Tuesday, November 2, 2021

Vi Diệu Pháp 11 - Pháp Độ Hành Xả Ba-la-mật - TT Sán Nhiên

 Pháp Độ Hành Xả  Balamật - Vi Diệu Pháp 11 (tiếp theo) - TT Sán Nhiên

Minh Hạnh đã được nghe để học và, xin ghi chép lại theo sự hiểu của chính mình từ video "Vi Diệu Pháp 11" do TT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức. Và xin thành kính cảm tạ ơn TT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

TT Sán Nhiên: 10) Pháp độ thứ 10 là, hành xả.

Hành xả là buông bỏ và ra đi, hai nghĩa này rất quan trọng. Qúi Phật tử sẽ buông xả buông bỏ mà ra đi khỏi Tam Giới.

Người hành xả là người đã sống với Hạnh Nguyện, sống trong Chí Nguyện của họ là buông bỏ hết. Hành Xả Balamật này hơn Xả thí Balamật, Xả Thí là trạng thái con người của mình đang còn có thể cho ra, còn Hành Xả này không còn về thân về tâm, mà họ muốn buông bỏ tất cả để ra đi. Xả Thí là những gì mình có thể cho còn Hành Xả thì về danh thơm, tiếng tốt, địa vị, tài sản, của cải, tất cả cái gì họ cũng không còn để mà đeo níu, họ buông bỏ tất cả để ra đi giải thoát theo hạnh nguyện của họ đã có đã tạo. 

Chính do đó chữ Hành Xả này vượt hơn Xả Thí, như trạng thái:

- Xả Thí ở bờ này là, những gì mình có thể cho ở ngoài thân thể ta.

- Xả Thí bờ kia là, có thể cho phần nào cơ thể của ta cho người hay chúng sanh đang cần.

- Xả Thí bờ cao thượng là, mình cho hết cả mạng sống của mình cho chúng sanh đang cần. 

Còn, Hành Xả  là dù danh thơm, tiếng tốt, lời khen, hay lời chê, cũng thản nhiên không dính mắc mà buông bỏ tất cả, không phải ở góc độ cho ra mới tính là Xả Thí, do đó cái buông bỏ tất cả để ra đi, họ sẵn sàng để ra đi thì tất cả những gì họ đang có, họ buông bỏ.

Do đó, những người đến với Hành Xả để đi khỏi Tam Giới này là họ rời khỏi pháp thế gian. Pháp thế gian hay còn gọi là bát phong hay tám ngọn gió đời. Tám ngọn gió đời luôn luôn đeo đuổi con người mà chúng ta không thấy, không vượt qua được trạng thái bị đeo đuổi đó.

Bát phong là: Lợi, Suy, Hủy, Dự, Xưng, Cơ, Khổ, Lạc.

Lợi là hưng thịnh, lợi lộc.

Suy là sự nghiệp sa sút, suy hao, làm ăn xuống dốc.

Hủy là hủy báng, gièm pha.

Dự là được tôn vinh danh dự.

Xưng là xưng tán, khen ngợi.

Cơ là chỉ trích, chê bai.

Khổ là khổ đau , phiền não.

Lạc là an lạc, hạnh phúc.

Hay còn được gọi là: được - mất, khen - chê, tốt - xấu, khổ đau - hạnh phúc.

Chúng ta nói hạnh phúc về mặt tâm linh. Khi đời sống được hạnh phúc về mặt tâm linh chúng ta cũng phải buông bỏ, ngay cả khi qúi Phật tử ngồi thiền chứng đắc được tầng thiền nào mà đã có nguyện Hành Xả Balamật thì phải bỏ tầng thiền đó và tiếp tục đi tiếp, chưa được giải thoát nên phải ra đi. Có những người phàm phu sau khi họ chứng đắc được thiền họ hỉ lạc và hạnh phúc trong những tầng thiền họ chứng đắc, họ dính mắc trở lại trong đời. Nhưng với người Hành Xả Balamật sau khi họ chứng đắc tầng thiền đó họ thấy được đó là hạnh phúc, nhưng hạnh phúc này là pháp thế gian họ ở lại trong đời này chịu khổ chứ không phải là hạnh phúc của họ muốn ra đi thoát khỏi Tam Giới, nên họ phải bỏ để ra đi tiếp. 

Với những người Hành Xả Balamật, đầu tiên, tâm của họ phải kiên định kiên cố, không có gì lay chuyển họ được, đó mới là Hành Xả, tâm mềm mỏng nhẹ không Hành Xả được, người nguyện Hành Xả phải đủ nghịch lực để chống đỡ bao nhiêu nghịch cảnh, nếu họ không đủ kiên cố tâm định hay nghị lực, họ chỉ lung lay hay mềm mỏng một cái là mất hạnh nguyện Hành Xả Balamật.

Người nguyện Hành Xả Balamật là người tâm phải kiên cố và cứng rắn và đủ nghị lực để đối diện với chuyện trái nghịch cảnh sóng gió của cuộc đời đến với họ, khi cuộc đời đến với họ, với tâm kiên cố họ chỉ nhìn, không phải họ muốn đối diện hay sợ hãi, nhưng tâm muốn giải thoát muốn buông bỏ và ra đi. 

Do đó, khen chê, Hành Xả phải hiểu là buông bỏ mà ra đi chứ không phải trạng thái sợ hãi sự khen chê mà họ phải ra đi, họ nhìn với góc độ không có gì cột trói họ được nữa, buông bỏ hết không cái gì đáng để họ lưu lại trong cõi tam giới nữa.

Lợi lộc là pháp hiện bày, có hai loại lợi lộc:

1) Lợi lộc thiện công đức, là do việc thiện mình tạo ra phước báu, mình có lợi lộc.

2) Hai là vật chất lợi lộc, những tài sản của cải ngoài thân ta gọi là lợi lộc.

Hai loại này đều phải buông bỏ, phước báu trở lại nhân thiên buông bỏ để ra đi khỏi tam giới, không có cái gì để giữ lại, chính cái đó thiện công đức hay vật chất công đức hay những cái gì gọi là lợi lộc đừng nói chi là mất lợi, họ có đầy đủ hết cũng phải ra đi, không có cái gì để họ ở lại trong đời này, giống như người làm xong xứ mệnh của họ hay con người đến thế gian này làm xong nhiệm vụ của họ, sau khi xong nhiệm vụ hay xứ mệnh họ phải ra đi, không có gì luyến tiếc, không có gì dính mắc, không có gì cột trói.

Hành xả là kiên cố vững vàng không lay chuyển, nhìn pháp thấy pháp, giải quyết theo pháp và không đặt tình cảm trong pháp, bóp méo pháp và sai chệch trong pháp, người hạnh nguyện Hành Xả Balamật là vun pháp bất vì thân, nghĩa là sống trong pháp chơn chánh chứ không vì thân.

Do đó hai pháp môn này kết hợp với 8 pháp môn kia chúng ta sẽ có 10 pháp. Bây giờ chúng ta bắt đâu ghi trở lại chúng ta sẽ thấy: 

1) Pháp độ thứ nhất,  xả thí.

2) Pháp độ thứ hai là, trì giới

3) Pháp độ thứ ba là, ly dục 

4) Pháp độ thứ tư là, trí tuệ

5) Pháp độ thứ năm là, tinh tấn

6) Pháp độ thứ sáu là, nhẫn nại

7) Pháp độ thứ bảy là, chân thật

8) Pháp độ thứ tám là, chí nguyện 

9) Pháp độ thứ chín là, từ ái

10) Pháp độ thứ 10 là, hành xả 


Hình 10 Pháp Balamật thành một chiếc xe

10 pháp này thành một chiếc xe, và hai pháp Ly Dục và Chí Nguyện là hai pháp cốt lõi nằm trong một cái xe, Ly Dục là cần xe trước và Chí Nguyện là cần xe sau. 

Thì trong một chiếc xe qúi Phật tử muốn đi mau đến thành công phải có hai cần xe này, hành nguyện Balamật luôn luôn phải có Ly Dục và Chí Nguyện lúc nào cũng có mặt, thì hai cái cầu này, cầu trước và cầu sau đẩy chiếc xe đi tới bờ giác ngộ một cách dễ dàng an toàn.

Người nguyện hành Balamật là người Bồ Tát chỉ cần nguyện 1 trong 8 nguyện còn lại và hai cái Ly Dục và Chí Nguyện bổ túc một cách mau lẹ. không nguyện Ly Dục và Chí Nguyện, vì không cần thiết. Qúi Phật tử có thể nguyện Tinh Tấn Balamật thì Ly Dục Balamật sẽ đưa đến Tinh Tấn, Chí Nguyện Balamật sẽ đưa Tinh Tấn đến bờ Giác Ngộ. Nguyện một mà thành ba, chẳng hạn nguyện Chân Thật Balamật thì qúi Phật tử có Ly Dục và Chí Nguyện kết hợp với Chân Thật, nếu nguyện Hành Xả Balamật thì có Ly Dục và Chí Nguyện kếp hợp với Hành Xả, nguyện một thành ba là như vậy.

1) Thứ nhất, Một đời một kiếp chỉ nguyện một Balamật thôi, thí dụ qúi Phật tử sống trong kiếp này sau khi hiểu được Balamật sẽ chọn Tri Tuệ Balamật là kiếp này với hạnh nguyện Trí Tuệ Balamật lúc nào trí cũng suy nghĩ trước khi hành động, thân, lời, ý, nói ra với trí tuệ làm nền tảng để đưa đến hành động và ý, qúi Phât tử sẽ có kết quả tốt.

2) Thứ hai, Sư được nghe là qúi Phật tử đang lo lắng khi nguyện Balamật sợ bị đứt Balamật giống như bị đứt giới, thì khi đứt giới qúi Phật tử thọ trì giới lại là xong, nhưng đứt Balamật này thì tìm hiểu tại sao bị đứt. Do đó khi chúng ta người đang sắp sửa nguyện hay đang nguyện có bị đứt Balamật thì lúc đó mình phải tìm hiểu đứt Balamật là làm sao.

Vậy thì, một đời qúi Phật tử sài dao để cắt vật thực nấu ăn có khi nào bị dao cắt không, qúi Phật tử lái xe không xảy ra chuyện đụng xe, mình không đụng người nhưng người có đụng mình.

Cũng vậy, qúi Phật tử thấy Balamật với mình là hai không phải là một thì qúi Phật tử sẽ bị đứt, tại nó xa mình, như con của mình xa mình thì mình với nó bị đứt khoảng cách, còn nếu như mình với nó không có đứt là vì mình với nó là một không là hai, như người mẹ đang cưu mang một thai nhi trong thai bào của mình thì không bao giờ bị đứt hết nhưng đứa con lớn rồi nó đi ra ngoài thì lúc đó bị đứt, nó lớn rồi nó đi. 

Như vậy thì, khi qúi Phật tử hành Balamật, qúi Phật tử với Balamật đã nguyện lúc nào cũng là một thì không bị đứt, tức là qúi Phật tử sống vì Balamật, Balamật là sự sống của qúi Phật tử thì qúi Phật tử không bị đứt. Còn qúi Phật tử làm việc thiện dù bất cứ việc thiện nào qúi Phật tử sẽ bị đứt ngay khi qúi Phật tử đang làm việc thiện đó nó sẽ rớt vào hữu lậu hay vô lậu, còn biết Balamật sống với cái đó như người mẹ đang cưu mang thai nhi ở trong thai bào của mình sẽ không bao giờ bị đứt. Nếu qúi Phật tử còn nghĩ Balamật là pháp môn bên ngoài mình đang trau dồi tu tập thì qúi Phật tử sẽ thấy nó xa qúi Phật tử, còn nếu qúi Phật tử thấy pháp môn này bên trong mình thì không sợ bị đứt.

Qúi Phật tử có thể giết kiến vì quên vì thiếu chánh niệm hay vì ghét, vì sân, vì tham, vì si, tại vì lúc đó qúi Phật tử thấy con kiến ở bên ngoài mình, nhưng con người mình  qúi Phật tử không thể nào giết mình được, trừ khi người đó quẩn trí. Có người lập luận nói tự vận là anh hùng nhưng họ có can đảm giết mạng sống của họ thì họ can đảm sống với nghịch cảnh mà họ đang có trong cuộc đời này còn hay hơn là họ tự sát, lập luận người ta nói như vậy đó. Thì cũng như vậy, khi qúi Phật tử không sát mạng mình được, sát kiến được, sát bò, sát vịt, sát heo, cũng được, qúi Phật tử không có tâm từ hay qúi Phật tử không có giữ giới, người có tâm ác không thương chúng sanh lấy chúng sanh phục vụ qúi Phật tử làm được, nhưng qúi Phật tử không làm được chính mình giết mạng mình, thì lúc đó Balamật nếu qúi Phật tử có như vậy đó thì không đứt Balamật được, qúi Phật tử có thể phạm giới vì sát sanh, có thể phạm giới trộm cắp được hay qúi Phật tử phạm giới bất cứ giới nào trong ngũ giới được, nhưng Balamật đã nguyện thì đó là sự sống của qúi Phật tử thì không để đứt được, vì khi giữ giới còn thấy chúng sanh, còn Balamật là sự sống của mình, còn nếu như qúi Phật tử thấy giữ giới và Balamật, giữ giới là sự sống của qúi Phật tử thì sự giữ giới đó cũng không đứt được.

Sư được tiếp xúc với nhiều nhà Sư Thái Lan và Miến Điện, họ nguyện Trì Giới Balamật, vì họ yêu qúi mạng sống của họ và họ yêu qúi Balamật, họ muốn đời sống họ cao thượng, do đó họ muốn trì giới Balamật hơn là trì giới suông của người xuất gia, trì giới suông của người xuất gia có thể bị đứt nhưng trì giới của Balamật không thể đứt được, tại vì đứt là đứt Balamật chứ không phải đứt giới.

Như vậy ở đây qúi Phật tử sẽ làm được hết, qúi Phật tử đừng bao giờ lo ngại vấn đề bị đứt. 

- Một ngày mà qúi Phật tử có Balamật là ngày đó qúi Phật tử có Niết-bàn,

 - Một ngày qúi Phật tử làm việc thiện là có nhân với thiên.

Hai điều này có giá trị rõ ràng.

Khi qúi Phật tử làm được thì thích thú và có nhiều lợi ích. Chư Thiên luôn luôn gia hộ cho người có hạnh nguyện Balamật, vì đó là Bồ Tát trưởng dưõng Pháp trưởng dưỡng Tam Bảo được tồn tại lâu dài, vì người đó đang lấy mạng sống của họ làm cho Balamật của họ chính họ đang nuôi dưỡng Tam Bảo của họ đang được tồn tại, Chư Thiên bảo vệ người đó tuyệt đối.

Do đó, pháp độ Balamật có tất cả là 10 pháp, qúi Phật tử sẽ nguyện một trong 10 pháp đó, qúi Phật tử cố gắng lựa cái nào mạnh nhất mới nguyện chứ không lựa cái nào yếu nhất. Sư nghe nhiều người Phật tử họ tìm cái gì yếu nhất họ nguyện, chẳng hạn người có tâm bỏn xẻn, kêu bố thí họ không làm nhưng lại nguyện xả thí Balamật vì họ nghĩ rằng đó là cách luyện tu dẹp tánh bỏn xẻn của họ, nhưng thật ra nguyện Xả Thí Balamật mà không làm được thì Balamật bị đứt luôn, nên cái nào mạnh mình mới nguyện. Sau khi muốn chắc chắn nữa thì trao đổi với Sư, Sư mới phối hợp lại coi có chính xác không thì lúc đó qúi Phật tử đi theo mới được, mỗi ngày phải làm một lần ít nhất nếu trong đời qúi Phật tử có Balamật. Về thời gian sau này Sư sẽ đưa ra cuốn sách về Balamật đầy đủ chi tiết hơn, bây giờ qúi Phật tử cố gắng tìm ra phương pháp nào mình tu được thực hành trong kiếp này ta có được lợi lạc, ta có Balamật trong đời sống hàng ngày của qúi Phật tử, qúi Phật tử sẽ không còn làm pháp nhân thiên qúi Phật tử sẽ làm pháp Balamật, pháp nhân thiên là pháp hữu lậu còn qúi Phật tử làm pháp Balamật qúi Phật tử có phước vô lậu.

Thiền sinh: Thưa Sư, có hai phần Ly Dục và Chí Nguyện, nhưng con cảm thấy là tất cả pháp Balamật nó phải cần sự hỗ trợ lẫn nhau, nếu mình chỉ cần Tinh Tấn mà không có Trí Tuệ thì Tinh Tấn không đi đến đâu.

TT trả lời: Sư nói thêm về phần câu hỏi này. 

Sư cho một thí dụ về Trí Tuệ Balamật

Một vị Bồ Tát nguyện Trí Tuệ Balamật và ứng dụng ngay lúc đang hành thiền quán mượn thiền quán này làm phương tiện trau dồi Balamật để đi đến Niết-bàn.

 Thiền Quán là phương tiện, 

Niết-bàn là cứu cánh, 

Trí Tuệ Balamật là con đường đi, là vốn liếng để đi.

Với người hạnh nguyện Trí Tuệ Balamật họ phát tâm hành Thiền Quán để đến Niết-bàn, ngay khi đi vào thiền tọa ngồi họ phải biết Trí Tuệ của Balamật làm điều gì, chứ không phải họ ngồi vào thiền tọa với phương pháp  họ đang có, nó khác với người không có Trí Tuệ Balamật hay không có Balamật, họ ngồi thiền tọa với cái kỹ thuật của thiền tọa. 

Nhưng với người có hạnh nguyện Trí Tuệ Balamật họ ngồi thiền tọa với Balamật họ đã nguyện.

dẫn chứng:

Với kỹ thuật của thiền tọa người không có hạnh nguyện Balamật khi pháp hiện bày, tê, nhức, mỏi, đau, thì kỹ thuật của người đó là Niệm và Quán cái, tê, nhức, mỏi, đau, đó là kỹ thuật, với kỹ thuật này thì niệm tiếp niệm tiếp già dặn lên quán kinh nghiệm lên, để mình thấy được pháp mình đang có đó là Pháp Danh hay Pháp Sắc đang hiện bày chi phối, mình đang niệm cái đó, đây là hành thiền tọa. Với những cái đó là kỹ thuật của những người đang hành Thiền Quán Danh và Sắc.

Rồi khi họ thấy pháp Danh và Sắc, lúc đó họ bắt đầu nhìn Danh nhìn Sắc họ phân biệt được Danh đang có được hiện bày, Sắc đang có hiện bày, họ tìm ra được cái đó là nhân sanh ra và nó ra quả, nó là một chuỗi dài nối tiếp nhau, tìm ra rồi mới bỏ. Đó là người không có hạnh nguyện Balamật

Nhưng ở đây, đối với thiền tọa người có Trí Tuệ Balamật họ nhìn vô cái, tê, nhức, mỏi, đau, là Niết-bàn, không có tôi trong đó.

Ở mức độ Thiền Quán qúi Phật tử phát triển Tuệ Quán.

Ở mức độ Balamật qúi Phật tử dùng trí tuệ nhìn pháp là giải thoát ngay đó rồi, tại vì Balamật là giải thoát, Balamật là Niết-bàn, không phân biệt "tôi ta", không phân biệt mà chỉ là giải thoát, nhìn vô là thấy pháp liền.

Do đó, lợi lạc phước của Balamật nếu đi đúng thời lợi lạc nó sẽ là như vậy, kỹ thuật là nó nằm con đường qúi Phật tử tu tập, còn cái này qúi Phật tử đang có đang trau dồi chứ không phải tu tập. Balamật là mình muốn giải thoát, những pháp, tê, nhức, mỏi, đau, này đâu đáng để mình ở lại, mình buông, nhất là những người Hành Xả Balamật gặp, tê, nhức, mỏi, đau, buông bỏ ra đi.

Khi qúi Phật tử có Trí Tuệ Balamật thì Ly Dục và Chí Nguyện đến, qúi Phật tử nhìn, tê, nhức, mỏi, đau, qúi Phật tử đang ly dục, với những người có Trí Tuệ Balamật không cần phải quán sát, tê, nhức, mỏi, đau, nó đến thì Ly Dục liền, và Chí Nguyện liền, do đó vừa hiện bày, tê, nhức, mỏi, đau, Chí Nguyện Balamật buông liền, không có cái "tôi" trong đó. Do đó con đường tu tập nhìn qua mình biết và già dặn lên, kinh nghiệm lên, nếu ở phương diện thiền tọa bình thường thì có khi cái "tôi" lớn hơn lên, lúc đó qúi Phật tử lại diệt cái "tôi", thân kiến là pháp đầu tiên trên con đường đến sơ đạo sơ quả, ở đây danh sắc có phải tìm nó để diệt thân kiến. 

Còn người Trí Tuệ Balamật không có cái "tôi" tại vì người đó đã Ly Dục rồi, người ta đã Chí Nguyện rời bỏ thế gian này thì không có cái gì để nắm giữ họ nữa.

Đó là phương tiện đạt đến cứu cánh ngay khi hành thiền quán với người Bồ Tát hành Trí Tuệ Balamật cũng đã có hướng đi Ly Dục và Chí Nguyện là họ đi tới con đường đạo quả.

Với người hành thiền quán bình thường không có Balamật thì khi, tê, nhức, mỏi, đau, hiện bày khi họ thấy tê hiện lên thì họ niệm, trong khi họ niệm "tê à" thì mặc nhiên có cái "tôi" trong đó.

Với người hành nguyện Trí Tuệ Balamật khi tê khởi lên thì với Trí Tuệ đó họ phải tìm hiểu bát bất tri pháp (8 điều không biết) thì mới là Trí Tuệ Balamật. 

Bát bất tri pháp (8 điều không biết): Người vô minh không biết về Tứ Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), không biết Nhân, không biết Quả, không biết pháp nào là Duyên Khởi Sanh và pháp nào là Duyên Liên Hệ pháp đang hiện bày. 

Trong bát bất tri pháp đầu tiên là Khổ Đế. Ngay khi niệm tê, họ thấy tê đang sanh lên có ái trong đó, họ thấy Tập Đế. 

Rồi tê lên nhiều hơn nữa thì họ thấy già, có ái trong đó. Rồi tê lên nhiều hơn nữa họ thấy đau thấy có ái trong đó. Và sau đó họ thấy cái chết (diệt) có ái 

đây là Thiền Trí Tuệ Balamật.

Nhưng đối với người thiền kỹ thuật, khi tê khởi lên niệm "tê à" "tê à" khi tê già dặn lên niệm thấy pháp hiện sanh.

Đối với người dùng Trí Tuệ Balamật hành pháp Thiền Quán niệm thấy Niết-bàn, nhưng lúc tê đang lên, giây phút đầu tiên thấy tê lên là sanh, già, đau, chết, thương xa ghét gần, lúc đó ta đang đi là Tập Đế, tại vì Tứ Đế là diệt vô minh để có trí tuệ, chính cái đó tê nhiều lên tê sanh có ái, tê nhiều lên là tê già dặn lên rồi tê lên nhiều nữa là tới đau, rồi tê già lên nữa rồi tê sẽ chết, chết có hai: chết vì Pháp và chết vì Tôi. Mà lúc đó qúi Phật tử không chịu cái tôi chết trong đây là qúi Phật tử "có ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc", sân tiếp nữa, chỉ có cái tê này thôi, cái tê chưa hết.

Chết vì pháp chết trong tôi, pháp nó đến, lúc đó là Trí Tuệ Balamật,

 Người có Trí Tuệ Balamật không đi kỹ thuật, họ lấy Trí Tuệ Balamật nhìn thấy pháp, chính pháp làm cho họ đến Niết-bàn. 

Còn mình đi kỹ thuật cứ đi nếu mình muốn đi, nếu mình đi đúng kỹ thuật cũng sẽ đến Niết-Bàn. 


Hình diễn trình Trí Tuệ Balamat trong pháp Thiền Quán 

Do đó, với người hành Trí Tuệ Balamật mà hành Thiền Quán với pháp môn Tứ Niệm Xứ thì từ 1 ngày đến 15  hay 17 ngày, còn nếu qúi Phật tử không đi đúng thì từ 7 ngày đến 7 năm.

Tê đang lên là sanh

Tê nhiều lên là già

Tê nhiều hơn nữa là đau

Tê hết mức tê là chết, chết vì pháp, chết vì tôi.

Lúc đó qúi Phật tử đang có hai pháp là Ly Dục và Chí Nguyện kè bên '

Còn nếu đi con đường kỹ thuật không đi bằng Trí Tuệ Balamật thì qúi Phật tử đi tiếp tục nữa tìm thấy Danh và Sắc và tiếp tục tiếp tục. 

Thí dụ về Xả Thí Balamật.

Người hành nguyện Xả Thí Balamật lấy pháp hành Thiền Quán làm phương tiện làm cứu cánh thì lúc tê đến thì cho nó đi luôn (thí), nếu qúi Phật tử giữ lại là "tôi" mà là "tôi" thì không phải Balamật.

- Thí phần tôi có là Thinh Văn Giác, 

- Thí 1 phần  cơ thể của tôi là Độc Giác, 

- Thí mạng sống của tôi là Chánh Đẳng Giác'

Lúc tê đến qúi Phật tử phải lấy cái thí để nguyện dừng cái tê, lấy cái thí nguyện dừng cái tê, chính cái đó qúi Phật tử đang hành Balamật mượn cái tê là chúng sanh.

Thí nhìn cái tê, tê là chúng sanh, thí Balamật qúi Phật tử không thí Balamật thì không ra khỏi cái tê.

Tê đến qúi Phật tử nói thí Balamật, qúi Phật tử đặt Thí Balamật truớc cái tê thì cái tê đó nó không đứng lại được mà thí Balamật qúi Phật tử phải tới. 

Đặt Balamật trước cái tê và cái tê đẩy lùi được bởi thí Balamật đứng trước cái tê.

Khi cái tê đến qúi vị nói Balamật làm việc, mà nếu Balamật không làm việc thì qúi Phật tử đứt Balamật.

Thí Balamật, thì lúc đó cái tê này thí có Ly Dục và mình muốn thật sự là giải thoát là Chí Nguyện hai cái này kèm hai bên, tê đến mình dùng Thí Balamật thí nó đi, mình muốn giải thoát thì có Ly Dục và Chí Nguyện tiếp sức. 

Người hành Nhẫn Nại Balamật cũng vậy, có Ly Dục và Chí Nguyện kèm bên.

Người hành Chân Thật Balamật cũng vậy, và những Balamật khác cũng vậy, luôn luôn là có Ly Dục Balamật và Chí Nguyện Balamật kèm bên. 

Thí dụ qua Trì Giới Balamật.

Người nguyện Trì Giới Balamật thì cái tê này đến cản ngăn giới nguyện của mình là muốn giải  thoát, mình muốn Niết-bàn, cái tê này là đang đến cản phá mình, mình phải lấy Trì Giới Balamật là mình không đứt cái nguyện trì giới Balamật, mình phải giải thoát Niết-bàn, thì tê này không đủ cản ngăn mình, đâu phải lúc đó qúi Phật tử trì giới sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối nữa, mà lúc đó Trì Giới Balamật là qúi Phật tử phải nguyện là mình được giải thoát Niết-bàn, thì anh tê này ngăn cản qúi Phật tử đang trì giới nguyện giải thoát Niết-bàn. 

Qúi Phật tử bỏ ngồi thiền vì tê quá là qúi Phật tử không giữ được lời nguyện là muốn được giải thoát vừa thấy tê là thấy khó thấy ngại thì bỏ liền, tê là pháp khảo đảo, là pháp thử thách, là chướng duyên mình phải vượt qua thì lúc đó lấy Trì Giới Balamật nguyện của tôi là giải thoát Niết-bàn, nguyện của tôi là chấm dứt, sanh, già, đau, chết, nguyện của tôi bị cái tê này đang ngăn cản, thì lúc đó Trì Giới Balamật giải quyết cái tê, mình mà xả ra là qúi Phật tử đụng đến Trì Giới Balamật, chứ không phải qúi Phật tử thầy cái tê là sợ là xả thiền liền.

Thiền Quán là phương tiện,

Niết-bàn là cứu cánh.

Trì Giới Balamật là phải đến Niết-bàn, cái tê này cản ngăn qúi Phật tử phải dẹp qua để đi tiếp.

Thí dụ về Tinh Tấn Balamật.

Tinh Tấn Balamật là cố gắng mà sợ tê thì đứt Balamật. Nếu mình ngồi kỹ thuật mà niệm tê tê tê mà không có Tinh Tấn Balamật, mình thấy tê mình sợ thì không cố gắng vượt qua. Còn Tinh Tấn Balamật làm việc cho cái tê chứ không phải mình đang hành thiền quán về tê, qúi Phật tử lấy cái tê là chúng sanh để qúi Phật tử hành Tinh Tấn Balamật để đến Niết-bàn. Tinh Tấn Balamật có Tinh Tấn Ly Dục và Tinh Tấn Chí Nguyện đi kèm.

Thí dụ về Nhẫn Nại Balamật.

Dùng Nhẫn Nại Balamật để diệt cái tê, không có cái tôi trong đó, nếu mình sợ cái tê thì không có nhẫn nại, Balamật bị đứt, và có Ly Dục và Chí Nguyện đi kèm.

Thí dụ về Chân Thật Balamật.

Với Chân Thật Balamật thì tê chỉ là một pháp giả mà thật lòng mình tu mới là Chân Thật Balamật, vì tê là một pháp giả thì với hạnh nguyện Chân Thật Balamật thì không sợ cái tê. Chính do đó pháp này làm qúi Phật tử qua được cái tê. Ly Dục và Chí Nguyện đi kèm theo. Chân Thật Balamật không phải chỉ thân lời ý ở bên ngoài mà ta dùng thiền quán để lấy Balamật làm phương tiện để hành Thiền Quán để đi tới giải thoát, ta muốn tu để đi đến giải thoát thì tê chỉ là hiệp thế ta phải đi qua cái tê này để ta nhìn thấy rõ bản chất của chúng sanh làm Balamật của ta già dặn lên.

Thí dụ về Từ Ái Balamật.

Qúi Phật tử thương tất cả chúng sanh cũng như thương chính mình là một chúng sanh, chúng sanh còn sanh tử luân hồi, chúng sanh còn phải già đau chết, thương chúng sanh trong 4 cõi địa ngục, ngã qủi, atula, bàng sanh, thì cái tê qúi Phật tử phải qua, qúi Phật tử không qua được cái tê thì qúi Phật tử không thật tình thương chúng sanh, phải qua. Có Ly Dục và Chí Nguyện đi kèm theo.

Hành Xả Balamật là buông bỏ và ra đi.

Có khi qúi Phật tử đã có nhiều kiếp Balamật trong quá khứ rồi hôm nay nguyện Balamật chỉ là lập lại và bổ túc lên có Balamật nhiều hơn nữa, quả  mau tới hơn nữa, nếu qúi Phật tử nghe qua Balamật mà không có rúng động vì Balamật và cũng không khởi tâm để nguyện Balamật thực chất có thể là trong quá khứ chưa có Balamật giờ nó mới chưa có sự hấp dẫn lôi cuốn vào Balamật, qúi Phật tử nghe qua rồi hấp dẫn muốn hành đó là qúi Phật tử đã có Balamật trong quá khứ giờ thấy hợp và nguyện liền vì đã có nền tảng trong quá khứ rồi.

Do đó, giữa hai người một người có vốn và người không có vốn, người có binh lực và người  không có binh lực, người có khả năng và người không có khả năng. Và có khả năng với khả năng kỹ thuật, qúi Phật tử được 2 lần. Còn nếu qúi Phật tử không có mà chỉ có thuần túy về kỹ thuật thôi thì thấy cô đơn và sợ hãi những cái, tê, nhức, mỏi, đau, chặn đứng qúi Phật tử lại, qúi Phật tử hành Balamật không sợ hãi, tê, nhức, mỏi, đau, khi đang hành Balamật.

Cũng vậy, khi qúi Phật tử có tấm lòng cứu một người khác nếu qúi Phật tử không có Balamật thì có hai trạng thái tâm lý xảy ra, có nên giúp hay không nên giúp, tùy khả năng và không khả năng, nhưng với một người có hành nguyện Balamật là phải giúp được, tâm qúi Phật tử xao xuyến với Balamật, nao núng muốn làm muốn giúp liền, qúi Phật tử sẽ có năng lực mạnh hơn năng lực phi thường, trước giờ mỗi khi có việc cần giúp ai qúi Phật tử suy nghĩ giúp hay không giúp, có giúp chỉ giúp trong khả năng của mình, nhưng khi có Balamật qúi Phật tử sẽ tha thiết, sẽ có năng lực phi thường để giúp, phải làm vì Balamật vì chúng sanh đang mượn để làm cho Balamật của mình, qúi Phật tử giúp một cách rất chu đáo, giúp một cách hoàn hảo. Nên tiếng Pali là pāramitā, thì tiếng Anh gọi là perfection là Balamật là hoàn hảo. "Nguyện cho tôi được hoàn hảo" "Nguyện cho tôi hoàn hảo để độ chúng sanh". câu này rõ ràng. 

 Do đó, khi có hạnh nguyện Balamật là qúi Phật tử phải hoàn hảo, con người của qúi Phật tử không có một cái riêng tư trong đó nữa nên gọi là Bồ Tát là một sự giác ngộ tại nơi đây chứ không còn để đắn đo, còn không có Balamật thì còn đắn đo lợi hại tốt xấu nên hoặc không nên. Không có trạng thái gì riêng tư của mình sẽ đưa đến trạng thái hoàn hảo, do đó với những vị Bồ Tát họ nguyện "Nguyện cho tôi trở thành một người hoàn hảo để độ lại chúng sanh." 

 Do đó qúi Phật tử  không ngại gì khi nguyện Balamật vì Balamật sẽ làm qúi Phật tử trở lên hoàn hảo. Những kiết sử, thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham ái, sân hận, làm qúi Phật tử đứng lại trước ngưỡng cửa đạo quả thánh nhân của mình, còn qúi Phật tử hành Balamật thì kiết sử chỉ là một trạng thái mờ ảo trên đường đến Niết-bàn.

Hành thiền quán với Balamật một trong 10 pháp để đến Niết-bàn, lúc bấy giờ con đường hành thiền quán là Balamật qúi Phật tử đang hành, phương tiện chỉ là Thiền Quán nương tựa ở đó viên mãn Balamật Niết-bàn tại nơi đó qua con đường tu, bởi vì Thiền Quán sẽ đối diện với, tê, nhức, mỏi, đau, mà qúi Phật tử lấy Balamật đối diện Niết-bàn, còn Thiền Quán là cho chúng ta thấy được bản năng của chúng sanh được hiện bày chứng pháp môn Thiền Quán mà Balamật mượn chúng sanh để có Balamật. Mỗi lần ta ngồi xuống là ta làm một pháp Balamật, một lần ta ngồi xuống ta bổ túc Balamật để giác ngộ, để giải thoát, để chấm dứt sanh tử. Từ hổm rày qúi Phật tử ngồi thiền không với Balamật nên khi, tê, nhức, mỏi, đau, đến qúi Phật tử tha hồ bỏ cuộc.

Do đó, qúi Phật tử sẽ thấy một người học để có tương lai của mình còn có người học để cho thích thì học không thích thì nghỉ, cái đó nó khác, cái tu của mình cũng vậy, tu muốn giải thoát phải tu rốt ráo, còn tu mà thoải mái khỏe mình tu không khỏe mình không tu thì không có Balamật "."Nhứt thất nhơn thân, vạn kiếp nan tái phục" Một khi mất thân người này thì khó trở thành người, mà Balamật mình vẫn có mình không dùng thì biết bao giờ mình mới có để trở lại làm người mà hành Balamật, kiếp này con người mình còn ngắn quá không còn dài, tuổi đời của Sư còn ngắn hơn qúi Phật tử tại vì nguyện Chánh Đẳng Giác nó mau hơn là của qúi Phật tử nên Chánh Đẳng Giác ngắn hơn Thinh Văn Giác, mạng sống mình chấm dứt còn qúi Phật tử tà tà thì còn dài, do đó hai cái đó khác nhau nữa, qúi Phật tử thấy rõ giữa mạng sống của Thinh Văn Giác là ngắn tại vì mạng sống cuối cùng là Balamật của Chánh Đẳng Giác do đó tuổi thọ ngắn hơn nữa nên qúi Phật tử  dễ nuôi lắm. Chánh Đẳng Giác như đứa con mồ côi phải nỗ lực nhiều, còn Thinh Văn Giác là con có cha có mẹ nương tựa./.

---------------------------------------------

Sau 1 giờ hành thiền

Thiền sinh: Thưa Sư, hôm nay con ngồi thiền với Balamật ban đầu con thấy đau, con nguyện Balamật và con ngồi tiếp thì một lúc con không còn thấy đau nữa.

TT trả lời: Đó là qúi Phật tử đang nhìn cảnh pháp, trong pháp Niệm Xứ nó thuộc về cảnh pháp, không phải là thân thọ tâm mà là cảnh pháp, pháp đó làm cho qúi Phật tử bị điên đảo trong trạng thái không thấy sự diễn tiến. Qúi Phật tử thấy nó dắt mình đi với trạng thái mình thấy nó đang đi với ý nghĩa gì thì mình ra được pháp, còn mình đang bị nó dắt đi thì mình đang bị nó cuốn theo diễn tiến của nó như mình lọt trong cơn xoáy nước cuốn không ra được, 

Đó là cơ hội qúi Phật tử có hai điều:

-  Thứ nhất là qúi Phật tử không có chánh niệm, trong chánh niệm là gì? Trong chánh niệm là qúi Phật tử không ghi nhớ với đề mục mình đang có mình đi theo nó, nó dắt mình đi là mình không có chánh niệm với đề mục mình đang có. 

- Thứ hai nữa là thiếu tỉnh giác, tỉnh giác thì có hữu lý tỉnh giác, vô si tỉnh giác, thì qúi Phật tử không có đi theo trạng thái đó, mình hiểu cái này nó có hữu lý và đáng để mình để ý và mình chú ý theo thì gọi là hữu lý tỉnh giác. Còn nếu như mình thấy nó không đáng hữu lý và mình thấy không đáng để mình đi theo nó để mình tìm thấy nó mình phải là vô si tỉnh giác mình ra đi , những cái đó nó có trong đó hết cái pháp nó có sẵn trong đó mà qúi Phật tử không lấy đó nên những khi qúi Phật tử đến trong đó thì mình sẽ thấy và mình cuốn theo đó. Như vậy thì ở trong đời sống hàng ngày qúi Phật tử sẽ bị nó cuốn theo trong đời sống hàng ngày mình như vậy đó. 

Như mình nói thí dụ một câu chuyện cháy nhà, khi cháy nhà thì mình cuốn theo qũy đạo của cháy nhà hay là mình giải quyết được sự cháy nhà dựa theo cái gì mình quyết định, nếu mình không giải quyết được quyết định của mình thì cháy nhà nó cuốn mình trong đó, mình lúng túng trong đó, mất của mất mạng ở tại nơi đó nếu chuyện cháy nhà mình không giải quyết được, nếu mình biết được thì mình không mất của và có thể không mất mạng mình một cách đáng tiếc, còn không thì vừa mất của mất mạng một cách đáng tiếc mà mình không giải quyết được chuyện.

Thiền sinh: Thưa Sư, hôm nay con ngồi thiền cái tê nỗi lên con đau qúa, con biết là vô thường, nhưng nó đau quá nên con xả thiền.

TT trả lời: Khi mình có pháp mình tu hay là pháp mình nương mình dùng cái đó để mình đi được thì mình sẽ qua được cái nghiệp của mình, khi cái nghiệp nó đến với mình, hai nữa là cái duyên đến với mình để mình nhìn thấy pháp, hoặc là nghiệp đến với mình để mình trả, hai là cái duyên đến để mình thấy phá. Hồi nãy Sư mới nói khi nhìn thấy cảnh tới là hai trường hợp nếu mà nói của mình thì là nghiệp nó đến mình phải trả, sau cơn mổ nó hành cô đau trở lại còn khi không có nghiệp nó đến là nghiệp tướng nó đến với mình cái đó là cái duyên nó đến để mình thấy được pháp hành được Balamật. Mình thấy cái đó là mình có duyên là vì mình nhìn thấy pháp là mình có duyên để mình hành pháp Balamật để mình qua được cái này. 

Trong đời sống hàng ngày áp dụng trong pháp hành mình nhìn thấy cái đó trong đời sống hàng ngày khi mà trong cái tận cùng cái khổ cái khó mình phát lên một cái duyên, cái duyên đó mình tiếp cận cái duyên đó để mình làm nên cái pháp xảy ra cái vị trí đó, còn không, trong đời sống hàng ngày ỷ lại an vui qua an lạc và có hạnh phúc mình không thức tỉnh và không có trí tuệ để giải quyết những cái khó thì khi cảnh nghiệp đến mình không có cách giải quyết, do đó hai cái đó cho mình thấy pháp tu vậy thì khi mình thấy cái khổ đến mình lấy cái gì mình tu, lấy cái pháp, lấy kiến thức mình, và lấy suy tư của mình, lấy cái tu tập bám vô cái pháp đó mình đi tới tri tuệ mình tu. 

Do đó mình làm được hết, qúi Phật tử sẽ thấy pháp hành là chỉ cho mình biết cái vốn liếng mình có nhiều hay it và khi đó mình có cái gì do đó mình sẽ giải quyết được thì mọi việc trên đời này mình sẽ có nhiều cái mình giải quyết được, còn khi pháp hành mà mình không thấy mình có một vốn liếng nào trong sự giải quyết lúc đó là mình biết là mình chưa có kiến thức để mình đối diện với những cái gì khó, thực tế, trong cuộc sống hàng ngày của mình. 

Do đó rất là quan trọng, mình ngồi xuống có dịp để mình ngồi, chứ đời sống hàng ngày bắt mình đi, bắt mình làm để mà sống, hết chuyện nhà chuyện cửa chuyện con cái, mình không nghĩ tới mình nữa, nay mình có dịp ngồi xuống một tiếng mình gặt hái được biết bao nhiêu thực tế của sự sống của mình, cuộc đời của mình là như vậy đó.

Thiền sinh: Thưa Sư, hôm nay con cũng không có được tỉnh táo, có vẻ bị hôn trầm nhiều lần, nhìn lại thì con thấy hình như con bị mất chánh niệm và tỉnh giác. Thì con biết là như vậy nhưng không cách nào mà qua được cái hôn trầm.

TT trả lời: Tại vì mình không có thấy được cái đối tượng của mình, do đó  bị hôn trầm, mình tìm cách để giải quyết hôn trầm, theo dõi đối tượng của mình (đối tượng của mình là pháp hiện bày, là hơi thở ra vô dài ngắn)  là mình ra được hôn trầm.

Có hai cách giải quyết, có nhiều người bị hôn trầm tìm cách ra khỏi hôn trầm, mà thực ra mình bị muội lượt rồi mới bị hôn trầm, mình phải trở lại đối tượng của mình là pháp hiện bày là hơi thở, không để ý đến sự hôn trầm. Chính cái đó là qúi Phật tử quên mất điểm tựa là hơi thở, mất đối tượng, mất chánh niệm. Do đó có nhiều Phật tử dùng sức mạnh của mình để đối phó cái yếu của cơ thể mình hay là dùng cái tự tin của mình để đối phó với những nghịch cảnh của mình có, nhưng thật ra phải dùng trí tuệ, mạnh thì dùng sức yếu thì dùng mưu, mà mình không có mưu thì dùng trí , mình đối diện với một pháp đến với mình mình đâu có dùng sức lực mình nữa phải dùng trí phải đối phó phải giải quyết, chính cái đó ra được. Sư thường nói; chánh niệm có trí tuệ, tinh tấn có trí tuệ ,định  có trí tuệ, mới ra được ý nghĩa việc làm của mình tinh tấn được, đó là tấn, niệm, định, tuệ, nếu không thì Phật tử sẽ mất đi một điểm tựa lớn là trí khôn của mình hay là trí tuệ của mình.

Mình gần người có trí tuệ thì mình sẽ dùng được trí tuệ nhiều lắm, người có trí người ta giải quyết bằng trí thì mình học được cái trí đó mình giải quyết được. Mình gần gủi người có kinh nghiệm mình sẽ học hỏi được nhiều để mình giải quyết được kinh nghiệm của mình giúp sự khó của mình, do đó lúc nào cũng vậy thôi, nhưng mà sự thật là mình phải coi lại mình dùng được và biết được và có khả năng làm được.

Thiền sinh: Thưa Sư, ngày hôm nay con ngồi thiền con tỉnh lắm, con thấy cái gì con biết hết nhưng mà đến lúc cơn đau nó lên con cũng bình thường nhưng lúc nó lên đau quá nó nóng dữ lắm thì con nhìn vô cái tâm của con, con vẫn nhớ là Sư dặn là lúc đau quá thì nhớ đó là cái khổ rồi thấy nó vô thường lúc con đau quá.

TT trả lời: Trạng thái đau quá là phút quyết liệt của sự chấm dứt, cũng như trước khi ngọn đèn tắt thì ngọn lửa mạnh nhất nó phừng lên rồi tắt, lúc đó khôn ngoan mình bắt chỗ đó. Những cái mà mình đã thấy được là mình có sự biết cái tâm mình dùng để mình làm được, mình tới pháp luôn, pháp đó đang là sanh, già, đau, chết.

Hồi nãy Sư nói rồi, những cái gì mà Sư nói hôm nay khi ngồi thiền đều sẽ xảy ra, Sư nói rõ ràng sanh, già, đau, chết, lúc đó là trí tuệ Balamật, (nãy Sư dùng chữ tê bây giờ cô dùng chữ đau), nhưng mà lúc đó mà mình nhìn thấy rõ đó là cái ái trong đó, tất cả đều trong cái ái, mình muốn cái đó phải thấy cái đó, có cái đó hiện bày, lúc đó dùng Trí Tuệ Balamật để ra.

Cái nóng là trạng thái của nó hiện ra nhưng mà sanh già đau chết lấy Trí Tuệ Balamật mình nhìn vô cái đau hay là cái nóng đó sanh già đau chết nó sẽ sanh lên rồi già, nó đau khủng khiếp lên, rồi nó chết, là hết, thì đó là chỗ mình lấy, mà lúc nó đau dữ là lúc qúi Phật tử phải bình tỉnh nhất, lúc mà cơn xoáy mà nó kéo mạnh nhất là qúi Phật tử sẽ biết là nó quất mình mạnh nhất xuống tới đáy đựng tới chân là minh đủ sức búng nó đi, búng theo  hướng chéo thì mình mới ra khỏi cơn xoáy nó xuống thẳng, nếu qúi Phật tử không bình tỉnh lúc đó vừa ngộp nước uống nước sình bụng và chết luôn tại đó, nó kéo mình rớt xuống thẳng xuống đáy nếu mình rớt xuống mình búng xéo qua thì ra khỏi cơn xoáy nước này.

Thiền sinh: Thưa Sư, lúc con bị tê nóng quá thì con coi cái tâm, mới đầu vô thì nó bình tỉnh và con cảm thấy người của con hơi nghiêng xuống thì rồi đau quá con xả luôn. 

TT trả lời: Cái Balamật của mình, kiên cố cái chí nguyện của mình ở chỗ đó mà trạng thái dằn co của mình lúc đó mình phải ly dục, lúc đó mình sẽ ra, nhưng mà giữa hai cái đó mình trở lại pháp hiệp thế mình không dùng Balamật mà dùng về kỹ thuật, cái đó mình nghiên qua nghiên lại mình ngã tới ngã lui cho nó dịu nó êm mình cân bằng lúc đó cái tứ đại mình đang đòi hỏi mà thôi.

Thiền sinh: Nếu con nghiêng xuống thì nó dễ chịu nhưng nếu con sửa ngồi ngay thì cái khó chịu nhiều hơn, con có nên làm nó khó chịu nhiều hơn không?

TT trả lời: Mình không quyết định được, mình nhìn cái pháp mình lượm cái pháp, còn mình không quyết định được, lúc đó mình không lượm được cái gì hết mà là mình đang đối phó pháp chứ mình không lượm được pháp.

Pháp hành là như vậy, những lúc nó đến nó không cho mình biết và những cái mà mình biết mình lấy tri kiến mình giải quyết chứ không nói theo cái pháp mà mình thấy, những cái đó luôn luôn đem cho mình tới một cái ảo tưởng do một ảo kiến, mình nhìn cái đó ở góc độ mình có sự hiểu biết để giải quyết chứ thật ra không phải những cái mà mình biết trong pháp hành dừng lại để cho mình nhìn thấy pháp, để pháp dạy cho mình biết mình thức tỉnh, cái đó là mình cần biết. Qúi Phật tử ngồi đúng kỹ thuật rồi, ngồi đúng phương pháp rồi, qúi Phật tử có cách giải quyết được hết thì chính cái đó qúi Phật tử đợi cho tất cả pháp nó đến, chứ qúi Phật tử đâu còn phải làm cái gì nữa đâu, mà bây giờ qúi Phật tử còn muốn làm nữa đó thì chính cái đó là mình làm luôn đi, qúi Phật tử đâu cần làm nữa.

Một người bạn bị vắng một buổi học, họ được biết là bạn vừa đi nghe buổi học, họ đến nói qúi Phật tử trùng tuyên lại nhắc lại bài học đó, qúi Phật tử đang trùng tuyên thì người bạn nói hết trước lúc bạn đang nói thì mình không còn muốn nói nữa, thì pháp cũng vậy khi nó đang đến thì qúi Phật tử phải nghe phải nhìn phải thấy, chứ Phật tử nói tôi biết cái này rồi tôi biết cái này rồi thì pháp đâu cần trông thấy nữa. 

Pháp hành có hai trường hợp, có một người Phật tử họ nói mà Sư nghe rất là hay: " từ ngày con học pháp hành của Sư nó hành con nhiều lắm", do đó qúi Phật tử phải hiểu hai góc độ đó, pháp hành mà nó hành mình là mình phải tìm, còn qúi Phật tử hành pháp là của qúi Phật tử thì qúi Phật tử khỏi phải đi tìm, mình biết rồi thì mình đâu đi tìm nữa, cái đó quan trọng lắm.

Bữa nay bài pháp này Sư nói ở trong đó tất cả, nó ở trong đó mà qúi Phật tử không có dùng có thể tại vì mỗi một ngày qúi Phật tử học một bài mà một bài đó qúi Phật tử có thể ngồi xuống và lượm ngay tại đó thì chắc chắn qúi Phật tử có đủ kinh nghiệm, Sư rất là thông cảm, chỉ có một người hai người có khả năng bắt ngay lúc đó là hy hữu và thù thắng nhưng rất tiếc là hiếm có. Mới đây mình dùng liền tìm đâu có mới đây xảy ra liền đâu có thể phản ứng kịp để bắt kịp nó hay lượm kịp nó, nhưng mà qúi Phật tử sẽ phải nhiều lần như vậy hay là ít lần hơn có khả năng hơn qúi Phật tử sẽ thấy mỗi buổi mà Sư tới là bài đó qúi Phật tử phải chuẩn bị liền, 4 giờ chiều mà Sư cho nghỉ giải lao là qúi Phật tử phải chuẩn bị tất cả những gì mà những bài mà nãy giờ sư nói tại vì 5 giờ là ngồi thiền mà qúi Phật tử làm được cái đó hạnh phúc vô cùng pháp vị qúi Phật tử đón nhận được rõ ràng./.

Chấm dứt bài 10 Pháp Độ Balamật tại đây


Wednesday, October 20, 2021

Vi Diệu Pháp 11 - Pháp Độ Từ Ái Ba-la-mật - TT Sán Nhiên

 Pháp Độ Từ Ái Balamật - Vi Diệu Pháp 11 - TT Sán Nhiên

Minh Hạnh đã được nghe để học và, xin ghi chép lại theo sự hiểu của chính mình từ video "Vi Diệu Pháp 11" do TT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức. Và xin thành kính cảm tạ ơn TT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

TT Sán Nhiên: Chúng ta tiếp tục học Pháp Độ Balamật, hôm nay  đi qua phần thứ 9, trước khi Sư qua phần thứ 9, Sư ôn phần Chí Nguyện Balamật. 

Chí Nguyện - là cầu giải thoát

Thệ Nguyện - không dính mắc trong đời

 Kiên Quyết - phải kiên quyết chấm dứt sanh tử luân hồi dốc lòng đến Niết-bàn giải thoát 

Phần Chí Nguyện này rất quan trọng, người không có Chí Nguyện giống như ta không lập thệ nguyện, không nói lời tuyên thệ của mình hay mình không nói đặc tính kiên quyết của mình, quyết tâm của mình thì không làm được gì hết. Người hành Chí Nguyện Balamật, mình nên thệ nguyện hay nói lên đặc tính kiên quyết của mình, đó là tính chất của Balamật. 

Với nguyện vọng hành Balamật vị đó là vị Bồ Tát:

- Họ dốc lòng Chí Nguyện để cầu giải thoát, 

- Thệ nguyện của họ không dính mắc trong đời, 

- Và kiên quyết là họ phải chấm dứt sanh tử luân hồi.

Họ phải ra đi không một lý do gì giữ họ lại, đó là Chí Nguyện Balamật của vị đó, không dính mắc gì trong đời, không muốn sanh tử luân hồi, họ muốn giải thoát, dù là hạnh phúc hay những gì họ đang có, họ coi như đó chỉ là phương tiện chứ không phải cứu cánh. Cứu cánh của họ nhắm tới là Niết-bàn.

Người có lòng Chí Nguyện như vậy họ sẽ sống và chết với hạnh nguyện của họ mà thôi, là phải giải thoát mọi sự ràng buột ở trong đời này, họ tháo gỡ  cứ như vậy mà đi không có gì lay chuyển được,  đó là người sống với Balamật Chí Nguyện - Thệ Nguyện - Kiên Quyết - dốc lòng đến Niết-bàn giải thoát. 

Ttrong cuộc đời này có những ràng buộc trên con đường đi đến Niết-bàn giải thoát: 

1) Đầu tiên ta nói là Khổ Thú là sự ràng buộc của chúng sanh, sống trong cõi đó rất khổ.

2) Thứ hai là Thiện Thú, chúng sanh ở trong cõi này cho dù an vui đi nữa cũng phải sanh tử luân hồi, họ không muốn nữa, họ muốn giải thoát.

Hai điều này ràng buộc của chúng sanh, mà ai muốn và ai không muốn. 

Nhìn trở lại, có những người không muốn rớt trong con đường Khổ Thú, địa ngục, ngã qúi, Atula, súc sanh, tuy nhiên trong sự sống của họ không biết con đường đi nào là đúng, con đường nào đi là sai, chính do đó họ rớt vô trong con đường khổ thú, khi biết thì họ rút ra không kịp họ phải rớt lăn trong đó luôn và họ phải trả quả báo trong khổ thú.

Đọc lại tiền thân của ĐĐ Ananda, thị giả của Đức Phật, sống một đời sống thánh thiện, với cuộc đời của một thị giả mà tiền thân sống cuộc đời rất là đau khổ, nhưng vì dễ dui quên mình nên mất đi Chí Nguyện của chính mình  đã tạo ra trong quá khứ một hành động sai lầm do đó phải rớt trong khổ thú phải chịu khổ đau lâu dài. Còn với những người sanh trong thiện thú có những người dính trong đó bị cột trói trong khổ đau chúng ta sợ hãi, nhưng thà chúng ta càng sợ hãi hơn là hạnh phúc tại vì cái hạnh phúc mật ngọt nó vi tế và nó lôi kéo con người chậm và sâu và chính xác hơn sự khổ đau mà ta nghĩ là nguyên nhân. 

Khi bị khổ chúng ta muốn chạy trốn, nhưng khi hạnh phúc ta quên cái khổ thì vẫn bị sanh tử, qúi Phật tử đắm say hưởng hạnh phúc an vui đó, cái đó sợ gấp hai lần. Đức Phật trong khi Ngài còn nguyện Bồ Tát Ngài cũng rớt xuống địa ngục rất nhiều lần, Ngài cũng phải đi mà đi trong cảnh khổ, rồi Ngài phải ra, một mình một thân ra lại rồi đi tiếp, rồi lại rớt nữa tới khi Ngài được Đức Phật thọ ký là Bồ Tát Vĩnh Cửu Ngài mới ra đi xuyên suốt không còn trở lại con đường khổ thú luân hồi sanh tử của Ngài.

Trong lòng bàn chân Đức Phật có nhiều hình tượng con thú, đó là những kiếp Ngài đã trải qua và niêm luật của một vị Chánh Đẳng Chánh Giác là không khi nào Ngài sống nhỏ bé hơn một con chim sẻ và không khi nào Ngài  ở vị trí tiêu liệt giống như loài dòi bọ sống trong phẩn, đó là niêm luật của vị Chánh Đẳng Chánh Giác đi tục sinh, có lúc Ngài sinh ra làm voi, làm sư tử v.v... thì Ngài cũng có trải qua giai đoạn rất là khủng khiếp của cuộc đời làm khổ thú rồi sau đó sanh lại làm người làm trời Ngài tiếp tục đi như vậy, trong sự đi của Ngài; một là trau dồi Balamật, hai là Ngài tìm hiểu cuộc sống chúng sanh đang sống trong cuộc đời để hiểu biết sau này thành Phật Ngài sẽ độ theo sự hiểu biết kinh nghiệm của Ngài đã có, đó là những bậc Chánh Đẳng Giác trải qua xuyên suốt trong cuộc sống của Ngài, nhưng Chí Nguyện của Ngài không bỏ, Ngài tiếp tục đi tiếp để tới ngày thành đạt.

Người Bồ Tát Balamật qúi Phật tử cũng phải có lập Chí Nguyện. Là một người Phật tử mà không có Chí Nguyện dốc lòng cầu pháp, sẽ trôi lăn trong trạng thái hết khổ rồi đến thiện rồi lại đến khổ, cứ trôi lăn trong 31 cõi sinh tử luân hồi đó, quay tròn hoài. Do nhận thức như vậy người Bồ Tát là người Phật tử của đấng Giác Ngộ thì phải có Chí Nguyện dốc lòng đi đến Niết-bàn, qúi Phật tử phải nhớ như vậy. Khổ nào chúng ta cũng phải vượt qua, thiện nào chúng ta cũng phải từ chối buông bỏ không dính mắc, nếu không Balamật chúng ta bị đứt. Khổ chúng ta sợ, mà hạnh phúc chúng ta còn sợ hơn, an vui sợ hơn cái khổ đang đến, khổ làm qúi Phật tử thức tỉnh nhiều mà thiện làm qúi Phật tử dễ dui không thức tỉnh là quên mình. Khi mình nghèo mình tiện tặn dễ lắm, nhưng có tiền mình sài sang sài hoang. Cuộc sống của chúng ta có những cạm bẫy và những cạm bẫy đó luôn luôn dâng sẵng đón chờ con mồi đang muốn bắt mà chúng ta không khéo sẽ là con mồi rớt vô cái bẫy. Qúi Phật tử luôn luôn phải sống trong trạng thái phải chánh niệm và có sự tỉnh giác.

Balamật Chí Nguyện là người bạn nhắc nhở mình nhiều nhất trên con đường tu tập nguyện Bồ Tát giải thoát, giống như người học sinh muốn giỏi mình phải lập thệ nguyện là học giỏi, đứng nhất hay mình phải hơn bạn, thì ta phải có hướng đi, còn nếu như qúi Phật tử không muốn là học sinh giỏi qúi Phật tử không lập nguyện, ai sao tôi vậy, như lục bình trôi theo giòng nước trôi dạt tới đâu biết tới đó. Cũng như qúi Phật tử ngồi đây 30% là nhân thiên, 30% chịu luân hồi, 30% chịu tu để đạt giác ngộ giải thoát, chứ không phải ai cũng giống nhau.

9) Pháp độ thứ chín là, Từ Ái.

Từ ái là tình thương, nhưng chữ tình thương này qúi Phật tử sẽ thấy nó khác với tình thương vị kỷ, khác với tình thương vị tha, tất cả những gì còn thiên vị mình phải buông bỏ, dính vào đó là dính mắc, chắc chắn là vậy. 

Vị kỷ cũng không được mà vị tha cũng không được, mẹ thương con là tình thương vị kỷ, thân bằng quyến thuộc mình thương hết đó là vị tha, hay là chúng sanh mà mình ngó tới mình có tình thương, mình nhìn vào đó mà còn ái luyến, đó vẫn là một sự thiên vị, không phải là tình thương từ ái của Balamật. Thí dụ, cùng một màu da với nhau mình mới thương, khác màu da thì không thương, đối với tâm Từ Ái Balamật họ không phân biệt điều đó, qúi Phật tử nhìn thấy người Phi Châu thì sợ, đó là sự phân biệt là bị đứt Từ Ái Balamật của mình liền, mẹ thương con không phải là Từ Ái Balamật, tại vì mình chỉ thương con mình thôi chứ không thương con người khác. 

Từ ái là tình thương không có thiên vị, không phân biệt, đó là tình thương chúng sanh chứ không phải là con người, nếu qúi Phật tử còn nói tình thương của qúi Phật tử là con người thì qúi Phật tử chưa có Từ Ái Balamật, chúng sanh là bò gà heo vịt cũng thương chứ đừng có nói là con người mới thương.

Do Từ Ái là tình thương đối với chúng sanh, ngày xưa Đức Phật còn là Bồ Tát, con thứ ba của một vị vua, Ngài là con trai út, ba anh em đi săn thì Ngài bị lạc, trên đường đi tìm hai anh ngó xuống vực thẳm thấy con cọp mẹ có 4 con cọp con đang đói và khát, con cọp mẹ khởi tâm ăn thịt 4 con cọp con để nuôi sự sống của mình vì sự sống của mình đang gặp nguy hiểm, mà 4 con cọp con mới sinh ra chưa hiểu biết gì cả. Bồ Tát mới nói nếu như ta làm chậm thì con cọp mẹ sẽ ăn 4 con cọp con, Ngài mới lao mình xuống gần kế bên miệng con cọp để hiến thân cho cọp mẹ, nhưng quá đói quá yếu nên không đủ sức ngồi lên ăn, Ngài mới lấy tay Ngài cà cho máu chảy ra và đưa vào miệng cọp mẹ, nó liếm máu của Ngài và lấy lại hơi sức đứng lên được và ăn thịt Ngài, quả địa cầu rung động, khì hai anh vừa tới thì thấy áo quần Ngài treo trên gốc cây nhìn xuống thì thấy bộ xương trắng, Ngài đã cho cọp mẹ ăn để nuôi bày con, lúc đó tinh thương của Ngài không là tình thương con người mà là tình thương chúng sanh. 

Quả địa cầu rung động, có 8 pháp lạ của quả địa cầu rúng động là, khi Bồ Tát đã thành tựu một Balamật xong lúc đó quả địa cầu rúng động (ngày nay người ta nói là động đất). Ngày Bồ Tát thành tựu quả vị ngồi tại bồ đoàn, Ma Vương tới đòi thì Ngài nói 

"Quả địa cầu này chứng minh bồ đoàn này của ta".

Bao nhiêu kiếp Ngài làm Balamật chỉ có quả địa cầu chứng minh Ngài có làm tại nơi đó, quả địa cầu rúng động và dâng nước lên cuốn trôi hết binh ma, Ma Vương bỏ cuộc chạy về cõi trời Tha Hóa Tự Tại. 

Thì tâm từ ái này qúi Phật tử muồn nguyện Balamật thì phải có lòng từ ái thương cho chúng sanh. 

Tâm từ ái có 3 bờ là:

- Bờ này dành cho Thinh Văn Giác 

- Bờ kia dành cho Độc Giác

- Bờ cao thượng dành cho Chánh Đẳng Giác.

Định nghĩa các bờ như sau:

- Bờ này dành cho Thinh Văn Giác là, khi hành tâm từ qúi Phật tử phải làm sao nó không ảnh hưởng tới đời sống của qúi Phật tử và không ảnh hưởng tới thân thể đến mạng sống của qúi Phật tử, đó là hành Balamật ở bờ dành cho Thinh Văn Giác.

Thí dụ. Qúi Phật tử đang ở nhà nghe một cú điện thoại kêu tới cứu một người bạn đang bị bịnh, lúc đó qúi Phật tử có 2 tâm lý; nếu đó là người bạn gọi thì qúi Phật tử nghĩ "đây là bạn của ta, ta phải đi", thì qúi Phật tử đang làm một việc thiện. Nhưng, khi đang ở nhà mà người bạn gọi tới nói "Tôi đang bị bịnh đến cứu tôi được không?" Qúi Phật tử nghĩ mình đi vì mình hành nguyện Balamật, tác ý khôn khéo đừng nghĩ đó là bạn, mình đi theo khả năng của mình đi tới giúp người ta, mình không nghĩ đó là bạn mà mình đi giúp chúng sanh. Nhưng qúi Phật tử nhắm mình đi được không hại sức khỏe, không nguy hiểm đến tánh mạng mình thì đó là qúi Phật tử đang đi bờ Thinh Văn Giác.

- Bờ kia dành cho bậc Độc Giác là. Nhưng đến nơi có nhiều nguy hiểm có thể ảnh hưởng tới thân thể của mình, thì lúc đó qúi Phật tử đang làm hạnh bậc Độc Giác.

- Bờ cao thượng là Chánh Đẳng Chánh Giác. Rồi khi qúi Phật tử tới giúp bạn của mình mà có thể nơi đó đoạn mạng sống của mình nhưng mình phải vào đó cứu mạng bạn mình, lúc đó qúi Phật tử ở bờ Chánh Đẳng Giác. Chẳng hạn như vụ khủng bố ngày 9 tháng 11 năm 2001, có hai chiếc máy bay với sự tham gia của nhóm khủng bố Hồi Giáo Al-Qaeda đâm vào tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở Lower Manhattan, thành phố New York, Hoa Kỳ. Có một bài viết về hai người chữa lửa rất là thương tâm, trong toà nhà khói mù mịt không ai thấy gì cả, hai người chữa lửa vẫn đi vô trong toà nhà đang cháy đó rồi không thấy trở ra, đó là họ đi hết mạng sống của họ. Sư đọc bài đó Sư mới thấy hai người đó là tâm từ của bậc Chánh Đẳng Giác.

 Khi mình có tâm từ, có một điều hết sức vi tế, đó là không bao giờ được hiện bày sân hận hay hiện bày bất toại nguyện dù trạng thái cau mày hay nhăn mặt. Người còn tánh sân, hay người bất toại nguyện chưa hài lòng, hay người khó tính thì không nên nguyện Tâm Từ Balamật.

Kỹ thuật của tu hạnh nguyện Balamật, khi mình đang là Bồ Tát phải mượn chúng sanh làm đối tượng hành Balamật, mượn chúng sanh làm đối tượng của Bồ Tát. Như vậy, qúi Phật tử đừng bỏ mất cơ hội mượn chúng sanh để mình qua sông, không nệ khó, làm không phải để được khen, không phải để được thương, không phải vì hạnh phúc mà vì Balamật mình phải đi, đó là hạnh nguyện của mình, kiên quyết của mình.

Một sinh viên học ngành y khoa khi ra trường họ phải vào các bệnh viện  thực tập để lấy kinh nghiệm lấy bệnh nhân làm cơ sở trau dồi nghề nghiệp của họ, càng có nhiều bệnh nhân càng có kinh nghiệm thực tập giỏi để ra trường phục vụ trọn vẹn hơn, thì người Balamật mình cũng vậy thôi, bờ thứ nhất làm chút xíu, bờ thứ hai làm thêm một chút, bờ thứ ba làm hết lòng. 

Balamật mau lên thì đạo quả mình mau tới, mà đạo quả mau tới thì mau thành tựu. Bồ Tát Chánh Đẳng Giác là muốn độ chúng sanh do đó mau thành tựu một cách viên mãn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Tóm lại, nguyện Tâm Từ Balamật là không được sân, không được bất toại nguyện, dùng chúng sanh không dùng con người, không có tánh thiên vị và tùy theo đối tượng mà làm theo hạnh nguyện của mình, bờ này, bờ kia, bờ cao thượng./.


Còn tiếp phần hai Hành Xả Balamật

Monday, October 11, 2021

Vi Diệu Pháp 10 (tiếp theo) - Pháp Độ Chân Thật Ba-la-mật - TT Sán Nhiên

  Pháp Độ Chân Thật Balamật - Vi Diệu Pháp 10 (tiếp theo) - TT Sán Nhiên

Minh Hạnh đã được nghe để học và, xin ghi chép lại theo sự hiểu của chính mình từ video giảng "Vi Diệu Pháp 10" do TT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức. Và xin thành kính cảm tạ ơn TT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

TT Sán Nhiên: 

7) Pháp độ thứ bảy là, Chân Thật Balamật hay còn gọi là Chân Thật Độ. 

Chân thật Balamật ảnh hưởng đến nghề nghiệp qua: thân chân thật, lời chân thật và ý chân thật. Chúng ta hành nguyện Chân Thật Balamật, thân ta hành động phải chân thật, lời chúng ta nói ra phải chân thật, ý ta nghĩ suy ra phải chân thật , đó là chúng ta đang hạnh nguyện Chân Thật Balamật hay Chân Thật Độ.

Vậy thì, trong đời sống hàng ngày chúng ta nói sao thì làm vậy, nghĩ sao thì nói vậy, là ta có Chân Thật Balamật. Chúng ta không thể nào nghĩ một đàng nói một nẻo, ta chỉ người này làm cách này mà ta hành một cách khác.

Không có sự thật nào che dấu dưới ánh sáng mặt trời được. Với pháp Chân Thật Balamật, chúng ta phải thận trọng khi nguyện Chân Thật Balamật.

Có vài hành giả Bồ Tát nghĩ các Balamật khác khó và họ nghĩ tới Pháp Chân Thật Balamật thì dễ nên họ nguyện Balamật Chân Thật. Nhưng, nhìn lại pháp Chân Thật Balamật cũng là một hành động vi tế không thô thiển được. Vì thân lời ý của ta phải chân thật từ gốc mới hiện bày ra nghiệp báo, mới hành nguyện được Chân Thật Balamật.

Cũng như, khi ta là bậc cha mẹ mà dạy con cái của mình một đường chúng ta làm một nẻo, đó là không có pháp Chân Thật Balamật, sau này sẽ là "thượng bất chính hạ tắc loạn" không thành công.

Do đó, qúi Phật tử phải cẩn thận vô cùng với pháp Chân Thật Balamật này. 

Có những người hiểu lầm chân thật là phải thật thà. Thật ra thật thà không hẳn là chân thật. Do đó, sự thật thà này chưa phải thật sự chân thật, thì dụ, mua một đồng bán một đồng là thật thà là chân thật, nhưng họ thật thà trong sự mưu sinh nó khác hơn sự  thật thà trong hành pháp Balamật Chân Thật. Trong đời sống hàng ngày có những pháp môn thật thà, như cách sống thật thà nhưng trong đó qúi Phật tử muốn tìm sự sống trong sự thật thà này một mưu sinh là có tính mưu trong đó, không phải là Chân Thật Balamật.

Vậy thì, nếu qúi Phật tử thật thà trong việc mưu sinh và qúi Phật tử thật thà trong hành động thì hai cái này khác nhau. 

Vì, thật thà trong mưu sinh là qúi Phật tử có tính toán để sống.

Còn qúi Phật tử hành động trong thật thà có sao thì như vậy không thay đổi. Con người thật thà hay còn gọi là con người chơn chất, hay ta còn nói con người minh bạch, trong sáng, rõ ràng, đó là chân thật Balamật từ thân lời và ý, tất cả đều phải như vậy, nghĩ  sao ta nói vậy, ta nói sao ta làm vậy đó là Chơn Thật Balamật. 

Không được làm sai trật những lời ta nói, sai trật với ý ta suy nghĩ. Mình nói ngày mai đúng giờ mình có mặt và mình đã đến đúng giờ, đó là Chân Thật Balamật, khi nào qúi Phật tử nói cái gì mà chính xác rõ ràng thì qúi Phật tử phải cẩn thận phải đúng như vậy mới là Chân Thật Balamật. 

Nhưng nếu qúi Phật tử không bảo đảm được vì đó là cách sống của qúi Phật tử thì qúi Phật tử cẩn thận chọn không thể làm người Chân Thật Balamật độ. 

Nếu qúi Phật tử không sống vì mưu sinh trong mọi hành động luôn luôn giữ được sự chân thật, minh bạch, trong sáng, rõ ràng, chơn chất, thật thà, với Chân Thật Độ này là qúi Phật tử phải đúng như thật như vậy đó mới được kết quả thân lời và ý, qúi Phật tử làm được  nguyện Chân Thật Balamật.

Người công nhân đến với hãng xưởng, người bán buôn, hai nghề đó khó giữ được chân thật, ngay cả mình là một người công nhân làm việc đúng 8 tiếng xong mình ra về, mình chưa giữ được pháp Chân Thật Balamật là vì chúng ta phải làm hết trách nhiệm của mình mới là Chân Thật Balamật, làm việc câu giờ, làm việc tà tà là không phải Chân Thật Balamật.

Chân Thật thân lời và ý của mình phải trong sáng không có bợn nhơ hay có mờ ám trong tư tưởng của mình, đó mới là pháp Chân Thật. Mình tu cầu giải thoát chứ không cầu sự khen ngợi, không cầu người ta hiểu biết mình, đó là Chân Thật. Còn mình tu có sự cầu giải thoát nhưng trong đó mình cầu mong có người khen ngợi tán thán, hay là mình cầu mong lợi lạc thì đường tu đó chưa là Chân Thật. 

Qúi Phật tử cũng vậy, sợ khổ trong đời mình tu nhưng trong khi mình tu có đôi lúc bị dễ dui thì mình chưa thật sự là muốn tu giải thoát. Thì như vậy khi mình tu gặp khổ gặp nghịch cảnh qúi Phật tử không vượt qua thì chưa phải là Chân Thật tu, thuận duyên qúi Phật tử mới tu, nghịch cảnh không tu được thì chưa thật tu, do đó chữ tu cũng quan trọng lắm, Cái đó là Chân Thật Balamật.

Một người Phật tử trình pháp với Sư xin lấy pháp Chân Thật Balamật, Sư nói cô không lấy được pháp Chân Thật Balamật đâu, cô mà lấy Chân Thật Balamật là đứt liền, người Phật tử này mới giựt mình, họ nghĩ thấy đơn giản, họ thật thà một với một là hai, nhưng, trong khi đó tư tưởng cái suy tư của họ có những cái hơi sai trật một chút là vì một với một là hai mà lợi cho mình mà hại cho người cũng không được là chân thật. 

Qúi Phật tử cũng thật thà, cũng một với một là hai, nhưng qúi Phật tử phải lợi cho mình mà lợi cho người qúi Phật tử mới làm, còn lợi cho mình mà hại cho người mà qúi Phật tử vẫn làm là qúi Phật tử chưa có pháp chân thật thì qúi Phật tử đang tạo ra một cái nghiệp oan trái thì làm sao có sự giải thoát, Balamật là làm chấm dứt oan trái, chấm dứt nghiệp báo, chấm dứt sanh tử, chấm dứt sự luân hồi, chấm dứt sự trở lại trả vay, Chân Thật Balamật là cầu giải thoát.

Như vậy, khi qúi Phật tử nói một với một là hai mà lợi cho mình lợi cho người, tất cả đều  trong sự dính mắc, đó chưa gọi là chân thật, trong sự dính mắc đó qúi Phật tử còn ở lại để được đón nhận. Một với một là hai mà hại người thì  chưa là chân thật mà là trong sự oan trái, mà một với một là hai mà trong trạng thái dính mắc là qúi Phật tử sẽ trở lại trong đời để đón nhận, cái này mình phải ra đi.

Qúi Phật tử đến giúp một con người bị té, mình đỡ người đó lên xong qúi Phật tử phải ra đi chứ không ở lại đó để được khen để được tặng thưởng sự đón nhận. Nếu còn ở lại để được khen ngợi, thì hành động cúi xuống đỡ một người đang bị té, hành động đó là hành động sanh luân hồi, hành động sanh dính mắc, đó chưa phải là chân thật.

Như vậy thì ở đây pháp Chân Thật Balamật là thân lời và ý, qúi Phật tử phải rõ ràng.

Trong khi qúi Phật tử ngồi thiền cũng vậy, thân lời và ý qúi Phật tử cũng phải minh bạch và trong sáng. Tôi ngồi tu, tôi ngồi thiền để tôi đạt được kết quả, để giải thoát được sinh tử, thì đó là ngồi tu thật. Hai cách ngồi thiền đó khác nhau. Cũng ngồi nhắm mắt nhưng ý của mình khác lúc người ta ngồi thiền,  như vậy thì lúc đó qúi Phật tử sẽ rớt ở trong trạng thái đứt Balamật Chân Thật Độ.

Do đó có những lúc qúi Phật tử nghĩ mình không làm được pháp Chân Thật Độ Balamật này thì đừng có nguyện.

Thiền sinh: Thưa Sư, mình đã nguyện Chân Thật Balamật, nếu trong tình trạng mình phải trả lời không lợi cho người cũng không lợi cho mình, có nên giữ sự yên lặng hay không, nếu có người hỏi mình phải trả lời, câu trả lời của mình sẽ làm cho họ thất vọng và không có lợi cho người thì mình có nên giữ sự yên lặng tức là không trả lời hoặc là trả lời cách khác?

TT trả lời: Nếu mình đã nguyện Chân Thật Balamật thì sự yên lặng của mình có hai vấn đề, một là làm cho người ta có sự nghi ngờ về mình, mình sẽ bị đứt cái chân thật Balamật ngay tại đó liền "tại sao không trả lời tôi" lúc đó mình bị kẹt, người ta biết mình biết mà người ta hỏi mình không trả lời thì ngay đó mình làm cho họ có sự nghi ngờ thì mình bị ảnh hưởng tới Chân Thật Balamật của mình, do đó mình phải trả lời Chân Thật, nhưng mà trả lời Chân Thật trong tác ý khôn khéo.

Thiền sinh: Thí dụ trong trường hợp một người chồng biết người vợ đã mất rồi nhưng vẫn hỏi vợ tôi đâu thì khi mình biết mà không dám trả lời là vợ anh đã mất rồi mới mất đây hay là gì đó thì phản ứng của mình đã nguyện Chân Thật Balamật thì mình bắt buộc phải nói sự thật ra.

TT trả lời: Sự thật có khi nó đến với ta là phũ phàng, nhưng chúng ta không thể che dấu với thời gian muộn màng, do đó chúng ta phải nói ra chứ không thể nào che dấu.

Câu chuyện người thợ săn rượt đuổi bắt con nai. Một nhà Sư đang ngồi bên vệ rừng thấy con nai chạy qua với dáng như đang bị rượt đuổi, nhà Sư đó đứng lên qua chỗ khác ngồi, thì quả nhiên một lúc có người thợ săn chạy tới hỏi nhà Sư "nãy giờ ông ngồi đây có thấy con nai chạy qua không" Thì nhà Sư trả lời: "Từ khi tôi ngồi đây tôi không thấy con nai nào chạy qua hết" Thì nhà Sư đã trả lời chân thật, vì từ lúc ông đổi chỗ ngồi ông không thấy con nai nào hết, đó là lời chân thật, ông vừa cứu mạng con nai mà ông vừa nói được lời chân thật của ông.

Sư nói là tác ý khôn khéo là cái khéo léo để minh sống với pháp chân thật được chứ còn không thì chúng ta dễ va chạm với pháp oan trái ta tạo, do đó ta phải tác ý khôn khéo.

  Trong kinh Ananda (Tương Ưng bộ )(S.iv,400) du sĩ  Vacchagotta đến hỏi Đức Phật:

-  "Thưa Tôn Giả Gotama, thế gian này là vô ngã Không?", 

Khi được hỏi vậy, Đức Phật Ngài im lặng.

- "Thưa Tôn Giả Gotama, thế gian này là tự ngã không?" 

Đức Phât Ngài im lặng. Du sĩ Vacchagotta bỏ ra đi,

Rồi Tôn giả Ananda, sau khi du sĩ Vacchagotta ra đi không bao lâu, liền bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi của du sĩ Vacchagotta?

 -- Này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngã không?", và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngã", như vậy, này Ananda, thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp thường kiến.

 Và này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngã?"Và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngã", như vậy, này Ananda, là thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp đoạn kiến.

Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngã không?" và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngã", như vậy, câu trả lời của Ta có phù hợp với trí khởi lên rằng: "Tất cả các pháp là vô ngã"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngã?" và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngã", như vậy, này Ananda, lại làm cho du sĩ Vacchagotta càng ngơ ngác bối rối hơn nữa: "Trước đây ta có tự ngã, nay không có tự ngã nữa".

Đức Phật Ngài khuyến khích nhận thức với một tác ý khôn khéo chứ không phải nhìn với hình ảnh cực đoan cuồng tín như trạng thái quá khích. Qúi Phật tử sẽ thấy tác ý khôn khéo cũng là một trạng thái không đưa đến sự tác hại nguy hiểm như người cuồng tín cực đoan hay quá khích rơi sang trạng thái sai lầm một cách si mê.

Những pháp môn chân thật này ta thấy như thật, mặt trời mọc từ hướng Đông và lặn về hướng Tây đó là sự thật, chúng ta không nói gì khác hơn mặt trời mọc hướng Đông lặn hướng Tây đúng như vậy, thời gian có 24 tiếng, một ngày chúng ta có trọn 24 tiếng đó là chân thật, những lúc đó lời nói mình chân thật, ý mình chân thật, nhưng khi qúi Phật tử nói mặt trời mọc hướng Đông lặn hướng Tây nhưng tác ý mình vuột gạt người khác dù là pháp đang hiện bày là chân thật nhưng tác ý qúi Phật tử đang là sai lệch, phải cẩn thận.

Với phương pháp tác ý khôn khéo mình dạy dỗ chúng sanh làm cho chúng sanh thức tỉnh để phá cái mê là phải có tác ý khôn khéo, làm cho chúng sanh thấy được đó là mê đó là sai lầm họ phải buông, chứ không phải mình hướng dẫn người ta một sự cám dỗ khuyến khích họ lôi kéo một trạng thái ưa thích nào đó để mà độ chúng sanh bỏ mê mà thức tỉnh.

Do đó, có những trường hợp thấy người ta thích điều gì đó mình khai thác điều đó, mình thuyết pháp đề tài đó để người ta thích mình, đó là mình chưa chân thật tại vì mình chưa thật độ người ta. Mình muốn độ người ta, khi người ta có những sở thích đó mình phải phá bể cái chấp đó, hoặc làm người ta buông bỏ trạng thái mê thích cái đó làm cho họ thức tỉnh, chứ không phải nói theo để họ ưa thích say mê, đó không phải là chân thật độ.

Có những Phật tử thích sanh về cõi trời Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, Sư khuyến khích họ tu tập về Nhân Thiên, tạo việc thiện để được sanh Nhân Thiên thì thật sự chưa Chân Thật Độ qúi Phật tử đến đường giải thoát. Mà Sư chưa Chân Thật Độ qúi Phật tử đến giải thoát mà Sư còn làm qúi Phật tử dính mắc ở trong Tam Giới thì Sư chưa chân thật để độ qúi Phật tử đến sự Giác Ngộ.

 Dù rằng qúi Phật tử nghe chuyện Niết-bàn là rỗng không là không có gì cả, qúi Phật tử sẽ nhàm chán sợ hãi mình bỏ hết tất cả trong cuộc đời này mình đi tới trạng thái không có. Nhưng đó là sự thật, Sư phải cố gắng nói dù qúi Phật tử hôm nay không nghe, ngày mai qúi Phật tử sẽ nghe, ngày mốt qúi Phật tử ý thức được khi qúi Phật tử thức tỉnh được cũng phải nói, đó là Chân Thật Độ. Chứ không hứa hẹn, không gạt gẫm, không làm cho người ta dính mắc, không làm cho người ta mơ tưởng hay trông đợi mong chờ.

Chân Thật Độ là phải thật, thật với Pháp và thật với tâm mình đang có thật, có lúc mình tìm thấy thật của Pháp nhưng tâm mình không thật, như hồi nãy Sư nói mặt trời lặn hướng Tây mặt trời mọc hướng Đông, mọc hướng Đông lặn hướng Tây nói chân thật cái tâm của mình đang lắc léo nói câu đó để mà ý nghĩ gì, cái đó là pháp chân thật hay không chân thật. "Oh thời gian trôi qua quá là mau mình thấy hãi hùng sợ cái thời gian đó", mình nói như vậy là mình hay thiệt đó nhưng cả ngày không lo tu tập, mình ngồi không đó mình không có chân thật tu, mình không cần phải nói thời gian đi nhanh đi chậm mà mình lấy cớ chưa kịp mình phải lo tu còn nói thời gian để làm gì.

Do đó, thân lời và ý phải chân thật.

Thiền sinh: Thưa Sư, cái ý mình phải thực tình nói ra nhưng mà nếu sự thật mất lòng thí dụ mình nói mà người khác nổi sân mà họ tức lên thì lúc đó mình có bị đứt Chân Thật Balamật độ không?

TT trả lời: Không đứt nhưng tác ý không khéo.

Thiền sinh: Thưa Sư, con thấy tất cả các pháp Balamật này đều khó nguyện khó giữ

TT trả lời: Balamật chậm nguyện một phút thì mất đi một phút Balamật đó, chậm nguyện một ngày thì chậm đi một ngày đi đến giác ngộ. 

Thiền sinh: Thưa Sư, nếu mình muốn nguyện Balamật là mình phải có sửa soạn, mình biết là mình Niết-bàn lúc đó, thí dụ hôm nay mình tu vài ngày rồi mình nghỉ vài ngày, ý con muốn nói là mình quyết tâm hạ thủ công phu nguyện Balamật là mình phải gắng bó ngay, mình phải có thời gian chuẩn bị.

TT trả lời: Đó là thứ nhất, thứ hai là trong khi mình đang học Balamật những cái gì còn thắc mắc khởi sanh lên thì hỏi liền, cái đó mình giải tỏa trước khi mình nguyện.

Đó là hai cách, qúi Phật tử phải chuẩn bị rào trước đón sau hết, phải suy nghĩ, phải chuẩn bị thật là kỹ khi mà hạ thủ công phu rồi thì phải gắng bó một đời với hạnh nguyện Balamật đó, sống chết với nó, mình dễ dui để mình đứt Balamật đó rất là nguy hiểm, đúng, nhưng có hai hướng, chuẩn bị cho kỹ để mình hành hay là mình phải học cho kỹ rồi mình thực hành. 

Sư sẽ hướng dẫn  hết 10 Balamật, những gì thắc mắc qúi Phật tử hỏi xong Sư giải đáp luôn, những gì qúi Phật tử còn nghi ngờ giải đáp xong hết nghi ngờ thắc mắc, hết lo lắng, qúi Phật tử nguyện được hơn là qúi Phật tử ngồi chờ ngồi nghiền ngẫm, thử cái này trước cái kia trước, 

Với những người Phật tử thông thường hay với những người đệ tử Đức Phật xuất gia, giữa hai người có Balamật và người không có Balamật, hai người này thấy khác nhau rõ ràng, thật sự khác nhau rõ ràng, với những người có Balamật sự tu tập họ hoàn toàn khác hẳn người không có Balamật, họ cũng tu vậy đó nhưng nhìn với góc độ họ cũng tốt vậy đó, họ không xấu, họ không bê trễ, không dễ dui, họ không lười biếng, nhưng mà họ không có một cái chí hướng đi tới xuyên suốt.

Thiền sinh: Thưa Sư, con hỏi thêm là, con thấy, nếu mình muốn tu đạt được kết quả tốt thì mình cần có tỉnh giác trước để một khi mình có tỉnh giác rồi tâm của mình nhẩy qua cái bất thiện thì sự tỉnh giác của mình kéo nó về thì mình ít bị đứt hơn là người không có tỉnh giác.

TT trả lời: Chữ tỉnh giác đó là qúi Phật tử đặt cái khó cho mình, qúi Phật tử không gỡ ra được là qúi Phật tử kẹt trong lời nói đó. Tỉnh giác người ta tính từng sát na, tính từng thời gian, tính từng tâm thức, tính từng giai đoạn gọi là tỉnh giác. Nhưng trong khi đó những pháp ngủ ngầm tiềm ẩn vẫn có, nó sanh lên nghiệp báo nó kéo qúi Phật tử đi bị khó trong trạng thái mê muội. 

Qúi Phật tử phải nhớ sự tu tập của qúi Phật tử đừng đặt tới mức lý tưởng tuyệt đối, nhưng qúi Phật tử đặt thêm lý tưởng có khả năng. Phải có lý tưởng nhưng phải có khả năng, chứ đừng đặt lên lý tưởng tuyệt đối, đứng đó mình chỉ mơ thôi chứ không thực hiện, qúi Phật tử nói qúi Phật tử tỉnh giác trong 24 tiếng đồng hồ là lý tưởng tuyệt đối, qúi Phật tử sẽ tỉnh giác trong suốt 24 tiếng đồng hồ trong một ngày đó là lý tưởng tuyệt đối.

Cũng như có một số Phật tử nói Đức Phật lúc nào cũng dùng trí tuệ, đó là lý tưởng tuyệt đối, Ngài đâu phải luôn luôn lúc nào Ngài cũng dùng trí tuệ, cũng như nhà võ đâu phải lúc nào cũng vận dụng cái võ của mình lên, như vậy sẽ chết. Phải đụng chuyện mới dùng võ của mình chứ không phải lúc nào ra đường cũng dùng võ, đụng chuyện mới có cái đó là thật, còn không có không cần dụng võ. Đức Phật Ngài có những lúc Ngài đến chỗ các Tỳ Khưu đang bàn luận, Ngài hỏi:

- "Này Chư Tỳ Khưu đang bàn luận gì cho Như Lai biết" 

Khi Ngài hỏi như vậy Ngài đâu có dùng trí, nếu Ngài dùng trí mà Ngài nghe hết, Ngài biết hết, Ngài từ trong thất Ngài có thiên nhãn là Ngài biết hết, nhưng Ngài hỏi như vậy là Ngài không dùng trí.

Các vị Tỳ Khưu thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn chúng con đang bàn tán tại sao Xá Lợi Phất độ ông già ăn xin đứng ở cổng chùa cho ông đi xuất gia, cái đó là phiền não lắm, đem vô làm ô uế Tăng đoàn là giáo hội mình toàn người nghèo đói vô tu xuất gia không nên, Đức Thế Tôn nên quở trách Xá Lợi Phất" 

Ngài nghe như vậy Ngài phải giải thích, Ngài dùng trí liền, trí tuệ của bậc Siêu Thế, trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác giải đáp rõ ràng nhân quả chính xác, đó là Ngài có trí để giải thích, chứ không phải như nhiều người họ đặt lý tưởng tuyệt đối lúc nào cũng dùng trí từ sáng tới tối, 24 tiếng Ngài dùng trí, ngủ cũng dùng trí, không có như vậy. 

Nên qúi Phật tử tu tập trạng thái lý tưởng trong khả năng chứ đừng lý tưởng trong tuyệt đối.

8) Pháp độ thứ tám là, chí nguyện 

Chúng ta qua phần Chí Nguyện Balamật. Nói tới Chí Nguyện Balamật này là chúng ta dốc lòng hết sức tu tập, không có trạng thái chần chừ, không có trạng thái phân nửa hay là một phần. Cái hết lòng của mình, cái khả năng qúi vị tu, đối với cái tu, ai cho chúng ta biết ta có 100% là tu, mà tỉ lệ tu này ở góc độ nào mà tu một cách 100%, không có. 

Với số lượng đếm cây viết chúng ta đếm được, nhưng chúng ta không thể nào có khả năng đếm có bao nhiêu hạt đường trong một bao đường. Những trạng thái đó qúi Phật tử không bỏ công đi tìm. 

Vậy thì, với tỉ lệ nào qúi Phật tử tu được 100% là lúc đó qúi Phật tử thấy khả năng qúi Phật tử đang có và vượt khó để mà có hơn, đó là qúi Phật tử đang tu 100%. Chẳng hạn như, mọi ngày tôi ngồi thiền được 10 phút, hôm nay tôi ngồi 15" là ngon lành rồi, như vậy mình có hơn 5", như vậy là hôm nay tu 100% rồi. 

Do đó qúi Phật tử phải nói đúng cái tỉ lệ tu là những gì bạn đang có mà qúi Phật tử vượt khó để có hơn là qúi Phật tử đang tu 100%

- Khả năng đang có

- Vượt khó để có hơn

Là qúi Phật tử đang tu 100%

Rồi hôm nay qúi Phật tử tu như vậy, ngày mai tu giống như vậy chưa gọi là tu hết lòng, hôm nay tu nhiều hơn một chút thôi thì đó là đang dốc lòng tu, mỗi ngày một chút sẽ có nhiều hơn, cái đó gọi là dốc lòng mà tu chí nguyện cầu giải thoát là như vậy.

Do đó, chữ Chí Nguyện này là qúi Phật tử phải dốc lòng hết sức với khả năng đang có để mà vượt khó hơn để đạt cái cao hơn. 

Chí nguyện này nó sẽ ngược lại trạng thái thục lùi bỏ cuộc và buông lơi. Thí dụ như hôm nay qúi Phật tử nói chí nguyện của qúi Phật tử tu là cầu giải thoát nhưng ngày mơi qúi Phật tử đắm say trong dục lạc vậy là qúi Phật tử bỏ cuộc chí nguyện của qúi Phật tử, cái chí nguyện qúi Phật tử đã đứt, qúi Phật tử là người bỏ cuộc với cái nguyện lực của mình.

Cho dù qúi Phật tử có gặp nhiều nghịch cảnh như thế nào, cho dù gặp nhiều khó khăn như thế nào, cái chí nguyện không buông lơi và không buông bỏ thì chí nguyện sẽ thành đạt. 

Như Bồ Tát Sĩ Đạt Đa có lời chí nguyện "xương có tan rã, giòng máu có khô cạn, qưyết không rời cội cây nếu chưa đắc đạo quả", cái đó là chí nguyện.

 Qúi Phật tử cũng vậy, thí dụ, bây giờ qúi Phật tử hạ quyết tâm trong đời này trong kiếp này nguyện không khởi tâm sân cho dù hoàn cảnh nào qúi Phật tử chí nguyện là không sân, đó là trạng thái nghịch cảnh nghịch lòng trong đường tu con người diệt trừ tâm sân, không cho sân, vì sợ xuống địa ngục, nguyện không sân phải cố gắng khi nào vừa thấy sân khởi lên, cố gắng diệt, lo diệt cái sân chứ đừng lo sợ người ta chê trách, người ta khen chê, cái đó là có chí nguyện, những cái đó qúi Phật tử tập mỗi cái chí nguyện với mục tiêu qúi Phật tử đạt tới, cái đó có chí nguyện, mỗi ngày tôi làm một chút, mỗi ngày tôi liên tục tiến thêm lên cái đó tôi có chí nguyện, còn mỗi ngày qúi Phật tử thụt lùi không có lên thêm nữa qúi Phật tử không có chí nguyện.

Sau 1 giờ hành thiền Phật tử hỏi Pháp

Thiền sinh: Thưa Sư, con ngồi thiền con thường theo dõi thân tâm của con, như vậy được không?

TT trả lời: Cái đó không phải là sai, nhưng mình thiếu hai cái. Tức là khi mình theo dõi thân và tâm cũng như theo dõi về hơi thở cũng như đề mục. hay là những diễn tiến đề mục của thân và tâm thì luôn luôn có hai là chánh niệm và tỉnh giác, khi có sự hiểu biết là có sự ghi nhớ chánh niệm và có sự hiểu biết trong tình giác, sự hiện diện đó là sự tỉnh giác. 

Vậy thì khi mình tỉnh giác là mình biết điều khiển tâm mình luôn theo dõi thân, thấy cái thân là ta có tỉnh giác. Còn trong trạng thái chú niệm nhưng có chánh niệm hai cái đó luôn luôn đi đôi với nhau cũng như là để điều khiển lẫn nhau trong pháp tu tập của mình.

Do đó, khi mình theo dõi hơi thở thì mình phải theo dõi mình có sự ghi nhớ nhưng mình không có sự tỉnh giác là hơi thở này ra sao không có sự hiểu biết như thế nào của nó, như vậy là không có cái tỉnh giác không có sự hiểu biết rõ ràng những sự khác thường về thực tính của nó, ta có tỉnh giác ta có chánh niệm.

Chánh niệm là sati-paṭṭhāna. Sampajañña tức là sự tỉnh giác, trong tỉnh giác có mấy trường hợp tỉnh giác, tức là mình coi nó du hành như thế nào hay là có trạng thái vô si, có trạng thái sự hiểu biết như thế nào trong tỉnh giác đó mình biết, lúc đó là mình đạt kết quả nhiều lắm.

Thành ra qúi Phật tử trong khi tu về Vipassana có nhiều chánh niệm, mà dường như là các qúi Phật tử hành giả là chú niệm về chánh niệm, chú tâm vào chánh niệm thiếu sự rẻn luyện tỉnh giác.

Sự Tỉnh Giác đó nó gần đến với trạng thái Tuệ, do đó mình có Chánh Niệm có ghi nhớ nhưng mình không có trí tuệ thấy được thực tính thấy được thực tướng, thì cái đó mình chỉ có Chánh Niệm thôi. 

Cũng trở lại pháp Ngũ Quyền có:

Tín-quyền (saddhindriya).

Tấn-quyền (vīriyindriya).

Niệm-quyền (saṭindriya). (Cái Niệm này phải đi với Tuệ, tỉnh giác là trạng thái đó)

Ðịnh-quyền (samādhindriya).

Tuệ-quyền (paññindriya).

Thì cái Niệm này phải đi với cái tuệ, tỉnh giác là trạng thái đó.

 Sư chưa kể là Chánh Niệm của mình có thật không nữa hay chỉ là tưởng thôi, cái trường hợp đó là quan trọng, có khi mình tưởng, tại vì Chánh Niệm là bắt ngay tại chỗ, bắt ngay cái đang có đang hiện bày. Còn cái tưởng là mình bắt không kịp mà mình nhớ lại mình nhớ cái nó đã đi qua, cái đó là tưởng.

Người hành giả nếu có Chánh Niệm chính xác là mình thấy được, mình nhìn thấy quạt máy đang quay, nếu quay chậm mình nhìn thấy được từng cánh quạt, nhưng nếu nó quay nhanh quá mình nhìn thấy vòng tròn trắng xóa của cánh quạt chứ không nhìn thấy từng cánh quạt, cái đó thì mình chỉ nhớ lại tưởng thôi

Thiền sinh: Nhưng lúc đó con có cần phải quán sát tâm và thân cùng lúc?.

TT trả lời: không, mình có thể quán sát từng một giai đoạn từng một phần chứ không phải cùng một lúc, tâm bắt lấy một cảnh chứ tâm không bắt được hai cảnh, tâm trong tâm là một cảnh, tâm trong thân là một cảnh, là một đối tượng. Khi mình đang theo dõi tâm mình, ví dụ, tâm mình đang muốn xả thiền vì thân đang đau, thì khi mình thấy tâm mình muốn xả thiền tâm đó là đang tham đang muốn xả thiền thì mình niệm là "muốn à, muốn à, muốn à", mình nhìn thấy đau thì niệm "đau à, đau à, đau à". Khi mình niệm cái đó được rồi là mình có Chánh Niệm, khi đó mình tỉnh giác liền mình thấy cái muốn này là cái muốn như thế nào, cái đau này là đau như thế nào, tìm ra được thực tính, tìm ra được thực tính đó mình nhìn sâu vô nữa là tại sao muốn như vậy là mình nhìn ra được thực tướng.

Người giỏi là phải có Chánh Niệm và Tỉnh Giác, mà cái Tỉnh Giác đó lôi Chánh Niệm đến cái thực quả còn nếu như không có Tỉnh Giác thì cái Chánh Niệm đó lôi vô trạng thái tưởng nhiều không có tỉnh giác là không biết được nó sẽ rớt qua cái tưởng.

Do đó khi ngồi thiền chúng ta chỉ tạo mồi lửa cho Chánh Niệm lên, nhưng Tỉnh Giác là mình bắt tâm thấy Pháp cái đó là quan trọng, đó mới có kết quả chứ còn không cứ niệm niệm là mình thiếu Ngũ Quyền thiếu Tín Tấn Niệm Định Tuệ, mình chỉ niệm thì không có Tuệ, mà niệm không thì mình không có định, vì niệm là cái pháp đang hiện bày có ghi nhớ mà mình Định là phải chú tâm vô nữa mới được Tuệ mới thấy được Tỉnh Giác. 

Niệm, thí dụ, mình đi qua Thiền Chỉ, niệm suốt, hơi thở vô ra thấy dài ngắn, thấy dài ngắn, cái đó là niệm.

Nhưng chú tâm vào hơi thở dài ra sao, hơi thở ngắn ra sao, hơi thở nhanh ra sao, chú tâm theo dõi những dài ngắn nhanh chậm của hơi thở, mình chú tâm vô sâu thì mình mới phát hiện cái thực tính là cái bản chất nó hiện bày ra liền, khi mình nhìn thấy nó hiện bày ra thì mình thấy nó nằm trong hướng nào tâm tướng liền ra được cái đó mới là tỉnh giác. Tuệ Giác pháp sanh.

Còn chuyện tâm với thân là thường xuyên rồi. Giống như chúng ta nói danh và sắc, sắc có danh, danh có sắc, theo dõi cái nào mạnh nó lôi mình đi, cái nào mạnh mình chú vào nó nhiều, khi mình chú vào nó mạnh, chẳng hạn như thân mạnh quá nó đau quá rồi cái tâm của mình nó nhẹ, tâm mình muốn xả thiền chỉ một phần thôi nhưng thân đau quá rồi mình bắt đầu chú tâm vô đó, còn nếu như thân vừa nhóm đau mà tâm mình muốn xả thiền mạnh quá, nó đòi mình xả thiền nhiều quá thì mình nhìn vô cái tâm mình, đó mới là cơ hội để tìm ra được sự thật.

Thiền sinh: Thưa Sư, con ngồi nhiều khi cả giờ mà con ngồi niệm Phật và không nghĩ gì hết.

TT trả lời: Đó là cô đang tu Thiền Chỉ, cô chỉ niệm Phật là cô đang tu Thiền Chỉ. Thiền Chỉ là tâm tìm sự tỉnh lặng trong đề mục đó. Thiền Chỉ thì không có Tỉnh Giác, sự Tỉnh Giác là khi mình nhìn vào thân mình thấy trong thân có thay đổi và phát hiện được sự thay đổi đó thì mới gọi là Tỉnh Giác. 

Bây giờ cô ngồi niệm Phật, cô thở đều và cô theo dõi thì đâu thấy gì khác. Sư thí dụ như cuốn phim có nhiều người đóng, cô thấy người này đi vô, người kia nói, người này hành động, nguời kia làm việc, cô theo dõi những diễn biến đó là cô có Tỉnh Giác. Còn nếu cuốn phim chỉ có một lằn chỉ đen chạy qua chạy hoài và cô ngó cái lằn đen chạy đó hoài thì cô không thấy gì ngoài lằn đen thì cô đâu có gì để theo dõi.

Đổi từ Thiền Chỉ qua Thiền Vipassana (Thiền Quán) không có gì là khó, Thiền Quán thì ta thấy sự thay đổi của thân, còn Thiền Chỉ thì không thấy được sự thay đổi của thân. Thí dụ như thời tiết thay đổi hoài thì mới thấy được sự thật bản chất của thời tiết, còn sáng nắng chiều mưa suốt năm như vậy thì cô không thấy được sự thật bản chất thay đổi của thời tiết, bữa nay đang nắng trời đổ mưa, bữa kia trời u ám rồi mặt trời trở lại và nắng gắt, thì cô mới thấy sự thay đổi của thời tiết bản chất của nó là vô thường, do đó mới tìm ra sự thật.

Còn chuyện Thiền Chỉ là mình chỉ đè cảm xúc của mình xuống để tâm mình yên trong trạng thái không náo động phóng dật, chỉ như đá đè cỏ, nó chỉ yên lặng trong phút giây đó, rồi khi mình va chạm vào thực tế đi vào cuộc sống hàng ngày trong sinh hoạt gia đình đời sống xã hội chúng ta bận rộn như vậy thì mình không niệm được lúc đó, không niệm được cơn đau hay cơn khổ hay trạng thái phóng dật hay trạng thái sự đau đớn mình không niệm được, lúc đó mình trở lại niệm Phật, cái đó quan trọng lắm. 

Cố gắng tập Thiền Quán, tại vì trong Thiền Quán đã có Thiền Chỉ, Thiền Chỉ trợ cho Thiền Quán, đó là niệm và định, chỉ còn tuệ, tuệ là tìm ra sự thật mình thấy được bản chất sự thật đó là ra được con đường đạo quả, làm một mà được hai.

Qúi Phật tử đi Thiền Quán mà đi thật sự rốt ráo là có Ngũ Lực đi một cách chân chắc là Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ là qúi Phật tử có được một thành hai nghĩa là Thiền Chỉ và Thiền Quán trong đó luôn, còn bây giờ qúi Phật tử tu  Thiền Chỉ, mai sau qúi Phật tử còn phải tập tu Thiền Quán nữa. 

Tu Thiền Quán đơn giản lắm, mình niệm hoi thở ra vô, theo dõi hơi thở ra vô ngó hơi thở ra vô, chú tâm vô hơi thở ra vô dài ngắn là được.

 Ngũ Lực chúng ta biết là:

1- Tín-lực (sadhā bala): với ý-nghĩa không rung động trước sự vô-tín.

2- Tấn-lực (vīriya bala): với ý-nghĩa không rung động trong sự biếng nhác.

3- Niệm-lực (saṭi bala): với ý-nghĩa không rung động trong sự dể-duôi (pamāda).

4- Ðịnh-lực (samādhi bala): với ý-nghĩa không rung động trong sự tán-loạn.

5- Tuệ-lực (paññā bala): với ý-nghĩa không rung động trong mê-muội, lầm lẫn.

Thiền sinh: Thưa Sư, làm sao mình phát hiện được sự Tỉnh Giác của mình

TT trả lời: Thí dụ như trong trạng thái mình bị hôn trầm, khi bị hôn trầm mình ngủ ngục luôn, khi giật mình thì gọi là Tỉnh Giác. Thì Tỉnh Giác đến lúc bản chất của pháp thay đổi đột ngột mà mình bắt được cái đó gọi là Tỉnh Giác, còn nó không thay đổi đột ngột, đến lúc nó thay đổi đột ngột mình không bắt được là mình không Tỉnh Giác cho nó đi qua rồi mất liền hay là mình đang bị hôn trầm ngay lúc đó. Như tên trộm đi qua mình bắt được là mình có Tỉnh Giác, mà tên trộm qua khỏi mặt mình là mình có sự ghi nhớ là mình canh chừng tên trộm thì tên trộm lọt ra khỏi lưới Tỉnh Giác của mình rồi. Giữa ông thầy giáo và học trò, học trò ăn vụng, nếu ông thầy giáo bắt nhanh thì bắt được học trò ăn vụng, còn nếu học trò nhanh hơn thầy giáo thì học trò ăn vụng thầy giáo không bắt được.

Thiền sinh: Thưa Sư, khi mình ngồi thiền bị tê mình biết nó tê, rồi mình quán tưởng cái tê này không có thật, thì đó có phải là sự tỉnh giác của mình không

TT trả lời: Không quán tưởng như vậy, và đó không phải là sự Tỉnh Giác của mình, cái đó là tưởng, tại vì cô đang tưởng, cô nói cái tê này không thật là vì cô lấy kiến thức cái tư duy của cô để trả lời, đó là cái tưởng của cô nhớ lại. Nhưng mà trong cái tê đó cô Tỉnh Giác là hồi nãy không có tê, nó bắt vô cái tê, phút đầu tiên khởi lên tê mà cô bắt được là Tỉnh Giác, còn một lúc sau mà cô bắt được tê cái đó là không có Tỉnh Giác. Ngay khi nó không tê mà nó tê là Tỉnh Giác, phút đó là cô bắt được, khi đang tê đến hết tê cái phút hết tê mà cô bắt được đó mới là Tỉnh Giác. Khi người bác sĩ bơm tay bệnh nhân phồng lên để đo huyết áp, nó chỉ có hai con số, con số đầu xuất hiện và con số cuối là Tỉnh Giác, không đếm con số giữa, đó mới là Tỉnh Giác. Còn khi cô nói cái này không phải của tôi, cái này là giả v.v... đó là tưởng, mình đang tư duy mình đang lấy kiến thức giải đáp nó, nó dụ mình đi luôn mình ngồi suy nghĩ lấy hết tâm trạng ra ngồi giải đáp luôn, lấy hết kiến thức ra giải đáp luôn nó kéo đi tới mình trở thành bị phóng dật vừa hôn trầm thụy miên lúc đó mình mất đi đối tượng, mình đang chạy đi với trạng thái mê muội với sự suy nghĩ của mình.

Do đó, không có tư duy và không có kiến thức, bắt ngay đó những gì nó đang thay đổi đột ngột ngay đó gọi là Tỉnh Giác, còn ghi nhớ là niệm, theo dõi thường xuyên cái gì phát hiện ra giữa tâm và thân mà nó mạnh cái nào phát hiện mà nó không thường như hồi nãy thì lúc đó là Tỉnh Giác, Tỉnh Giác lúc đó là bắt được Thực Tính, Thực Tính đó là Thực Tướng liền. Nó đơn giản mà thật sự là phải khéo léo và tinh ý bắt kịp lúc, lúc nó đang thay đổi đột ngột, cái đó là chính xác. Như người ngồi câu cá, đâu cho biết lúc nào con cá lên để mà mình bắt, phải Tinh Giác ngồi là niệm, con cá tới mình Tỉnh Giác kéo nó lên. 

Thiền sinh: Thưa Sư, sau 20 phút đầu thì yên, tại vì yên quá con không biết con dính mắc hay con tưởng tượng, thì con chú ý tới tâm rồi con chú ý đến hơi thở, rồi tới thân.

TT trả lời: Tại sao lại nghĩ là mình bị dính mắc, nếu thấy yên quá thì mình niệm theo cái yên của nó, ngồi thấy nó yên quá thì mình niệm theo cái yên đó. 

Nếu mình tạo ra trường hợp đụng tay vào chân rồi niệm "đụng à, đụng à" như vậy sau này Sư sợ là mình dính vô nó sẽ tạo ra nữa và mình không thấy được sự thật khi cái gì mình đã tạo ra rồi nó đâu là bản chất nó, cái bản chất là nó đến không do mình tạo, mà mình tạo ra bản chất cái đó không phải, do đó mình đừng có làm gì hết.

Nó yên mình để cho nó yên, đó là mình đang Định, một chút xíu trong cái yên đó nó mới trồi lên cái bản chất của Vô Thường.

Còn bây giờ mình tạo ra mai mốt nó cho minh cái tạo ra nữa, lúc đó mình lại thành thói quen, mình tưởng là mình đã có bản chất của nó. 

Do đó mình không làm cái gì hết, nó sống động lên mình cũng để cho nó sống động mà nó tĩnh lặng mình cũng nhìn nó chứ không tạo ra cái gì khác nữa, đó là nghệ thuật ngồi coi phim, không có một lý do gì mình đẩy tác động trong cuốn phim đó hết, nó ra được sự thật mình thấy được ý nghĩa nội dung cuốn phim hay là bản chất của cuốn phim đó là cái gì.

Đó mới là Thiền Vipassana, quán sát một cách đặc biệt, chú tâm một cách đặc biệt, để ý một cách đặc biệt, theo dõi một cách đặc biệt, là Thiền Vipassana, chứ không có coi thường được, chỉ lấy tâm thức mình theo dõi nhận xét để thấy chứ còn ngoài ra không có một cái gì mình bỏ vô trong đó dù đó là kiến thức hay tư duy. bỏ vô là pha chất rồi không còn nguyên thủy của nó. Nước mía nước dừa mà bỏ thêm một chút muối vô uống vô khác với nước nước mía nước dừa nguyên thủy.

Thiền sinh: Thưa Sư, con có đến với tình trạng định nó yên lặng con niệm yên lặng yên lặng thì từ từ con thấy lại hơi thở của con, con mới chú ý đến hơi thở lại thì bắt đầu con ra khỏi định, động tác đó có đúng không?

TT trả lời: Đúng, nhưng lúc đó mình không thấy cái Tỉnh Giác, từ chỗ đang yên lặng đó ta trở lại hơi thở nó đang qua đạo quả. 

Ngay khi yên lặng thì nó bắt qua tê thì mình bắt ngay khi nó mới bắt qua, ngay đó là Pháp hiện bày Pháp đó là Vô Thường đó là Tỉnh Giác, nó là thực tính thực tướng Vô Thường.

Thiền sinh: Con ngồi thiền con thấy Vô Thường, Khổ Đau nhưng con chưa thấy Vô Ngã, xin Sư cho thí dụ.

TT trả lời: Sẽ có, như bánh ú 3 mặt, không có cái chi của ta, đó là vô ngã, thí dụ như mình thấy cái thân này hồi nãy nó vô thường, hồi nãy yên rồi tới đau, rồi nó hết đau rồi nó trở lại yên, cái này là vô thường, nó không phải là của mình,  nó là vô ngã, nếu của mình thì nó không thay đổi lên xuống khó đoán, có đó rồi mất đó, nhưng không phải ngồi đó nói, mình chỉ ngó nó thôi, phải biết pháp nó đến nhìn nó nhưng không gọi tên nó, gọi tên nó là tư duy kiến thức của mình. Cái Tuệ Giác là sáng suốt thấy rõ một cách như thật của nó mình lượm vô chứ còn mình đem cái kiến thức của mình bỏ vô cái đó là cái kiến thức của mình sáng suốt chứ không phải pháp nó đến với mình thấy sáng suốt mình lượm được, hai cái đó khác nhau.

Đang từ yên lặng rồi đến trạng thái thay đổi mình có sự tỉnh thức hay tỉnh giác, nhưng trạng thái thay đổi đó không đủ mạnh để mình thấy đó là vô thường để mình thức tỉnh giác ngộ, thành ra nó lập lại, chút nó qua giai đoạn khác nó lập lại cảnh khác, cái vô thường nó đánh mình chỗ khác mình bắt đầu nhìn nó lần nữa cũng chưa đủ rồi tới khi nó bể vỡ ra mình nhìn vô thấy một lần nữa, cái đó nhiều lần nhiều lần. 

Có 16 loại tuệ, tuệ đầu tiên là thấy tuệ danh sắc phân biệt tách ra làm hai, đây là danh đây là sắc, sắc gồm có thân pháp, danh này là có sự hiểu biết, mình thấy hai bên, nhưng mà thấy hai bên nó không có hợp nhau, danh một khối, sắc một khối, hai bên tách rời, thân mình đau tâm mình không đau, lúc đó mình thấy hai bên khác nhau, còn khi thân rã đau quá tâm mình vẫn theo dõi thì mình thấy sự sanh diệt của sắc pháp hay sự hoại diệt của sắc pháp mình nhìn xuống tuệ mình thấy lúc đó mình mới tìm ra được chân lý là bỏ thân này chứ không bỏ tâm, tìm cái tâm đi tiếp, lúc đó mình mới đi tới đạo quả, con đường đến đạo quả bởi cái tâm không phải bởi cái thân.

Nhưng đối với những hành giả tu họ lo thân nhiều hơn là tâm, do đó thân lôi cuốn mình lượm kết quả của thân mình chiến thắng và mình không thấy được tâm mình đang chiến thắng mình sẽ bị mất cơ hội đó và không đến đạo quả. 

Qúi Phật tử đau đớn qúi Phật tử đi tìm sự chiến thắng sự chấm dứt cái đau mà thôi, mình tự hào mình hãnh diện đã vượt qua tê nhức khổ đau này chứ Phật tử không qua được cái tham của tâm mình, lúc đó tâm mình đang tham, sức mạnh để mình muốn chiến thắng cái thân mình chứ đâu có thấy sự sanh diệt rã tan hay sự hoại diệt của sắc pháp.

Do đó qúi Phật tử không bao giờ nghiệm ra được chân lý, đi đánh giặc để chiến thắng thì ở đó mình dính trong hào quang của mình thôi còn cái này để mà thắng chính mình, thắng cái tâm của mình cái đó đối với người hành giả tu tập thiền chuyên chú thiền Vipassana là họ phải chiến thắng tâm của họ chứ không ảnh hưởng gì đến thân, chiến thắng không để vinh quang để mà lấy sự sung sướng đó đi tiếp nữa đến đạo quả, bỏ phàm thành Thánh, nếu mình thích là mình đâu có là thánh, qúi Phật tử phải đi tiếp rồi nó sẽ đến nó nằm trong sự tu tập của mình.

Do đó, con đường đi đó tới khi nào mình thấy được sự thật và không còn cái gì khác hơn nữa, đó là con đường đạo quả, còn mình còn thấy mình còn so sánh mình còn hiểu biết cái đó là chưa phải là đạo quả, đạo quả là của bậc Thánh mình xưa nay là phàm phu nên không biết, nên Sư thường nói qúi Phật tử thấy sự thật là gì khi qúi Phật tử đắc đạo quả qúi Phật tử không muốn con người phàm của qúi Phật tử nữa, người hoàn toàn thay đổi hẳn cái đó là đạo quả, còn người mình vẫn còn như vậy và như vậy đó mình chưa có mình đang tu tập.

Thiền sinh: Thưa Sư, có một lần xảy ra con cố gắng trở lại hơi thở của mình mà con cảm thấy là hơi thở mình không thể nào nhận được hơi thở ra vô nữa trong một khoảng thời gian ngắn.

TT trả lời: Đó là trạng thái biến mất của hơi thở là mình mới thấy lại giai đoạn có rồi biến mất, mình niệm cái đó, trong đầu mình niệm tiếp cái đang có tới biến mất, mình niệm cái đó xong rồi là mình bắt đầu niệm trạng thái của mình đang ngồi thôi, đừng để ý tới nó, rồi cái đó là mình đang giữ cái tâm mình không cần giữ cái sắc, cái hơi thở mình biến mất mình không cần để ý tới nó mà lo giữ cái tâm, tâm của qúi Phật tử không để phóng dật, không bị hôn trầm, tâm mình không dính mắc, tâm mình không khó chịu, không nghi ngờ, mà giữ tâm theo dõi oai nghi mình ngồi, vừa bắt trở lại là dính liền, hồi nãy không có giờ nó có, bắt chỗ đó. Nó sẽ đến với qúi Phật tử, cái đó là như vậy mà mình không có trở lại bắt kịp cái đó là ngay lúc đó ta có hai trường hợp ta nói một là đang bị phóng dật, hai là bị hôn trầm.

Thiền sinh: Thưa Sư, như vậy là hơi thở chỉ là đề mục đầu tiên và tạm thời thôi phải không? Như vậy phải liên tục theo dõi cái sắc này hoài, cái thân thay đổi nhiều quá thì mình không biết theo dõi cái nào

TT trả lời: Hơi thở là phương tiện, không phải là cứu cánh. Cái pháp dựa vào thân tâm này mà nó hiện bày, mình bắt cái pháp chứ không theo cái thân nó đang có. Mình phải theo dõi cái tâm của mình đang có biết những cái gì đang có và những gì thân mình đang thay đổi, những cái gì ta có mình biết nó thay đổi thân mình đang có. 

Thiền sinh:  Thân thay đổi nhiều quá thì mình không biết theo dõi cái nào?

TT trả lời: Giống như mình đi câu cá, không phải chỉ một con cá bu lại cắn mồi mà một đàn cá thì mình vẫn điềm tỉnh chờ một con cá cắn mồi, cũng vậy khi thân hiện bày nhiều pháp thì mình phải biết mình đang làm gì, pháp nhiều càng tốt, pháp hiện bày nhiều là qúi lắm, qúi Phật tử học tu mà tìm ra được pháp mà thấy được pháp là cả một công phu là phước lắm, còn mình ngồi im ru từ sáng tới tối không thấy pháp hiện bày, pháp đến nhiều là rất qúi rất có phước, nhiều chừng nào hay chừng nấy.

Thiền sinh: Con còn không hiểu đó là lúc con niệm danh biết danh thôi lúc đó hơi thở con không niệm, cái hơi thở lúc đó nó nhẹ lắm 

TT trả lời: Tâm chỉ biết một cảnh thôi, khi mình theo dõi tâm thì mình không biết cái thân, còn khi mình nghe được âm thanh bên ngoài thì lúc đó không còn niệm tâm mình nữa, vì tâm chỉ bắt một cảnh. Do đó qúi Phật tử sẽ thấy là khi một âm thanh bên ngoài để mình niệm được nghe à nghe à nó không cần thiết mà chỉ chú tâm vào thân và tâm của mình, mình trở về danh sắc mình, nhìn trở vô tâm chuẩn bị cái tâm mình lại niệm được cái tâm mình bắt đầu mình theo dõi tâm mình, mình ngó thân nó đang hiện bày rã tê nhức đau là hoại diệt. Tâm bắt một cảnh, không có trường hợp nào khác hơn nữa do đó mình phải hiểu biết trong khi từ trạng thái đang niệm về tâm qua niệm về thân có tỉnh giác mình biết nó đang chuyển đổi bỏ cái niệm về tâm chuyển đổi qua thân là mình có tỉnh giác đang chuyển đổi đó mình quyết định đổi qua để mình thấy được đó là Tỉnh Giác còn nếu như mà mình đang niệm về tâm mình niệm qua thân mà không biết giai đoạn nào khởi lên bắt đầu niệm thân lại là mình không có Tỉnh Giác, mình chỉ có niệm thôi.

Thiền sinh: khi con không còn cảm thấy hơi thở của mình nữa thì đó có phải là đang hôn trầm không?

TT trả lời: Không phải là hôn trầm nhưng nó không phải là kỹ thuật mình tu. Kỹ thuật mình tu là mình không đòi hỏi muốn thấy và đang muốn nhìn nó. Không có như vậy. Mà cái gì nó đến mình biết rồi không đặt cái muốn, nếu con để ý tới con muốn thấy, con thấy nó, không phải vậy, không đặt chữ đó, kỹ thuật đó không có, mà chỉ ngồi coi những  cái gì nó đến thì đến và những gì mình biết là mình biết những gì mình không được biết mình tập trung theo dõi để mình biết đó là cần thiết chứ còn ngoài ra mình không cần phải biết  phải tìm cái này tìm cái kia, không phải như vậy, 

Trạng thái biến mất là trạng thái vi tế không có thô thiển, chứ không biến mất, thì những lúc đó mình tiếp tục theo dõi tâm mình đang nghĩ gì mình theo dõi tiếp, thí dụ như mình lo mất hơi thở này thì niệm mất à, mình lo thì niệm lo, rồi hơi thở trở lại mình niệm hơi thở lại, những tư tưởng bắt đầu đang chạy mình đi tìm nó, thắc mắc nó, sợ nó thì mình niệm cái tâm lo thắc mắc sợ đó.

Thiền sinh: Khi hơi thở trở nên vi tế thì có phải là trạng thái khinh an không?

TT trả lời: Có trạng thái gọi là khinh an, hay là trạng thái hành xả cũng có. Khinh an là thân mình nhẹ nhàng tâm mình an lạc, còn trạng thái hành xả lúc đó là mình không còn dính vô gì mình buông bỏ hết, thì cái đó khác, hay là những trạng thái thấy thân mình nhẹ nhàng hồi nãy mình ngồi mình thấy nó nặng nề mệt mỏi uể oải nhưng  giai đoạn đó qua được người mình nhẹ hẳn lên đó là khinh an, nhưng trạng thái hành xả là lúc đó không còn dính vô đó là mình buông hết tất cả rồi mình ra đi đó là hành xả ./.

Mười Sáu Tuệ

Tuệ thứ 1- Nàmarùpa paricchedanàna - Tuệ Phân Tách Danh Sắc.

Tuệ thứ 2 - Paccayapariggalanàna - Tuệ Phân Tách Nhân Quả (Tuệ Phân Biện Nhân Duyên).

Tuệ thứ 3 - Sammasananàna - Tuệ suy xét thấy Danh Sắc là vô thường, khổ não, vô ngã.(Tuệ Thấu Ðạt)

Tuệ thứ 4 - Udayabbayanàna - Tuệ thấy sự Sanh-Diệt của Danh Sắc.

Tuệ thứ 5 - Bhanganàna - Tuệ Diệt

Tuệ thứ 6 - Bhayanàna - Tuệ Sợ

Tuệ thứ 7 - Adinavanàna - Tuệ thấy Hiểm Nguy của Ngũ uẩn.

Tuệ thứ 8 - Nibbidanàna - Tuệ Chán nãn.

Tuệ thứ 9 - Mũncitukamyatanàna - Tuệ muốn Giải thoát.

Tuệ thứ 10 - Patisankhanàna - Tuệ Suy Tư

Tuệ thứ 11 - Sankharùpekkhanàna - Tuệ Xả Hành

Tuệ thứ 12 - Anulomanàna - Tuệ Thuận-Thứ

Tuệ thứ 13 - Gotrabhunàna - Tuệ Chuyển Tánh, còn gọi là Tuệ "Cắt dòng phàm".

Tuệ thứ 14 - Magganàna - Ðạo-Tuệ

Tuệ thứ 15 - Phalanàna - Quả-Tuệ

Tuệ thứ 16 - Pacechavkkhananàga - Tuệ Kiểm-soát Phiền-não và Tuệ Niết-Bàn.