây giờ mình phải tạo ra thì khi mình tới số 7 thì mình mới có người hiện tại này mới làm cho mình được.

Như cô Tịnh Nhân mà mất thì cô là số 7 của con cô, thì con của cô phải biết làm cho cổ, và cổ sẽ trở lại thành 2 - 6 của ông bà của mình, cô đi qua giai đoạn đó.

Do đó mình phải biết mình không có làm những nấc thang thì nó gãy ngang đó là mình không có cầu cho mình đi.

Con cháu của mình, ở VN khác với bên Mỹ. Nếu như bên Mỹ này hồi còn nhỏ đi đâu không rủ nó đi tới khi nó lớn rủ nó đi nó không đi, nó không đi với mình, mình phải tạo cho nó, thứ Bảy Chủ Nhật mình rủ nó đi thì mai mốt nó đi nó rủ mình đi, con cháu ở đây như vậy đó, không tập cho nó sống với mình đi với mình sinh hoạt với mình, mai mốt nó sống một mình nó. Con cháu ở VN khác, ở Mỹ khác.

Thế thì, cũng vậy, khi mấy cô không làm cho con cháu mình ngay bây giờ thì tới khi mình là số 7 của nó thì nó không có cầu cho mình, mình bắt đầu đi theo nghiệp của ta.

 Mình phải sống trong cái Tỉnh Giác chứ mình không sống trong cái Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng tâm Hữu Phần, mình sống trong Đổng Lực.

Hữu Phần chỉ ngoại lộ, nó không nằm trong lộ, Hữu Phần sống trong trạng thái chưa có cảnh và nó đang ở trong cảnh quá khứ khó mà tụ cho Đổng Lực mà mình sống cái đó là người ta nói là sống trong mơ chứ không phải sống trong tỉnh. Mình đang sống ở đây, đang thức ở đây, đang làm việc ở đây, đang sinh hoạt ở đây mà mình sống trong mơ.

Thiền sinh: Thưa Sư, thí dụ như bà dì của con năm nay 92 tuổi, bà không còn nhớ gì hết, con hỏi bà có nhớ con không thì bà chỉ cười thôi. Thì như vậy bà đang sống trong mơ không?

HT trả lời: Bà đang sống trong cái nghiệp quả của bà, họ không sống trong thiện phước của họ, là họ không có kết nối, tại vì họ không có tạo kết nối trong thời gian trước, tới bây giờ là họ đang ở trong nghiệp quả của họ rồi.

Mình thấy rồi đó, bây giờ mình phải sửa, mình biết rồi, mình không buông tay, mình mới sửa bà dì. Khi bà dì không còn biết mình thì mình không lùi bước trong việc giúp bà, mình tạo thêm cho bà đi vô thêm con đường nghiệp quả của bà nữa, mình phải tạo cho họ. Như Bình Sa Vương không làm được  phải đến Đức Phật. Ngay khi đó bà dì của mình không biết mình là do bà không kết nối được, không có liên quan với mình trong thiện phước này thì phải nhờ Đức Phật, thi mấy cô phải đem hình Phật, Kinh Sách tới trang trí trong nhà bà dì, bà không nhớ cô nhưng bà nhìn hình ảnh Đức Phật, nhìn thấy Kinh Sách thì Đức Phật độ bà.

Mình nhờ tỉnh giác, sáng suốt mình mới làm được việc chứ mình không sống theo cái nghiệp và nghiệp thú tướng của mình được, mình phải sống trong Câu Sinh Nghiệp với cái trí tỉnh giác của mình mới làm việc được cho mình và cho chúng sinh được.

Do đó, không khi nào mà Sư tới một chúng sinh nào cũng vậy Sư đi tới tay không, mà Sư mang hình Phật, Kinh Sách.

Con cháu mình bây giờ cũng vậy, mình nói không nghe, mình sống trong hình ảnh Đức Phật, kinh sách, bắt đầu nó tới nó thấy kinh sách nó lượm cửa đó rồi nó thông qua bên mình và mình từ cửa đó thông qua con cháu, không có cửa nào khác hết. Cửa đó là cửa Tỉnh Giác, cửa đó là cửa trí tuệ, đó là Câu Sinh Nghiệp, chứ mình không sống trong Dị Thời Nghiệp.

Thành ra lễ báo hiểu này phải làm cho đúng chứ không phải mình làm theo hình thức, làm trong trạng thái của cảnh Nghiệp, Nghiệp Tướng, Thú Tướng của tâm Hữu Phần được, mình phải đi với Câu Sinh Duyên, Câu Sinh Nghiệp Duyên với tâm Đổng Lực, với sự chủ động, với sự tỉnh giác, với trí tuệ của mình, chứ không phải mình sống theo tập khí Dị Thời Nghiệp và Thường Cận Y của mình.

Mấy cô phải sống trong tỉnh giác, họ đi theo nghiệp của họ, mà mình đòi hỏi họ thì mình với họ không có kết nối không có liên lạc với nhau. Đó là  trí tuệ.

Đức Phật Ngài cũng vậy.

Nandopananda là con rồng chúa có tà kiến, trên con đường Đức Phật với Chư Thánh Tăng đi thần thông về để độ vua cha Tịnh Phạn 600 do tuần phải về để độ vua cha trong vòng 7 ngày, đang đi thì rồng chúa Nandopananda đưa cái đuôi lên chận. Đức Phật và Chư Thánh Tăng xuống chân núi bên kia, Đức Phật ngồi và chung quanh là Chư Thánh Tăng Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Ananada, các Chư Thánh Tăng xin Đức Phật cho đi độ rồng chúa Nandopananda, Ngài không thấy đủ duyên, tới khi Ngài Mục Kiền Liên xin đi độ rồng chúa Nandopananda, Đức Phật Ngài cho phép và Ngài nói: "Mục Kiền Liên hãy làm những gì nên làm." Mục Kiền Liên bay qua độ rồng chúa Nandopananda.

Đó là cửa ngõ của rồng chúa Nandopananda với Mục Kiền Liên, không phải của Đức Phật và các Chư Thánh Tăng khác cho nên không vô được. Đó gọi là hữu duyên.

 Thế thì khi mình không làm được cho Cửu Huyền của mình 2 - 6 mà trở thành chúng sinh hữu duyên với mình thì lúc đó họ trở thành Chư Thiên độ mình hay là những người hữu duyên với mình.

Cái này vi tế lắm, giờ mình nghiệm ra. Mình sống có 1, và 2 - 6 - 7 này mình không có sống, và mình quên luôn 2 - 6 - 7 của mình ở quá khứ, mình chỉ biết mình bây giờ. Chính cái đó mình gọi là tỉnh giác ngay hiện tại. Còn cái gì trổ sinh lên đừng có phóng dật để mình nghĩ ra cái nghiệp, nghiệp tướng của mình mà mình chỉ làm Câu Sinh, Câu Sinh Nghiệp thì mình mới an toàn.

Trong thiện phước thì mình là người tạo tác, còn nếu mình không trong thiện phước thì mình đang là người bị tạo tác bởi vì quả của mình. Không trở về hữu phần, mình sống trở lại hữu phần là kẹt. Minh sống trong Đổng Lực với hiện tại và mình tỉnh giác, mình biết trong thiện phước là vậy còn nghiệp quả nó đến mình biết vậy thôi. Những cái đó mình bình tỉnh đi trong tỉnh giác.

Do đó, mình phải hiểu mình sống trong thiện phước thôi thì nó tới mình phải biết để mình có tỉnh giác, chứ đừng có phản ứng của mình là Thường Cận Y, phản ứng của mình là trong  kiết sử trong  tập khí của mình, mình thiếu tỉnh giác thì mình trở lại tập khí và kiết sử của mình nghĩ cái này nghĩ cái kia thì mình tạo tác thêm nữa.

Thí dụ, nếu mấy cô ở trong vị trí dịch kinh, câu kinh đó cô đọc không được, đọc không hiểu, thì không có dịch câu kinh đó, không hiểu mà cứ dịch là dịch sai.

Thì cũng vậy, cuộc sống của mình mà mình không biết làm mà mình không đứng lại mà mình còn làm thì là "vô minh duyên hành". Dịch Kinh không được thì ngừng không dịch theo mình, mà tìm kiếm, nghĩ suy, bắt đầu cầu cứu thì 2 - 6 tới với mình.

Cửu Huyền của mình cũng vậy, mà mùa báo hiếu của mình phải vậy, và Cửu Huyền Ông Bà Cha Mẹ của mình cũng vậy, mình cứ làm theo số 7, mình làm đúng số 7 Ông Bà của mình thì số 7 biến số 2 - 6 của họ, rồi cái số 7 này nó mới nối  2 - 6  của mình.

Cái số 7 biết cái 6, cái 6 biết cái 5, chứ không phải mình biết 6 - 5, mà mình làm ẩu thì số 7 nói sai. Mình cứ đưa số 7, rồi số 7 đưa số 6, số 6 đưa số 5, quay trở lại cho mình. 

Mình làm cho đúng thì pháp thành, gọi là Dhammaniyảma = Pháp Ấn. Nó đi theo đúng cái đó, mình không có cộng vô, pháp là vậy đó, mình thêm vô là của mình tạo tác, đúng với Pháp, sống trong Pháp, mình an trú trong Pháp, mà Pháp Ấn nó có.

Thì mình làm đúng với số 7, số 7 biết số 6, số 6 biết số 5, số 5 biết số 4, v.v... Mình làm đúng cái đó, mình không có làm sai, cái phước của mình sẽ thành.

Đức Phật Ngài lên  cung trời Đao Lợi độ cho Mẹ là Hoàng Hậu Maya, vua trời Đế Thích biết lên thỉnh Hoàng Hậu Maya xuống, thân bằng quyến thuộc 800 triệu Chư Thiên đi theo. Gọi là hữu duyên. Hoàng Hậu Maya gọi số 7, số 7 gọi số 6, rồi số 6 gọi số 5, đó là hữu duyên.

 Mình sống trong Đổng Lực và Tỉnh Giác của mình trong Đổng Lực này. Trong Đổng Lực này mình có Tỉnh Giác. Mình tạo tác trong Tỉnh Giác với Đổng Lực này thì mình thành tựu ước nguyện của mình phước báu mới vun tròn.

Bây giờ mình muốn biết về Ông Cố của mình, mình hỏi Cha Mẹ Ông Bà mình, rồi Ông Bà Cha Mẹ mình kể mình nghe. Mà Đức Phật nói Cửu Huyền Thất Tổ, 7 đời Ông Tổ mà có 9 giòng, thật ra mình chỉ có số 7 với số 1, mình là 1, mình chỉ biết 7 thôi, còn 2 - 6 là 7 trở lại 2 - 6.

Nên cái làm của mình đây chính là cái thân, ngự, ý mà câu cô Diệu Giác hỏi trong cái vô minh duyên hành thì mấy cô phải biết sống trong cái tỉnh giác để mà tạo tác ra các kết quả thành tựu chứ không phải thiếu tỉnh giác, mình sống trong vô minh và trong Thường Cận Y Duyên tạo tác chứ không phải là Câu Sinh Duyên tạo tác. Không có làm cái đó, làm cái đó là mình cụng nữa, mấy cô phải vay trả trả vay cho hành động của mình.

Hổ Tương với Tương Ưng, 2 cái này chi pháp của nó cũng giống như Câu Sinh, nó thuộc về Danh Pháp. Thì Danh Pháp chỉ có 2 thôi là Tâm và Tâm Sở lúc nào cũng đồng sinh, đồng diệt, đồng nương một cảnh, đồng nương một căn, là tứ đồng.

Thí dụ, người ta làm trong Nhân Duyên, trong 7 giai đoạn với một nhân duyên thôi thì Hổ Tương Tương Ung nó đi chung và trong cái tu tập đó thì mình chỉ lo đầu đạo, hay là lo cái thiền na, những đường mình đang tu tập mình đi tới. 

Cũng như trong cái 10 Balamat hành cái đó luôn luôn là trí tuệ Balamat trong mọi vấn đề gì mà mấy cô sống trong thiện phước, trong tam vô lậu hoặc với Định và Tuệ thì lấy trí tuệ Balamat làm lúc nào cũng có ly dục và chú nguyện. Trí Tuệ Balamat là Câu Sinh Nhân Duyên

Cái ly dục này nó là Hổ Tương 

Chú nguyện là Tương Uung Duyên.

Nếu mấy cô làm trong Trí Tuệ Balamat mà mấy cô không nghĩ là có Ly Dục và Chú Nguyện, giống như mình lái xe là mình cầm cái tay lái nhưng trong đó phải có 2 cái cầu trước cầu sau đi luôn với tay lái điều khiển bánh xe di chuyển. Thì trong Trí Tuệ Balamat mà nếu không có Ly Dục và Chú Nguyện thì trí tuệ Balamật này không phải là Balamật.

Thí dụ, việc xả thí thiện và xả thí thiện Balamật thông thường thì nó có quả, Nhân, Thiên.

Nếu như xả thí thiện có Balamật trong đó có ly dục + Chú Nguyện thì mới đưa tới Niết-bàn, chứ không có Nhân, Thiên.

Do đó, mình phải biết liền trong khi xả thí, xả thí này là xả thí thiện thông thường hay là xả thí thiện Balamật, mình thiếu Tỉnh Giác. Thì xả thí thiện này rớt trong Nghiệp, Nghiệp Tướng, Nghiệp Thú Tướng, mình trở lại thói quen hay tập khí kiết sử của mình đang làm xả thí thiện này. Thì quả nó trở lại mình không ngạc nhiên được, tại vì mình sống trong sự thiếu Tỉnh Giác, mình làm thêm một tập khí nữa, nghiệp dẫn đi, nghiệp tướng tạo ra thì thú tướng có ra thì không có gì là ngạc nhiên. Nhưng tới khi xả thí thiện này mà mình làm có Chú Nguyện với một trạng thái không vọng móng mong cầu ly dục thì đó mới là giải thoát nó không trở lại quả này để cho mình có thú tướng của Nghiệp.

Cái Nghiệp và Nghiệp Tướng là mình tạo tác, Thú Tướng là cái quả của Nghiệp và Nghiệp Tướng này. 

Do đó, Hổ Tương và Tương Ưng nó đi với Nhân Duyên. Hổ Tương và Tương Ưng đi với Câu Sinh mới đẩy mãnh lực duyên năng duyên sở duyên nó mới đến ý nguyện của mình hay là tác ý của mình.

Xả thí thiện là tập khí là kiết sử thói quen và xả thí thiện này Balamật là Tỉnh Giác. Mấy đứa bé làm việc thiện bỏ trái chuối cho ông sư để bát là xả thí thiện. Thiếu Tỉnh Giác là mình rớt vào xả thí thiện thông thường./.


No comments:

Post a Comment