084 Paṭṭhāna
HT Sán Nhiên giảng ngày 9 tháng 12, 2023
Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 084 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ.
Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.
Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.
Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh
Minh Hạnh
Ngũ Ma (pañca-māra)
Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:
1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.
2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.
3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.
4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.
5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.
Đi tới bức tường đụng vô là cái gì? Mình phải xác định trước cái bức tường đó không có một người nào vượt qua được, đó là Tử Thần Ma (Maccumāra), Tử Thần Ma là xác định rồi.
Bốn loại ma kia còn linh động.
Bây giờ không biết mình đứng ở đâu trong 4 loại ma kia, nhưng biết đằng trước mình đi tới là Tử Thần Ma, thì mình còn bao nhiêu tuổi thọ, còn bao nhiêu sức lực, còn bao nhiêu khả năng của mình từ đây cho tới khi gặp Tử Thần Ma là mình sẽ buông tay ra đi, thì mình làm hết tất cả những gì cần phải làm. Còn bây giờ mình buông luôn, coi như là hết cách trị rồi.
Thì trong 4 loại Ác Ma còn lại, cái nào mạnh, cái nào yếu, mình phải biết. Bốn loại Ác Ma còn lại:
Phiền Não Ma (Kilesamāra)
Pháp Hành Ma (Abhisaṅkhāramāra).
Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra).
Thiên Tử Ma (Devaputtamāra)
Mình phải xác định 3 loại Ác Ma; Pháp Hành Ma Abhisaṅkhāramāra), Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra), Thiên Tử Ma (Devaputtamāra) nằm trong Tam Tướng: Vô Thường, Khổ, Vô Ngã.
Còn, Phiền Não Ma (Abhisaṅkhāramāra) không nằm trong Tam Tướng.
Khi xác định được đối phương thì mình biết cách giải quyết.
Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra) là māra, sắc, thọ, tưởng, hành, thức này nó māra, không phải là nó biến hóa, nhưng Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã tấn công vô Ngũ Uẩn này coi như là mình không cách nào chống nổi, nó là māra.
Nên khi cô Bảy nói là cô sợ Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra).
Không phải sợ, Ngũ Uẩn Ma (Khandhamāra) chỉ nằm trong Tam Tướng mình không phải sợ. Nhưng chỉ sợ Phiền não ma (Kilesamāra). Nó không nằm trong Tam Tướng, khi nó tấn công mình nó có thể đánh gục ngã mình hơn cả Tam Tướng.
Khi sân nổi lên nó không nằm trong Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã. Mà cái sân nổi lên, nhiều, ít, nặng, nhẹ, mạnh, yếu, không nhất định, cái đó mình mới sợ. Rồi nó còn phối hợp theo những cái liên quan đi theo 7 giai đoạn của Paṭṭhāṇa;
Mỗi một vấn đề có 7 giai đoạn của Phát Thú Paṭṭhāṇa:
1) Paticcavàra – Giai đoạn Liên Quan
2) Sahajàtavàra – Giai đoạn Câu Sanh,
3) Paccayavàra – Giai đoạn Duyên Sinh,
4) Nissayavàra – Giai đoạn Y Chỉ,
5) Sansatthavàra – Giai đoạn Tương Tạp, hay là hỗn hòa,
6) Sampayuttavàra – Giai đoạn Tương Ưng,
7) Panhàvàra – Giai đoạn Vấn Đề.
Nó liên hệ nhau trong mối giây oan trái của sân hận mình không thể nào gỡ nổi, nên mới gọi là Phiền não ma (Kilesamāra).
Do đó mình phải biết.
Thế thì Pháp Hành Ma (Abhisaṅkhāramāra) nằm trong khung Tam Tướng, thì từ đây cho đến ngày mình chết mình làm được hay không làm được, mình không cần phải lo, tại vì Tam Tướng nó chi phối mình, mình chỉ lo Phiền não ma (Kilesamāra) nó lên cái nào mình phải đối trị nó.
Còn Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). bây giờ mình có lo cái gì cũng phải tuần tự theo chu kỳ của Tam Tướng.
Mình phải tìm ra, mình phải lo từ đây cho tới bức tường cuối của mình, khi Tử thần ma (Maccumāra) gõ cửa thì mình đi. Trong khi đi thì có 2 hạng đi: đi tiếp tục sinh, hay đi còn phải luân hồi sinh tử trong lục đạo, mình phải tìm ra 2 cái đó.
Đọc lại trong kinh Đức Phật hồi đó Sư thấy là ít thấy thời của Đức Phật có đệ tử nào đi đến Bất Lai. Nhất Lai có, Thất Lai có rồi Vô Sinh, chứ Bất Lai không có. Bây giờ mình ở trong vị trí nào, mình phải tìm ra.
Ý Sư muốn nói quí cô hiểu không.
Đức Phật có 4 giai đoạn: Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai, Vô Sinh (Arahant). Thì ở trong thời Đức Phật, mình đọc rồi mình ngồi nghiệm cái thời đệ tử Đức Phật các vị Thinh Văn Giác, thì mình đi con đường mình đi, thì mình nói.
Thất Lai, điển hình là ông Cấp Cô Độc.
Nhất Lai, điển hình là con gái ông Cấp Cô Độc.
Khi tới Bất Lai thì ngừng không đi tiếp được, tại vì phải gỡ lậu hoặc của mình, như Ngài Anuruddha thì lậu hoặc qua tới phần kiết sử rồi. Nên người có Lậu Tận Thông họ mới ngỡ lậu hoặc này ra cho mình, thì mình mới thấy được, mình mới vượt qua cái này. Thì Anuruddha bước qua cái lậu hoặc và đắc được Vô Sinh.
Thì cái cửa Bất Lai nó chỉ dừng lại cho người thế gian, con người thế tục. Tại vì, nếu Bất Lai mà muốn tới Vô Sinh là phải xuất gia, còn không thì chết trong 7 ngày.
Con đường Vô Sinh có 2 hạng:
- Hữu Dư Y, Vô Sinh, người xuất gia.
- Vô Dư Y: Nếu như người Vô Sinh mà không xuất gia thì phải Vô Dư Y ngay tại đó, đắc đạo đoạn mạng, tại vì họ không có chủng tử xuất gia, lúc đó họ đắc được Vô Sinh rồi, thì trong 7 ngày mà không có chủng tử xuất gia thì họ phải Vô Dư Y, tại vì họ tinh khiết rồi, họ không thể sống trong phàm phu tục tử mà để bụi trần bám vô được.
Như vậy thì cái cửa Vô Sinh này là cửa cuối cùng (death end) của Tử Thần Ma cho người không xuất gia, mấy cô phải chọn đường đi qua Ngũ Tịnh Cư (Suddhāvāsa) nếu như mình không có chủng tử xuất gia.
Đó là những bài mình học rồi giờ mình nghiệm lại.
Do đó, khi Sañjaya nói với Ngài Kolita không cần xuất gia, mình làm cư sĩ là con đường đi của Kolita một là Vô Dư Y đắc Vô Sinh, hai là Bất Lai về Tịnh Cư Thiên tiếp tục tu ở nơi đó. Khi có một vị Sư, một vị xuất gia mà họ nói như vậy là Sư biết vị đó không có giúp mình, tại sao dám nói là không cần phải xuất gia, con đường tử thần này mình không qua được thì mình phải chuẩn bị khi Tử Thần Ma đến là mình ra đi, có dịp đi là mình đi được rồi.
Mà đây cũng vậy, mình muốn Thất Lai thì mình còn lên xuống, chỉ có độc nhất là tránh 4 đường ác đạo (địa ngục, ngã quỉ, atula, xúc sinh), mình không rớt xuống, mình chỉ đi 2 cửa là Nhân, Thiên, Nhất Lai mình chỉ Nhân Thiên thôi.
Nhưng Bất Lai và tới Vô Sinh mà không xuất gia thì một là Vô Dư Y, hai là về cõi Tịnh Cư Thiên, nếu không đi xuất gia.
Không có con đường xuất gia thì chọn 2 đường, một là về cõi Tịnh Cư Thiên, ở đó tiến tu đến Niết-bàn, hai là mình vượt qua Bất Lai mà không chịu xuất gia hoặc không có chủng tử xuất gia thì mình chọn Vô Sinh Vô Dư Y Niết Bàn trong 7 ngày, không sửa được, không chuyển được.
Các quí Phật tử phải suy nghĩ kỹ. Cái đó là con đường cuối cùng, cái cửa xuất gia là con đường cuối cùng. Mình phải suy nghĩ, mình chọn con đường nào.
Tất đoạn mạng" (chấm dứt mạng sống), bò húc cái đi luôn như ông Bahiya vô dư y Niết-bàn.
Hay 30 vị Tỳ Khưu ở trong rừng mỗi ngày bị cọp ăn một vị Tỳ Khưu, chư tỳ khưu cứu không được, một bên là vực thẳm, một bên là con cọp, nếu vị Tỳ Khưu nhảy xuống vực thẳm mà con cọp nhảy theo thì cả hai cũng chết nên vị Tỳ Khưu ngồi quán tưởng vừa xong là đắc vô dư y Niết-bàn, tất đoạn mạng" (chấm dứt mạng sống)
Còn nếu như không xuất gia mà mình không có muốn vô sinh Niết-bàn thì mình phải chọn tái sinh về cõi Tịnh Cư Thiên để ở nơi đó mình tu tiếp 5 tầng Ngũ Tịnh Cư Thiên;
1. Vô Phiền,
2. Vô Nhiệt,
3. Thiện Kiến,
4. Thiện Hiện,
5. Sắc Cứu Cánh.
Thế là khi mình xác định được con đường đi của mình thì mình mới lập chú nguyện Adhiṭṭhāna. Mình đi 3 bước ; Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai, về Ngũ Tịnh Cư Thiên, không sinh hoạt như con người sống ở cõi trần gian này phiền não, cho dù bậc Thánh cũng vậy.
Thời của Đức Phật Độc Giác Paccekabuddha không có 4 bậc; Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai, mà là Alahan Vô Sinh thôi, các Ngài tự tu tự chứng giải thoát, hành giả đi tới A La Hán luôn. Các vị Độc Giác Paccekabuddha là những người xuất gia, chứ không có người cư sĩ, không có người tại gia.
Mấy cô phải coi lại. Bốn bậc này là thời của các vị Thinh Văn Giác mà thôi, mà Thinh Văn Giác chỉ có trong Thinh Văn Giác, và hành giả phải lập nguyện là tới Bất Lai và sinh về cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên nếu như không có chấp nhận hay là không có chủng tử, có hay không có hạt giống xuất gia thì hành giả sinh về Ngũ Tịnh Cư Thiên. Còn nếu hành giả vượt qua Bất Lai mà muốn Vô Sinh, hành giả không xuất gia thì hành giả chấp nhận Hữu Dư Y, Vô Dư Y trong vòng 7 ngày.
Thì mình phải biết hướng đi của mình, chứ không thể nào nói một cách mơ hồ được, cửa ngõ nó như vậy.
Bốn bực này; Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai, Alahan Vô Sinh và 3 bậc trên Thinh Văn, Độc Giác và Chánh Đẳng Giác, thì mấy cô ở trong bậc nào? Cửa tử sẽ đến với mình không thoát được, không ai qua khỏi được cửa tử thần, thì những gì còn lại từ đây cho tới ngày mình gặp thì mình làm những điều gì nên làm cho mình.
Cũng vậy, nếu như hành giả biết con đường mình phải giải thoát phải qua con đường xuất gia hay minh phải đi về Ngũ Tịnh Cư Thiên, còn không là Vô Dư Y Niết-bàn ngay khi đắc quả A La Hán. Thì hành giả phải chuẩn bị lập nguyện của mình trên con đường tu tập, chứ không thả lỏng được.
Hành giả có lập nguyện, có ý chí, từ đây cho tới ngày đối diện với tử thần hành giả còn lo cái phiền não, cái phiền não có sinh lên hành giả dập tắt liền, hành giả không nuôi dưỡng phiền não, không để cho phiền não xâm chiếm vào cuộc sống của hành giả. Hành giả không lo Ngũ Uẩn Ma, không lo Pháp Hành Ma, không lo Thiên Tử Ma. Tại vì hành giả biết cái death end của hành giả là Tử Thần. Thì con đường tu đắc đạo quả của hành giả biết, một là đi Thất Lai, hai là đi Nhất Lai, 3 là đi Bất Lai sanh về cõi Tịnh Cư Thiên, từ đó Vô Sinh Niết-bàn, ở đó không có trở lại con người và cũng không cần phải đi xuất gia.
Còn nếu đi từ Thất Lai, Nhất Lai, Bất Lai tới Vô Sinh thì hành giả phải quyết định một trong hai:
1. Hành giả muốn được Hữu Dư Y Niết-bàn hưởng được thời gian còn lại trong cuộc sống của mình có tuổi thọ thì hành giả phải là người xuất gia.
2. Hành giả không có chủng tử xuất gia và cũng không có duyên với việc xuất gia thì hành giả vô dư y niết-bàn trong vòng 7 ngày khi đắc Vô Sinh, có khi là ngay đó.
Hành giả phải biết hướng của mình, còn mình không biết nhìn, không tìm được nó, không nghĩ ra nó, và mình không có viết ra, thì con đường tu của mình là không có định hướng. Tại vì đó là death end.
Mấy cô đọc lại đi, thời Đức Phật không có một vị Vô Sinh nào mà ở trạng thái gia đình, phải xuất gia. Năm trăm bà ở trong hoàng cung ở Kapilavatthu Ca Tỳ La Vệ sau khi những người nam đi hết thì 500 bà tập hợp lại cùng đi xuất gia. Đức Phật không để cho mấy bà đi Thất Lai, Nhất Lai, 500 bà đều A La Hán. Do đó, bây giờ không còn phái đoàn tỳ kheo ni nữa, vi đã đắc quả A La Hán hết rồi, tại vì người ta xuất gia, đi vào chùa tu hết, vào trong giáo đoàn ni, người trưởng giáo đoàn ni là bà Gotami, thì mấy cô đọc mấy cô phải tìm hiểu cái đó.
Còn nếu như mấy cô thấy căn cơ của mình trong kiếp này không có nghiệp duyên tới A La Hán, thì mấy cô phải tu, Thất Lai, Nhất Lai, qua khỏi 4 đường ác đạo rồi. Thất Lai, Nhất Lai không có rơi xuống của cái thời của Pacceka Độc Giác, các Ngài đi xuống con đường của Thinh Văn của Chánh Đẳng Giác.
Có một cơ hội nữa khi đắc Thất Lai, Nhất Lai trong kiếp này, cơ hội này có mà quí cô có thể làm được, là có 5.000 năm Phật Lịch. Thì khi Xá Lợi Niết-bàn tụ lại ở Buddhagaya thì lúc đó có một vị Phật thuyết 7 ngày mà chỉ có Chư Thiên tới nghe thì mấy cô Thất Lai, Nhất Lai xuống hốt cú chót và quyết định luôn. Thì chắc chắn là thời đó không có Bất Lai, không có Vô Sinh mà Chư Thiên đó ở chỗ Ngũ Tịnh Cư Thiên, ở đó có Thất Lai, Bất Lai thì họ về Ngũ Tịnh Cư Thiên. Mình nguyện từ đây tới đó còn 2,400 năm. Đó là 2 cái bỏ túi.
Mình bàn tiếp vấn đề Balamật (pāramī)., mình bỏ túi 2 cái, mình nguyện Ba La Mật với cái đạo quả, có thể là mình lượm được Thất Lai trong kiếp này.
Thì trong khi hành giả lập được nguyện đó hành giả vẫn còn tại thế, còn sinh hoạt trong gia đình, không có gì buột phải xuất gia, thì điều đầu tiên mà mình đắc Thất Lai Tu Đà Hườn là mình sửa đổi tri kiến của mình. Cái diṭṭhi tri kiến của mình đi qua cửa kiến giải, chứ mình không thay đổi gì về danh sắc của mình không thay đổi, chỉ thay đổi tri kiến thôi.
Thì đầu tiên nhất là hành giả sửa tri kiến của mình, cái kiến chấp của mình là mình bỏ tà kiến, thường kiến, đoạn kiến, vô nhân kiến, vô hành kiến, vô sở hữu kiến, mấy cái đó trong khi ăn, nói, đi đứng nằm ngồi, trong ba là thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp là mình đừng có rớt trong tà kiến này là mấy hành giả qua khỏi con đường Thất Lai, chứ không có bắt buộc mình thay đổi hình tướng, hình dạng, danh sắc.
Giống như bây giờ mình nói, mấy cô lớn tuổi không thay đổi mà đắc quả Thánh rồi mấy cô trẻ lại được, nhưng cái tri kiến của cô là bất di bất dịch không lay chuyển được là có niềm tin bất thối với Tam Bảo.
Nếu như mình lấy được cái Thất Lai là mình phải sửa tri kiến của mình. Sửa tri kiến của mình là trong thân ngự ý, tại vì nó là nơi mình tạo tác nghiệp, mà tri kiến lấy cái đó xen kẽ vào. Thí dụ mấy cô không có nói, dù vô ý, vô tình hay hữu ý hữu tình, cố ý hay không cố ý, mình nói hên xui. Thì khi mình nói còn hên xui thì là ngữ và ý. Mà cái hên xui mà mình nói ra hay là may quá, mình nói ra, đó là cái thói quen, nó là kiết sử. Cái chỗ thói quen, cái kiết sử này là mình ở trong tham ái, chứ không phải tham dục. Tham ái là do sự thương, sự thích của mình. Tham dục là do đối với cảnh. Mình phải sửa cái tri kiến này.
Thí dụ: "May quá, sui quá", đó là tham ái, là mình muốn có cái này, mình muốn được hưởng cái này. Chứ không phải là đối với cảnh, đối với sắc đẹp, sắc thinh khí vị xúc. Nó thuộc về tham ái với cảnh pháp, do kiết sử dẫn tới, Thì mấy cô phải tu tập trong thời gian này, từ đây cho tới ngày cuối của mình là Thần Chết gõ cửa.
Mình không gần cái người nói: "hên, sui, may mắn", và mình cũng không nói như vậy trong sinh hoạt của mình, trong thân, ngữ, ý của mình, thì kiến chấp đó không thành.
Mình nhìn mỗi cái chuyện gì đó nó thuận hay là không thuận với cái pháp đang hiện bày, mình chỉ nhìn thấy nó là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã. Đó là mình đang có cái sửa cái tri kiến của mình, không còn nói: "may quá, sui quá" nói cái đó là do kiến chấp của mình trong đó.
Thí dụ, một pháp nghịch đến với mình, nó không có thuận theo như mình nghĩ, mình không nói khổ đau, vô thường, vô ngã, thì mấy cô mới có cơ hội mà ra được cetanā (chủ ý, tác ý), cái cetanā nằm trong cái 7 tâm sở. Nên mấy cô phải biết không có bỏ qua được.
Mình nói thức tỉnh liền, mình không để cho nó control mình. cetanā là của mình, tâm thức là của mình, cetanā là tâm sở thì hành giả phải biết liền và hành giả phải làm cái gì nên làm trước khi tới ngày cuối của mình. Khi tới death end này mình buông tay chấm dứt thì mình mới biết rằng là những gì mình đã làm trong thời gian mình tu tập có ích lợi, cái tỉnh giác hữu lợi, hữu dục, mình phải tìm được cái đó, cái tỉnh giác này cũng có cái nghĩa đó, chứ không phải mình niệm suôn, mình tỉnh giác mà suôn được, mình phải có. Tại vì mình đọc trong kinh, từ bài kinh này tới bài kinh kia thì mình thấy các quí Ngài có kế hoạch.
Như ông Cấp Cô Độc, ông đi tới Đức Phật, ông không có một tư tưởng xuất gia, là con đường giải thoát của ông thì bị chặn lại, ông chỉ nguyện làm một đại thí chủ, giống như bà Visākhā. Mấy cô nhìn lại trong tích chuyện cũ, trong đó có tích chuyện bà Visākhā, một kiếp trong quá khứ bà có một người bạn cúng dường, bà hỏi Đức Phật về người bạn, bà muốn được như bà thí chủ đó, như bà bạn của bà, thì Đức Phật Ngài đồng ý, bà cúng dường trong 7 ngày, bà chỉ xin là thời nào có vị Phật ra đời thì xin là đại thí chủ.
Thì mấy cô phải hiểu, Ngài Tịnh Sự Ngài dạy Sư, Ngài nói: "người cư sĩ họ tài thí mình, mình không được thọ suôn, mình phải pháp thí lại, nếu không thì mình mắc nợ. Ngài dạy Sư nếu mà người cư sĩ mà vô dọn đất của mình mà mình không có gieo trồng cái gì trong đây để họ hưởng, thì mình trở thành người thọ công của người ta làm cho mình. Thì người cư sĩ có tài thí thì người xuất gia phải có pháp thí:
Tại gia thí tài, xuất gia thí pháp, song thí đồng hỉ, phước báu vô lượng
Bà Visākhā, ông Cấp Cô Độc Anāthapindka, nguyện kiếp nào sinh lên chỉ xin làm đại thí chủ. Do đó Đức Phật Ngài, vị Phật nào cũng vậy, tới thời đó thì phải trả công làm phước độ trong bốn đường ác đạo.
Người đại thí chủ trong một kiếp sống của một vị Phật mà họ làm đại thí chủ thì giống như chư Thiên. Chư Thiên khác với vị đại Phạm Thiên. Mấy cô nhớ chưa, người mẹ, người cha của một vị Phật, là bốn bậc Ứng Cúng đáng được cúng dường, tại vì sinh ra mình, hai nữa là thầy giáo đầu tiên dạy cho mình, thứ ba là chư Thiên. Chư Thiên là gì? là bảo hộ, bảo vệ, hộ độ, bảo dưỡng, giữ gìn. Còn Phạm Thiên là Tứ Vô Lượng.
Thì mấy cô thấy ông Cấp Cô Độc Anāthapindka, bà Visākhā, nguyện là đại thí chủ thì họ là người bảo hộ, bảo vệ cho Tam Bảo, cho Phật Pháp, là chư Thiên đi tới Thất Lai.
Do đó, bây giờ kiếp này dọn sạch cái sân rồi mấy cô bỏ pāramī Balamat của mấy cô vào. Thì mấy cô nói tôi chỉ hộ độ Tam Bảo thôi, thì mấy cô sẽ được tránh khỏi bốn đường ác đạo.
Chư Thiên đó, Đức Phật Ngài lên độ Mẹ và 800 vị chư Thiên là Thất Lai, các vị chư Thiên đó bây giờ như Ngài Thiên chủ Đế Thích Sakka bây giờ cũng đang hộ trì Tam Bảo. Các quí Phật tử đây tới chùa lo tu học thì nguyện hộ trì Tam Bảo.
Còn nếu như mấy cô nguyện kiếp này phải giải thoát, không muốn sanh tử nữa, không muốn trở lại bất cứ hình thức nào, dù chư Thiên hay người, thì mấy cô phải đi tới con đường Adhiṭṭhāna Chú Nguyện.
Pāramī (Ba-la-mật) là lộ trình hay là yếu tố để làm phương tiện cho mình đi tới con đường mình lập nguyện thành đạt được, chứ còn không mấy cô không có kế hoạch, không có sự chuẩn bị thì bao nhiêu yếu tố bên ngoài tác động vào, chưa nói tới nghiệp báo. Mấy cô nhớ há, khi mà mấy cô tu dù tại gia hay là xuất gia đi tu thường bị khảo đảo làm đường tu trục trặc dữ. Quí cô ở nhà thôi, bữa nay cô nguyện: xin cho tôi 24 giờ đồng hồ được an lành, mà không được, cây muốn lặng, gió không chịu ngừng. Cố ý trồng hoa, hoa không nở, vô tình cắm liểu, liễu lại xanh.
Do đó, mình phải nghiệm ra nó thì cái đó tại gia cũng bị thử thách khảo đảo, xuất gia cũng bị thử thách khảo đảo. Thì quí cô lấy cái trí của mình quyết định con đường mình đi. Rồi từ đây mình nói tới ngày cuối đường của mình là tử thần tới mở cửa hành giả đi trong cái gì hành giả biết, thì mới có. Mấy cô biết mỗi ngày làm được bao nhiêu phước báu hiệp thế, phước báu siêu thế, phước báu chế định, phước báu siêu lý, phước báu Pāramī, phước báu phước thiện. Mỗi ngày mấy cô mới tìm ra được, chứ còn không mấy cô không để mất được, mấy cô không có định lượng được.
Mình cũng giống như bao nhiêu Phật tử khác, cũng giống như bao nhiêu Sư khác, thầy khác ở trong chùa, với một trạng thái phước thôi, chưa chắc nó là phước.
Đức Phật Ngài nói nếu không làm thiện, bất thiện nó trở lại.
Thí dụ như một ngày mình không tu thì nghiệp bất thiện cũ của mình nó trở lại. Một ngày mấy cô không nấu cơm mới thì mấy cô ăn cơm cũ. Tại sao mình còn cũ, tại vì mình ăn không hết nên mình còn dư, còn nếu mình hết, cái cũ hết là mình không có dư, thì mình phải tạo cái mới.
Trong một ngày cô có thiện phước mới hay là thiện phước cũ cô đang dùng, mình phải có, mình sài cái cũ hoài, mình an phận thì mình cứ sống ăn hiền ở lành, ăn chay niệm Phật. Mình cứ sống như vậy không sao, không ai chê trách, và mình không có gì cắn rứt lương tâm mình, nhưng, mình sống với trạng thái cái cũ hoài, không có cái mới.
Các cô phải biết chứ không thể nói không đúng lương tâm. Nhưng mấy cô phải biết để mấy cô có kế hoạch.
Hành giả chỉ xin làm hộ độ Tam Bảo, Tam Bảo không bỏ mình, đầu tiên là cắt đứt bốn đường ác đạo, đó là an toàn rồi, thứ hai là tạo cho hành giả có điều kiện đắc Thất Lai, không rớt xuống bốn đường ác đạo là hành giả đắc Thất Lai, rồi từ đó đi lên xuống, dài hay ngắn, mau hay lẹ, thời nào, quyết định được hết.
Khi mình tu, như bữa trước Sư nói về Pāramī (Ba-la-mật) trong đời sống hàng ngày của mình, mình sẽ thấy, làm cái gì cũng làm việc thiện, cũng làm Pāramī (Ba-la-mật), thì mình mới thấy.
Trong mỗi cái điều kiện tới, đi chợ mua thực phầm để ngày mai lên chùa cúng dường, hay là sinh hoạt với lớp, thì đi chợ mình cũng phải có tác ý toàn thiện. Thì khi đi chợ thì mấy cô có cái gì trong tâm? Có tam tư: tư tiền, tư hiện, tư hậu, tinh tấn hay là xả thí, hay là trí tuệ, hay là chú nguyện, mình không bỏ một cơ hội nào. Đi chợ xong thì mang thực phẩm về, bắt đầu bày ra và nấu chín, thì cũng phải có tam tư toàn thiện, rồi ngày mai mang lên chùa cũng tam tư toàn thiện. Làm những việc này là hộ trì Tam Bảo, làm nhân để đạo quả Niết-bàn.
Khi mấy cô nguyện làm nhân làm duyên đạo quả Niết-bàn là mấy cô đi đến Vô Sinh, thì mấy cô phải đối diện 2 mặt.
Còn Thất Lai, hành giả làm được Thất Lai, là hành giả chỉ hộ độ Tam Bảo, tự mình gieo hạt giống.
Sư đứng về pháp thí, các quí Phật Tử đứng về tài thí, mình tới đây để kết nối nhau tài thí pháp thí thì Sư biết là các quí Phật tử là những người hộ độ Tam Bảo thì Sư sẽ đưa tới cái mức của hộ độ Tam Bảo. Còn nếu như mấy cô là những người nguyện giải thoát Niết-bàn, không muốn sinh tử, không muốn chậm trễ nữa, không có thì giờ, không muốn đối diện, và không có đủ sức phải tiếp xúc với nó nữa, mệt quá rồi, thì mấy cô nhân đạo quả Niết-bàn, thì mấy cô phải có Vô Sinh.
Bà Ba đi nghe pháp Ngài Hộ Tông nói, đi 4 chỗ động tâm bên Ấn Độ, trong kinh Trường Bộ, bài kinh DN 16 - Maha-parinibbana Sutta Đại Bát Niết Bàn: Người nào có duyên, có phước đến bốn chỗ động tâm mà bỏ xác thân là 100% sinh Thiên giới chứ không ở trong bốn đường ác đạo. Thì bà Ba nguyện: "Nguyện con được sinh về Thiên giới." thì vừa tới Bồ Đề Đạo Tràng bà bị mệt, bà xin Chư Tăng tụng kinh bà ra ngoài ngồi đợi, thì ra tới ngoài, rồi bà đi luôn.
Khi bà nguyện thì Chư Thiên khi đó đang nghe pháp, Chư Thiên hoan hỉ ghi nhận, và chủng tử bà gieo rồi thì trổ sinh cùng lúc luôn. Tại vì sao? Tại vì bà đủ tam tư (tư tiền, tư hiện, tư hậu) và bà không thiếu trí khi bà nghe pháp không phải như mình nghe để mình hưởng hay mình thích mà mình lấy trí tuệ mình mở con đường mình đi, chứ không để duột.
Như ông Upatissa nghe Ngài Assaji nói thì Upatissa mở trí tuệ bắt pháp liền chứ không để duột mất, mình biết mình sẽ để duột mất thì mình phải có chú nguyện Adhiṭṭhāna. Mà Adhiṭṭhāna là một trong mười pháp Pāramī (Ba-la-mật).
Chư Thiên và các bậc trí sẽ tìm ra được đường các cô đi. Các cô ngồi nghiệm lại đi, mình đi chợ với tam tư (tư tiền, tư hiện, tư hậu) và tác ý mình làm cái gì, và khi lên chùa với tam tư và tác ý mình làm cái gì, và cúng dường với vấn đề xả thí vật thực này hay Tam Bảo với tác ý gì.
Như Sư nguyện bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thì trong mỗi buổi giảng, hay buổi Sư hướng dẫn cho Phật tử tu học, cũng như trong phần dịch kinh Sư cũng phải có cái Chánh Đẳng Chánh Giác Sư đă nguyện, và Sư không bao giờ nghĩ con đường của Thất Lai, Bất Lai, con đường của Sư là phải đi tiến tới Chánh Đẳng Chánh Giác. Mà Chánh Đẳng Giác của Sư không phải là đức tin, không phải là tinh tấn, phải là trí tuệ. Do đó, Sư phải dùng trí tuệ. Khi Sư mở một cái gợi ý cho quí Phật tử, mà quí Phật tử không thấu hiểu được, không nắm bắt được, thì trí tuệ Pāramī (Ba-la-mật) của Sư phải xoay qua cái khác để làm sao Phật tử hiểu được. Đó là Sư đã làm được toàn thiện Pāramī (Ba-la-mật) của Sư, hết cả mạng sống rồi, để mà làm sao mấy cô phải đạt được nắm bắt pháp này, mà pháp đó nó phải tương ứng với hạnh nguyện của các quí cô chứ không phải của Sư. Mấy cô chỉ làm với nguyện hộ độ Tam Bảo, chứ không với mạng sống của quí cô.
Không được, mấy còn nhiều cái hệ lụy lắm, còn nhiều cái ràng buột, mấy chưa có thuận duyên. Mấy cô chỉ lên tới Thất Lai, Nhất Lai.
Thiên Tử Ma không có đủ lực để cản. Ngũ Uẩn Ma không có đủ để mà cản người. Chỉ có Phiền Não Ma là mình không vượt qua được thôi, mình chịu thua, chứ còn ngoài ra mấy cái đó không đủ để cản.
Ngũ Uẩn Ma là khi mà cô bịnh, cô yếu, cô không khỏe, cô mệt, cô chết, cô thất vọng hay cô không hoan hỉ, cái Ngũ Ma; sắc, thọ, tưởng, hành, thức này không có cho để mà nó đủ khống chế mình, chỉ có phiền não là mình không vượt qua được thôi, nếu mình không có trí, thì mấy cô phải có hướng đi.
Như Tỳ Khưu Sona không sợ Ngũ Uẩn Ma, không sợ Thiên Tử Ma, không sợ Pháp Hành Ma, chỉ sợ Phiền Não Ma thôi. Ông đi không được, ông ngồi không được, ông đi hành thiền, mà thiền không được, ông bò, máu chảy ở đầu gối, tay chân máu chảy. Đức Phật Ngài nói cái này là tinh tấn quá mức, ông là Tinh Tấn Pāramī (Ba-la-mật), nhưng ông không điều ngự ngũ Quyền: tín, tấn, niệm, đinh, tuệ, ông không làm đủ, ông chỉ làm Tấn Lực thôi nên những cái kia giảm xuống. lấy cái định lên để giảm cái Tinh Tấn, thì Ngũ Lực quân bình lại.
Thì mấy cô thấy những cái đó là ông đang chiến đấu với Phiền Não Ma, ông không để ý tới Ngũ Uẩn Ma.
Cũng như bà Sona, bà già rồi, bà cũng không để cho Ngũ Uẩn Ma chi phối, bà chỉ lo Phiền Não Ma, ta chưa vượt qua, tử thần tới bắt đi, hết kiếp sống. Không hành thiền ở trong thiền đường, bà ra ngoài rừng, vịn cây mà đi, bà tinh tấn đi như vậy mà đi tới kết quả Alahan. Vì bà vượt qua được Phiền Não Ma chứ không bị Ngũ Uẩn Ma ảnh hưởng, hay là Thiên Tử Ma hay Tử Thần Ma không cản được bà. Vì bà biết đối tượng của bà là Phiền Não Ma.
Bây giờ mình liệt kê ra rồi, nếu như là mấy cô không liệt kê được 3 pháp này đưa vào trong tam tướng để mà cô không phải bận tâm lo, chỉ còn 1 cái phiền não để mà tập trung giải quyết nó, thì cô phải có 4 lo cùng lúc, hết lo phiền não, hết lo Ngũ Uẩn, lo tử thần, lo Thiên Tử, lo Thiên Ma. Thì lúc mấy cô có 4 cái đó, thì mấy cô phải nói: đường tu tôi có nhiều thử thách, đường tu tôi có nhiều khảo đảo, cái này là Thiên Ma đang thử thách tôi. Tại vì mấy cô không đóng 3 cái này lại, mấy cô không đưa 3 cái này vô tam tướng này, mấy cô chỉ có đối diện phiền não, những phiền não lên mấy cô đóng nó thì mới có tri kiến chân chánh. Mà tri kiến chân chánh là cửa ngõ đến Thất Lai, còn không thì mấy cô bị quay cuồng trong bốn ma, mấy cô không sát định ở trong cái nào
Cô đang tu hay đang làm việc thiện nào đó mà bị chướng ngại thì cô có xác định đây là Phiền Não Ma không, hay là cô đang bấn loại trong một trong bốn cái ma này. Cô sẽ rớt trong một trong 4 cái đó thì cô sẽ sinh lên si phóng dật, si hoài nghi, rồi các cô chấp thủ vào đó thành giới cấm thủ, và trong cái đó mấy cô không thấy được cái đó thì cô có tà kiến; Vô Hành, Vô Hữu, Vô Nhân, mấy cô trong đó. Mà nếu như rớt vào Micchādiṭṭih là Chuẩn Xác Tà Kiến là vô phương chữa, ngay cả bậc Chánh Đẳng Giác cũng không gỡ được cho mình.
Bây giờ mình lọc trước, đóng 3 cái này qua một bên, mình chỉ đối diện với phiền não thôi. Ngũ Uẩn Ma chi là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã, đâu có gì đâu mà phải động tới nó. Thiên Tử Ma chỉ là Vô Thường, Khổ Đau, Vô Ngã. Chỉ có Phiền Não Ma là tôi mới lo. Thì tri kiến của cô chỉ chú tâm vào một điểm thôi, và mấy cô không có hoài nghi nữa, và không có giới cấm thủ nữa, và mấy cô chỉ tập trung vô một cái kiến giải để giải quyết tập khí này. Cái tri kiến của cô kiên cố với Tam Bảo. Tri kiến của cô với Trí Tuệ Pāramī (Ba-la-mật), thì mấy cô sẽ có hướng đi của con đường mà mình lập nguyện.
Người xuất gia cũng vậy. Nếu như người xuất gia mà không có một cái tri kiến thì con đường xuất gia của họ cũng như là tu thiện thôi, mình ăn hiền ở lành, và không giải quyết được cái cetanā (tác ý).
Dù bấy lâu nay mấy cô nguyện làm nhân đạo quả Niết-bàn, hay là làm từ thiện để hộ độ Tam Bảo, mình chỉ có cái nhãn hiệu đó thôi.
Phải cẩn thận, nó khác nhau mà mấy cô không để ý thì rớt, nhất là mấy cô đi thi mà A, B, C khoanh, câu giống nhau mà cô khoanh là rớt liền.
Nó mới lọc cái hoài nghi, cái giới cấm thủ, mới lọc được cái tri kiến, thì con đường đó là tới Thất Lai. Cái đó là kiến thức. Chứ lơ tơ mơ thì không có kết quả. Cái gì cũng có hết. Không được, phải xác định và mình hạ thủ công phu quyết tâm.
Thí dụ, có 4 hạng người:
1. Người nghe nửa câu đắc đạo quả.
2. Người nghe hết câu đắc đạo quả.
3. Người được giảng dạy đắc đạo quả.
4. Người nghe để gieo duyên cho kiếp sau.
Thì các cô xem mình ở loại nào? Mình nghe 2 câu đầu là đắc đạo quả. Thì mình nghe Ngài Assaji nói:
Mỗi pháp sinh lên bởi cái nhân,
chính cái nhân hiện bày pháp.
Mỗi pháp sinh lên bởi cái duyên,
chính cái duyên hiện bày pháp.
Hai câu sau: "Tôi được nghe từ bậc đại sĩ đã nói câu đó" là 2 câu sau. Thì khi nghe Ngài Assaji nói 2 câu đầu thì Ngài Upatissa đắc đạo quả. Còn nếu như mà mình không qua được 2 câu đó, mình xuống tới 2 câu sau là chính cái trí tuệ Đức Phật này làm xác định cho mình có một đức tin thì mình mới đắc đạo quả, đó là mình là hạng người thứ hai.
Câu thứ 3 Ngài Assaji nói: "Tôi hành theo đó, tôi có kết quả" thì mình là người được giải thích.
Còn mình nghe thì để kiếp sau.
Thì Ngài Upatissa đắc đạo quả, vì Ngài là bậc thượng trí.
Hai câu sau: "Tôi được nghe từ bậc đạo sĩ" . Hai câu sau để kết thúc cho đức tin.
Thì bây giờ mấy cô thuộc hạng nào, một trong bốn hạng người này ?
Tôi không có hơn thua, tranh dành, bon chen, tôi kết thúc liền. Còn mình là anh hùng, là đại bồ tát, đi đi, tôi đứng đây đợi, chừng nào hết ai đi thì tôi đi, thì mình đi theo cái nguyện đó.
Có người nguyện, nguyện khi nào mà chúng sinh dưới địa ngục hết thì tôi giải thoát, cái đó giống như nguyện không còn ai đi xe bus thi tôi mới đi, thì mình cứ đứng đó.
Giống như hồi xưa chưa xây cầu Bắc Mỹ Thuận, lúc đó còn đi phà, mình nguyện ai đi hết, tôi chờ, hết người đi tôi mới đi, thì mình đứng nơi bến phà đợi hoài.
Khi Ngài Paṇḍita nói có 4 hạng người, thì hạng người thứ tư là nhiều kiếp sau, chứ kiếp này không có cơ hội.
Bây giờ mình nói về pháp có 3 hạng người:
1. Người thiện vô nhân
2. Người nhị nhân
3. Người tam nhân
Người thiện vô nhân coi như gieo duyên, người nhị nhân coi như là gieo duyên, không đắc đạo quả trong kiếp này, tại vì không có trí, chỉ có vô tham vô sân thôi, họ sẵn lòng tu phước, chứ tu tuệ họ tu không được. Họ tu phước, chuyện gì về phước họ cũng làm không nệ hà gì hết. Thì kiếp nào họ sinh lên họ có đầy đủ về phước vật, còn phước trí thì họ không có duyên vì họ không tu tuệ.
Nên mình tu phước, thì kiếp nào mình sinh lên đều có phước vật, như ông Bà-la-môn Aparājita, vua A Xà Thế thấy tay ông Bà-la-môn Aparājita 10 ngón tay đeo vàng, ông xèo 10 ngón tay ra, vua A-Xà-Thế lấy vàng nhưng không lấy được. Thì Bà-la-môn Aparājita nói "tôi cho ông, ông lấy đi", ông nói vừa dứt thì vàng trên 10 tay rớt hết xuống thảm để cho vua A-Xà-Thế.
Rồi câu chuyện đó đến Đức Phật, Ngài nói trong kiếp quá khứ ông Bà-La-Môn đã nguyện rằng "vật thí nào của ta không đồng ý cho mà lấy nó thì không lấy được" .
Ông Aparàjita thỉnh Đức Phật đến thuyết pháp 7 ngày, ông loan truyền khắp thành là ông rải đầy bảy báu trong hương thất đức Thế Tôn. Người nào đến nghe pháp có thể lấy một ít. Người nghèo được hốt đầy hai nắm tay. Người khá giả được hốt một nắm. Vì ông tính: "Những kẻ có đức tin chỉ đến để nghe pháp. Người chưa tin sẽ do lòng tham của cải dẫn dụ mà đến, được nghe pháp rồi cũng sẽ thoát khổ". Từ ý định muốn lợi lạc chúng sanh, ông cho rao những lời trên.
Người người đi nghe pháp đều lấy châu báu theo đúng qui định của vị thí chủ. Ông cho đổ thêm châu ngọc đầy như cũ một lần, hai lần, rồi ba lần. Dưới chân Phật, ông để một viên ngọc thật lớn, rất quí giá, với ý nghĩ: "Kẻ nào biết chiêm ngưỡng ánh hào quang chói sáng từ kim thân Phật sẽ chẳng ưa thích gì ánh sáng viên ngọc quý này". Và quả thật những ai trông thấy đức Phật rồi chẳng màng gì đến viên ngọc nữa.
Một hôm, có người Bà-la-môn tà kiến nghĩ rằng: "Người ta nói có viên ngọc quý đặt ở chân Phật. Ta có thể lấy nó". Hắn đến hương thất trà trộn vào đám đông đảnh lễ đức Phật. Người Bà-la-môn sải tay về phía chân đức Phật, làm bộ như đảnh lễ Ngài, nhón lấy viên ngọc cho vào áo và đi ra.
Ông Aparàjita bạch Đức Phật, có cách nào mà vật nào con không cho thì người ta không lấy được không?
Đức Phật đã dạy ông Aparàjita nguyện rằng:
- Từ nay trở đi, xin cho vua hoặc kẻ trộm dù đông đảo đến mấy cũng không lấy được gia sản con dù một sợi chỉ. Xin cho tài sản con không bao giờ bị lửa đốt, hoặc bị nước cuốn trôi.
Và Đức Phật hoan hỉ thọ ký cho lời nguyện của ông Aparàjita. Và không ai lấy được phước vật của ông Aparàjita.
Thì mấy cô cũng vậy. Nhìn lại mỗi cái gì mình làm đều phải có Anumodanà là tùy hỉ công đức.
Hiệp thế và siêu thế, luân hồi hay là giải thoát. Trở lại mình sẽ có cái gì mà luân hồi mình sẽ có cái gì mình sẵn sàng đón nhận. Hai nữa là mình muốn giải thoát, thì mình phải sẵn sàng để đón nhận.
Thì trên con đường đi nào cũng vậy. Không có con đường nào bằng phẳng để cho mình đi êm ru, tại gia hay xuất gia đều vậy. Nên Sư mới đặc tên cô Tịnh Nhẫn. Cô phải tịnh nhẫn tu.
Tôi đi chợ, tôi hộ độ Tam Bảo, tôi đi chợ tôi cúng dường Tam Bảo, đây là một sự phiền não, một sự ràng buột, một sự cột trói, một sự trôi lăn sinh tử. Tôi muốn giải thoát. Ta mượn cái cửa cúng dường này, ta mượn cái của để ta thọ cái này để làm nhân giải thoát Niết-bàn. Mấy cô phải có cái đó, chứ không chung chung khơi khơi được, còn mấy cô không, thì chư thiên thọ ký là mấy cô sẽ trở thành bạn hiền với chư thiên. Phải xác định niyata. chứ không phải aniyata. Cuộc đời của mình không có thể nào như cái chiếc ghe chiếc tàu, mà thả nó trôi lền bền trên giòng nước, nó không đậu thì phải lấy cái neo cột vào cái trụ để giữ chiếc tàu đó. Còn nếu trôi đi thì phải đi cho tới hướng mà mình muốn, chứ không phải là trôi theo gió đưa đi đâu thì đi.
Phải thức tinh, mà đây Sư đem ra giảng hết cho mấy cô. Mấy cô không nhìn ra bây giờ Sư nhắc và mấy cô phải nhận ra, phải nghiệm ra, chứ không thể mấy cô không nghiệm ra được.
Sư vẽ 2 cái móc; cái móc cuối của con đường mình đi là Tử Thần Ma. Từ khi người cha người mẹ sinh đứa bé ra, nó đi tới, nó đi đâu kệ nó, làm ông cống, ông nghè, hay vô gia cư, vô nhà cửa gì đó thì nó cũng đối diện với Tử Thần Ma. Mình cũng vậy thôi, không có một người nào khác hơn, không có người nào ra khỏi.
Người đắc Vô Sinh thì ra khỏi. Nó có cái giá của nó. Một là 7 ngày vô dư y Niết-bàn. Hai hữu dư y Niết-bàn là phải xuất gia. Cái đó là cái death end.
Khi người ta nguyện vô dư y Niết-bàn với cái người mà hạnh nguyện Độc Giác Phật là tự tu tự giải thoát, không nghĩ tới chúng sinh.
Còn người hữu dư y Niết-bàn, họ vô sinh rồi, họ hữu dư y Niết-bàn, không còn sống với cái nghiệp còn dư xót để mà họ còn sống, họ còn nghĩ tới chúng sinh, ít nhất là thân bằng quyến thuộc của họ, họ còn độ được. Điển hình, ngài Xá-Lợi-Phất, Ngài vô dư y Niết-bàn, Ngài độ được người mẹ, chứ Ngài không sống ích kỷ. Bậc Alahan không ích kỷ.
Pháp ích kỷ, bỏn xẻn, tật đố, issā macchariya thuộc bọn sân phần. Mình bất toại nguyện, cái gốc của sân là paṭigha bất toại nguyện, mình không mở rộng cửa, không mở lòng, sống trong trạng thái bất toại nguyện, không hoan hỉ, lúc đó là issā macchariya. Mình phải coi lại.
Issā macchariya tật đố, ích kỷ, bỏn xẻn đó là chỉ tới Bất Lai thôi, nó không tồn tại với Vô Sinh. Tới Bất Lai coi như là issā macchariya diệt hết, không còn dư sót, thì hành giả mới về được Ngũ Tịnh Cư Thiên, nếu hành giả không có sinh tử trở lại con người, hành giả phải về cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên. Còn nếu như hành giả tới Vô Sinh, để hưởng được pháp Vô Sinh này, và còn muốn độ thân bằng quyến thuộc của mình, người thân của mình với trải lòng rộng lượng của mình thì hành giả phải là người xuất gia, chứ hành giả không phải là người hẹp hòi tại thế được, hành giả không sống được trên thế gian này 7 ngày.
Thì bây giờ con đường đi của cô thì Sư biết cô đi về một là Bất Lai. Hai nữa là cô vô dư y Niết-bàn 7 ngày. Ba là Độc Giác, tự tu tự chứng giải thoát chứ không có độ ai.
Còn mấy cô không đi vậy, nếu mình không hợp đi con đường đó, thì mình đi sao? Mình phải có xác định con đường mình đi.
Thí dụ, bây giờ mình không biết, hay là mình không hiểu, hay là mình hoan hỉ với một người bạn của mình. uống rượu hay hút thuốc, nhưng tới khi sống chung nhau mình mới thấy được điều uống rượu hay hút thuốc không hợp với mình thì mình nguyện đời này đời sau không gặp những hiện tượng này nữa, thì cô mới có con đường đi, chứ không sống kệ với người uống rượu hay hút thuốc kệ họ, mấy cô phải có lập trường hay là nguyện, không phải là mình ngồi thấy suông.
Mấy cô phải cẩn thận khi mà đi theo cetanā này mà mấy cô không nhìn được cái cetanā (tác ý). của mình, cái cetanā (tác ý). này có chung và có riêng, có mỗi cá nhân, có một cái tập thể hay chỉ là một cái nói tổng quát có nội dung hết thì các quí cô chưa có vượt qua, chưa đi dạo trong khu vực này, Sư qua Sư đọc thì Sư gõ cửa mấy cô.
Tâm Đạo Magga-Citta.
Tâm Đạo làm 2 chức năng:
1. sát trừ phiền não, chứng đắc Niết-bàn.
2. Phala-Citta chỉ có hưởng cảnh Niết-bàn.
Thì khi mình đi tới con đường Chuyển Tộc Gotrabhū, bỏ phàm thành Thánh. Mình đang đi tới Thuận Tùng Anuloma, Cận Hành Upacāra, rồi tới Chuyển Tộc Gotrabhū, thì mấy cô thuận về pháp nào mà cô đi tới con đường Magga-Citta. Hành giả đang sát trừ phiền não hay đang hưởng cảnh Niết-bàn thấy trước mắt rồi, mấy cô phải có cái đó.
Thì khi cô nhìn thấy cảnh Niết-bàn có trước mắt, cô không nhìn các sát trừ phiền não ang hiện ra thì Sư nói rằng mấy cô đang bỏ dần cái kiết sử, không để ý đến kiết sử và chỉ nghĩ tới hưởng sự an vui tịnh tịch của tâm thức.
Thì một ngày mình sống nếu như là mình có thiện có bất thiện, có làm việc tốt, có làm việc xấu, mình chỉ nghĩ xấu thôi, nghĩ một cái hoài nghi, chiều tối mình trạn lại mình có phiền não liền, mình không có con đường Magga-Citta, cái đó là cetanā, mình đã gieo trồng nó lọc lại.
Con người mà cứ nghĩ tới diệt trừ phiền não, sát trừ phiền não, đoạn diệt phiền não, tinh tấn diệt trừ phiền não, thì họ đang sống trong phiền não để họ đoạn trừ.
Một ngày cô có phiền não đến hay có những ngày không có phiền não mà cô không có dịp làm việc thiện, mình có biết không? Hay là mỗi ngày mình ngồi mình coi phiền não tới để mình diệt, phiền não đang còn mình diệt, phiền não đã diệt rồi. Trong bài kinh Phát Thú, thường cận y duyên. Bậc Thánh quán lại thấy việc thiện ta đã làm, quán lại việc bất thiện ta đã đoạn.
Bây giờ mình nói trở lại. Như vậy cô đang tu tập sát trừ phiền não, hay là đang tu tập để mà chứng đắc Niết-bàn.
Dẫn chứng: Chứng đắc Niết-bàn nó có vô thường, khổ đau, vô ngã. Các pháp đang sinh lên thấy cái tướng vô thường, khổ đau, vô ngã, mình không có trạo hối, phóng dật, thì lúc đó mình không có sát trừ phiền não, mình đang hưởng Niết-bàn.
Hít hơi thở vô, mình ngồi thiền, mình đang đi thiền hành, hít thở vô, mình thấy hơi thở mất, và nó phải có hơi thở mất, hơi thở có, hơi thở mất.
Ông Descartes, một nhà triết học người Pháp và cũng là nhà toán học nói: "Quand Je pense, donc je suis" "khi nào tôi suy nghĩ là tôi có (hiện hữu)". Khi mà tôi suy nghĩ là tôi có, khi mà ông không pense (suy nghĩ) thì ông không có (hiện hữu).
Bây giờ mình nói ngược lại : "Quand Je ne pense pas, je ne suis pas = khi tôi không suy nghĩ, tôi không có hiện hữu"
Như vậy thì khi ông đang suy nghĩ với pháp mà vừa mất, thì ông có. Hay là ông không suy nghĩ, thấy pháp đó mất đó, ông không có. Thì ông đang ở trạng thái không có.
Còn mấy cô thì trạo hối lại, lúc nãy thấy mà giờ mất rồi. Thì cô đang đi tìm là cái phiền não để cô diệt, hay là cô đang tìm cái phiền não mà cô đang thấy, cô phải bắt vô chỗ không luôn, Mấy cô phải nghiệm được cái pháp này.
Cái người đi tìm cái phiền não là cái phiền não mình đang còn thì mình còn đang ở trong phiền não, đang trong canh chừng phiền não. Bắt buộc.
Bây giờ Sư hỏi, lúc này cô tu hành tinh tấn không?
Mấy cô trả lời: khó tu quá Sư. Thì mấy cô đang trong trạng thái đang tu.
Mấy cô lúc này tu hành có tinh tấn không?
Mấy cô trả lời: Khó tu lắm Sư. Thì mấy cô đang trong trạng thái đang tu.
Sư hỏi lúc này mấy cô tu hành tinh tấn không? Không tính được, không ra, không thấy được.
Thì mình thấy cái đó.
Tuần sau Sư hỏi: mấy cô lúc này tu hành tinh tấn không? Không thấy được.
Phải cẩn thận.
Nên người Thất Lai chỉ là tri kiến thôi, chứ không cần phải sửa đổi gì hết. Cái tri kiến sai thì mình sửa lại tri kiến đúng.
Tôi đang diệt phiền não hay tôi thấy rỗng không hết tất cả, không có gì cả. Cái đó có 2 vấn đề. Tôi đang diệt trừ phiền não, tôi không thấy tôi đang diệt trừ phiền não, tôi không thấy một bể khổ đau trong đó, tôi không thấy cái gì tôi đang diệt. Tất cả chung quanh chỉ là khổ đau thôi.
Tôi đang diệt trừ phiền não, tôi không thấy tôi đang diệt trừ phiền não, tôi thấy không có chi làm chủ được.
Tôi đang ở trong một rừng phiền não, tôi đang tu tập diệt trừ phiền não. Cứ việc diệt trừ.
Tri kiến thay đổi liền khi cô thấy phiền não cô đánh đông thì nó có tây, cô đánh bắc thì nó có nam, mặt nào nó cũng có, thì đó là rừng phiền não, cô thấy đó chỉ là một sự khổ đau, hay là cô thấy đó là trạng thái không ai làm chủ nó được, không có một đấng lãnh đạo, một cái gì tối thượng nào để mà biến đổi nó, thì người ta thấy thực tướng của nó thôi, và họ không có thay đổi.
Tri kiến mình thay đổi và mình không có cố chấp, hay là mình không giữ lại những cái gì mình nghĩ là của mình, vì mình thay đổi rồi.
Có người không chịu thay đổi, có bao nhiêu họ giữ hết.
Cái tri kiến của mình, tại sao mình không chịu sửa đổi. Thí dụ như hồi đó mình sống bên VN, mình quen với cách sống của mình ở VN nó thành thói quen. Mà qua bên Mỹ mình không thể sống theo thói quen đó được nữa, thì mình phải thay đổi tri kiến của mình.
Hồi trước mình chưa biết Phật Pháp thì mình sống theo bản ngã con người của mình. Nhưng mình đã thấm được Phật Pháp thì mình thay đổi tri kiến của mình.
Cái đó gọi là mình đã sửa đổi.
Sửa đổi thì gọi là tu.
Còn không thì không có thay đổi. Tri kiến mình không thay đổi. Mình phải thấy.
Vậy thì tri kiến đó là kiến thức, sự hiểu biết của mình, mình phải coi lại, mình có hay không có, có ít hay có nhiều, có đúng hay có sai, mình phải coi, mình phải kiểm tra.
Như vậy thì, khi mình tới với Phật Pháp, hay người nào đến với mình trao đổi nhau thì mình mới biết được là tri kiến của mình không có bằng người này. Hoặc tri kiến người này không đúng, mình mới tìm ra được.
Như Đức Phật Ngài toàn tri toàn giác Sabbaññutā, thì tri kiến con người đến bất cứ nơi nào; Phạm Thiên, Chư Thiên, hay nhân loại, Ngài đều biết hết. Tri kiến ở góc độ này góc độ kia, Ngài biết hết, tại vì Ngài có tri kiến, thì mấy cô cũng vậy, mấy cô phải ngồi suy ngẫm lại.
Như tuần vừa rồi Sư nói Pháp Xoi Gương, mình coi lại gương của mình, mình vẫn y như cũ thì mình phải biết mình đã xoi gương. Thì bữa nay mình phải hiểu tri kiến của mình có chưa hay là chưa có. Có rồi thì có ở mức độ nào. Mà mấy cô có tri kiến mình của trí tuệ balamat hay trí tuệ thiện thường thôi, mình phải biết.
Khi cô đi ra ngoài tiếp xúc, như trường hợp cô Tịnh Từ tiếp xúc nhiều, cô nói "lúc này thấy xã hội chán lắm, buồn lắm" thì cô phải có một cái cấp độ, có một sự hiểu biết, thì tại sao cô lại buồn, lại chán cho xả hội, chán cho cuộc đời, hay là mình nhìn thấy mình không có thích hợp với môi trường, hai cái đó mình phải tìm ra, chứ không thể nào minh nói suôn.
Thì cũng vậy thôi. Khi mình đi vô cửa này thì mấy cô thấy; mấy cô chỉ thích hợp Thất Lai thôi, mấy cô không có cửa đi tới 3 cửa kia đâu.
Như ông Cấp Cô Độc, cả một đời ông cúng dường nhưng không lên được, nhưng đứa con gái không có nguyện giống như người cha, đắc được Thất Lai, tức là Nhị Quả. Bà Vishakha cũng vậy, cả một cuộc đời cúng dường, là đại thí chủ, nhưng tại vì bà có hộ độ Tam Bảo, nên phước của bà tới Thất Lai thôi, là không rơi vào 4 đường ác đạo thôi. Họ làm việc hộ độ là họ làm việc toàn thiện, họ chỉ muốn là họ không làm cho ai khổ, thì phước của họ trở lại là họ không ở trong bốn đường khổ, tại họ hộ độ cho người ta không khổ, thì họ quả phước trở lại cho họ là họ không rớt vào bốn cõi khổ.
Mình tu hành là để giải thoát, còn trên con đường mình muốn độ ai mình độ, đủ duyên hay không đủ duyên. Mình lo tu hành để giải thoát, ngọn lửa cháy tôi, tôi dập tắt. Mũi tên bắn tôi, tôi nhổ ra liền. Thấy cuộc đời này là khổ là tôi giải thoát liền.
Đức Phật nói có 6 hạng người xuất gia, thì 5 hạng xuất gia đầu là Ngài chê trách:
1. Xuất gia vì bị phiền não chi phối (Upakilikā)
2. Xuất gia vì giận hờn, buồn phiền
3. Xuất gia vì đùa cợt, a dua.
4. Xuất gia vì nghèo đói, túng thiếu.
5. Xuất gia vì nợ nần.
6. Xuất gia vì thấy rõ lý tưởng giải thoát (hạng người chân chính)
Thì 5 hạng người xuất gia đầu Đức Phật Ngài chê trách. Người hạng thứ 6 tu là vì sợ luân hồi, sợ khổ, sợ sanh tử mà họ tu để giải thoát, hạng người này Đức Phật khen, là bậc tu hành giả. Còn mấy cái kia là tu để gieo duyên thôi.
Thì mấy cô nghĩ mình đây là hộ độ hay là mình tu hành?
Ông Cấp Cô Độc không tu, ông chỉ hộ độ Tam Bảo thôi. Khi người con gái nói "chị đi em ở lại", ông nổi sân liền, cái đó là bất toại ý, ông không tu, ông cúng dường Đức Phật và Chư Tăng, ông lập nguyện một ngày để bát 2 000 nhà Sư. Tới khi hết tài sản vị nữ thiên tử trong nhà khuyên ông không cúng dường nữa, và bị ông đuổi đi, ông chỉ lo hộ độ, tham sân ông vẫn còn, ông không sửa, mà Đức Phật Ngài cũng không sửa, tại vì con đường ông đi Ngài biết rồi, ông đi tới mức đó là hết rồi.
Bà Vishakha thấy người cha chồng không để bát cho ông Sư, bà nói ông Sư đi đi, cha chồng tôi ăn cơm nguội, bà đang sân, bà la lớn vì bà bất toại nguyện, bà không có tu bà chỉ hộ độ Tam Bảo thôi. Nhưng cái phước hộ độ đó để cho người ta được an vui thì bà không rớt xuống 4 đường ác đạo.
Những người nào mà nói "tôi không cần phải tu giải thoát, tôi ăn hiền ở lành là được rồi". Đó là họ hộ độ. Trong đời sống họ đâu có sống nghèo, khó khăn, để mà bỏ tham, bỏ sân, bỏ si, bỏ tà kiến, hoài nghi gì đâu. Cứ sống ăn ở hiền lành.
Thiền sinh hỏi: Nếu mà như vậy thì ariya phải trong thời Đức Phật mới có tất đoạn mạng, Ông tỳ khưu, một trong 30 vị tỳ khưu, ông bị con cọp ăn không ở trong thời Đức Phật, ông đắc tất đoạn mạng. Thì khi cô Tịnh Từ nói cô muốn Vô Dư Y Niết-bàn, tại vì có nhiều ràng buột cô không thể nào giải thoát được, thì cô muốn Vô Dư Y liền, đắc tất đoạn mạng xong rồi không muốn dây dưa, còn phải ở trong đời này nữa. Thì cô sẽ có một con đường đi Vô Dư Y Niết-bàn, mà không biết loại nào trong tam tướng nó sẽ đến với cô. Ông Bahiya với ông Tỳ Khưu với tam tướng khổ đau, ông Bahiya bị bò hút, ông Tỳ Khưu bị cọp ăn, là đón nhận khổ đau, chứ không phải vô ngã hay vô thường. Ông đi từ Khổ Đế, đang bị tấn công, ông quán Tập Đế để đi tới Niết-bàn là Diệt Đế trong cái tích tắc đó, không có thời gian.
Khi mấy cô nói theo kiểu Hữu Dư Y hay Vô Dư Y là mấy cô có chủng tử, và Chư Thiên hộ trì chánh pháp họ sẽ ghi nhận, và họ sẽ bắt đầu lọc cho cô. Tại vì các Chư Thiên họ có cái nguyện, họ hộ trì những ai với những tâm nguyện chân chánh, họ sẽ hộ trì cho người đó, họ đưa tới rất là lạ lùng, từ khi mấy cô nói như vậy. Bắt đầu mấy cô ngồi nguyện đi, những cái pháp nó tới được lọc./.
---------------------------------------
Note :
Bahiya chứng A-la-hán và nhập Vô dư y Niết-bàn ngay sau khi nghe Đức Phật giảng pháp ngắn gọn. Do bị bò rừng húc tử vong ngay sau đó, tiến trình của ngài được gọi là "tất đoạn mạng" (chấm dứt mạng sống), thân tứ đại tan rã và hoàn toàn giải thoát.
-------------------------------------------
Đức Phật nói có 6 hạng người xuất gia::
1. Xuất gia vì bị phiền não chi phối (Upakilikā): Người cạo đầy, đắp y tu tập nhưng tâm trí vẫn còn bị nhiễm ô, vướng mắc vào các dục vọng và thú vui thế tục.
2. Xuất gia vì giận hờn, buồn phiền: Đi tu không phải vì lý tưởng giải thoát mà do trốn tránh những cú sốc, mâu thuẫn hay sự bất mãn trong cuộc sống.
3. Xuất gia vì đùa cợt, a dua: Vào chùa chỉ để the phong trào hoặc xem tu hành như một trò chơi, thiếu đi tư các và chánh niệm.
4. Xuất gia vì nghèo đói, túng thiếu: Xem cửa chùa là nơi nương tựa để giải quyết vấn đề cơm áo gạo tiên, sinh kế hàng ngày.
5. Xuất gia vì nợ nần: Tìm đến chồn thiền môn để trốn tránh những món nợ vật chất hoặc trách nhiệm lớn ngoài đời
6. Xuất gia vì thấy rõ lý tưởng giải thoát (hạng người chân chính): Đây là hạng người duy nhất xuất gia đúng nghĩa, được Đức Phật khuyến khích. Họ nhận thức rõ bản thân không còn phù hợp với đời sống thế tục và quyết tâm từ bỏ để tu tập, chấm dứt luân hồi.
-----------------------------------------
Gương Pháp, tiếng Hán gọi là Pháp kính (法 鏡), tiếng Pali là Dhammādāsa, nghĩa là tấm gương Pháp, tấm gương soi rọi sự thật. Chỉ cần nhìn vào tấm gương này nếu thấy mình có trong đó, thấy mình được phản chiếu trong đó thì biết một cách chắc chắn rằng ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh sẽ không có mặt mình. Ngược lại, nếu nhìn vào tấm gương này mà không thấy có mình, mình không được phản chiếu trong đó thì biết một cách chắc chắn rằng mình sẽ đọa lạc một trong ba đường ác.
Gương Pháp đó là, Thánh đệ tử đạt được niềm tin bất hoại:
1- Hoan hỷ tin Phật là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu.
2- Hoan hỷ tin Pháp là giáo pháp chân chánh vi diệu, do Phật tuyên thuyết, vượt thoát thời gian, chỉ bày đường đến Niết-bàn, được người trí thực hành theo.
3- Hoan hỷ tin Tăng là đoàn thể những người khéo sống hòa đồng, hành động chất trực, không hề dối trá, đạo quả thành tựu, trên dưới hòa thuận, đầy đủ pháp thân, hướng Tu-đà-hoàn, đắc quả Tu-đà-hoàn, hướng Tư-đà-hàm, đắc quả Tư-đà-hàm, hướng A-na-hàm, đắc quả A-na-hàm, hướng A-la-hán, đắc quả A-la-hán, đó là bốn đôi tám bậc, chính là chúng Hiền Thánh của Như Lai, rất đáng để cung kính, là ruộng phước thế gian.
4- Hoan hỷ tin Giới của hiền Thánh là thanh tịnh không nhiễm, không có khiếm khuyết, bậc minh triết hành theo, đắc định Tam-muội.
Gương pháp là Tứ bất hoại tín, là Bốn niềm tin không bao giờ thay đổi, không bao giờ hư hoại, hay không bị thối chuyển đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới.
Bốn niềm tin này như một tấm gương, và người Phật tử sau khi quy y Tam bảo, phát nguyện giữ gìn Năm giới, được bổn sư trao cho tấm phái quy y, hay giấy chứng nhận quy y, chính là trao cho chúng ta một tấm gương, hằng ngày chúng ta tự soi mình vào đó, để xem với bốn pháp mình đã quy y mình có giữ gìn trọn vẹn không? Nếu được trọn vẹn, được thanh tịnh, được không lay chuyển tức là mình đã đạt được niềm tin bất hoại, ngay đó mình tự biết ba đường ác không còn có mặt mình, tức là được dự vào dòng Thánh, chứng quả Dự lưu.
https://giacngo.vn/guong-phap-post66672.html
----------------------------------
Adhiṭṭhāna là một trong Mười pháp Pāramī (Ba-la-mật):
Adhiṭṭhāna: là lập nguyện, là quyết định chắc chắn: Là sự kiên định, không thay đổi, trong việc tu tập và theo đuổi mục tiêu giác ngộ .
Vai trò trong tu tập
Hỗ trợ các pháp Ba-la-mật khác: Quyết định giúp duy trì và phát triển các đức tính như Trì giới, Trí tuệ, Tinh tấn, Nhẫn nại, Chân thật… .
Tăng sức mạnh tâm linh: Giúp tâm không bị rung động bởi ngoại cảnh, giữ vững định hướng và hành động đúng pháp.
Thể hiện tinh thần Bồ Tát: Như Bồ Tát Cồ Đàm đã quyết định từ bỏ ngai vàng và cuộc sống vương giả để tìm giác ngộ hoàn toàn .
Mười pháp Pāramī (Ba-la-mật):
Bố thí (Dàna)
Trì giới (Sìla)
Xuất gia (Nekkhamma)
Trí tuệ (Pannà)
Tinh tấn (Viriya)
Nhẫn nại (Khanti)
Chân thật (Sacca)
Quyết định (Adhiṭṭhāna)
Tâm từ (Mettà)
Tâm xả (Upekkhà) .
Tóm lại, Adhiṭṭhāna là đức tính kiên định, vững vàng trong tâm, là chìa khóa giúp người tu vượt qua mọi khó khăn và tiến gần hơn đến giác ngộ.
------------------------------
Ngũ Tịnh Cư Thiên là: Một trong những cõi trời theo trong Phật Giáo. Tên 5 cõi trời thuộc Đệ Tứ Thiền. Đó là
1. Vô Phiền
2. Vô Nhiệt,
3. Thiện Kiến
4. Thiện Hiện
5. Sắc Cứu Cánh.
Các bậc Thánh đã chứng quả vị Bất Lai được sinh ở cõi trời này
------------------------------------
Thất Lai: Bậc Sơ quả hay Tu-Đà-Hườn (Nhập Lưu). Chỉ sanh vào cõi người hoặc cõi trời, và luân hồi nhiều nhất là 7 kiếp.
Nhất Lai: Bậc Nhị Quả hay Tư-Đà-Hàm (Nhất Lai) chỉ còn trở lại thế gian này một kiếp.
Bất Lai là gì? A-Na-Hàm sẽ tái sanh lên cõi trên và không trở lại cõi người nữa. còn được gọi là Bất Lai .
Vô Sinh là gì? là Arahant, là bậc Vô Sinh, là không sanh không diệt. Cho nên đắc Niết-bàn có nghĩa là đắc Vô Sinh
-------------------------------------
Mỗi một vấn đề có 7 giai đoạn của Phát Thú Paṭṭhāṇa:
1) Paticcavàra – Giai đoạn Liên Quan
2) Sahajàtavàra – Giai đoạn Câu Sanh,
3) Paccayavàra – Giai đoạn Duyên Sinh,
4) Nissayavàra – Giai đoạn Y Chỉ,
5) Sansatthavàra – Giai đoạn Tương Tạp, hay là hỗn hòa,
6) Sampayuttavàra – Giai đoạn Tương Ưng,
7) Panhàvàra – Giai đoạn Vấn Đề.
----------------------------
Năm thứ ma - Ngũ Ác Ma (Māra), sự phá hoại, sự đem lại bất hạnh, sự xấu xa:
1. Phiền não ma (Kilesamāra). Phiền não phá hoại thiện pháp và làm cho chúng sanh bị bất hạnh luân hồi nên gọi là ma.
2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). Ngũ uẩn có thực tính đổi thay biến hoại, luôn là tính chất khổ đau, đem lại sự suy sụp, nên gọi là ma.
3. Hành vi ma (Abhisaṅkhāramāra). Nghiệp thiện ác tạo ra quả luân hồi, kết buộc vào vòng sanh tử khổ đau triền miên, nên gọi là ma.
4. Thiên tử ma (Devaputtamāra). Hạng thiên thần nhiều uy lực trong cõi trời dục giới nhưng có tính đố kỵ, hay quấy phá người tu tập hiền thiện, cản trở sự tu tiến của người tu hành, nên gọi là ma.
5. Tử thần ma (Maccumāra). Sự chết luôn cướp đoạt mạng sống và tạo nên nỗi ám ảnh sợ hãi cho chúng sanh, nên gọi là ma.
No comments:
Post a Comment