Saturday, November 13, 2021

Vi Diệu Pháp 12 - Hai Tâm Sân - TT Sán Nhiên

 Hai Tâm Sân - Vi Diệu Pháp 12 - TT Sán Nhiên

Minh Hạnh đã được nghe để học và, xin ghi chép lại theo sự hiểu của chính mình từ video "Vi Diệu Pháp 12" do TT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức. Và xin thành kính cảm tạ ơn TT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

TT Sán Nhiên: Hôm này chúng ta học hai tâm sân gồm:

1) Tâm sân câu hành ưu tương-ưng Khuể-phẫn vô-dẫn.

2) Tâm sân câu hành ưu tương-ưng Khuể-phẫn hữu-dẫn

Tâm sân câu hành ưu tương-ưng Khuể-phẫn vô-dẫn

1) Thứ nhất, Tâm Sân Câu Hành Ưu Tương-Ưng Khuể-Phẫn Vô-Dẫn, có ba phần chúng ta thường nhìn tới tâm. 

Kỳ trước chúng ta học 8 tâm tham, có câu hành hỉ hay là câu hành xả tương ưng kiến hay bất tương ưng kiến vô dẫn và hữu dẫn. 

Ở đây chúng ta sẽ qua phần câu hành ưu khác với câu hành hỉ, câu hành xả. 

Câu hành ưu là, với tâm sân không bao giờ ta vui được, và với tâm sân thì không bao giờ chúng ta có trạng thái thản nhiên được, luôn luôn có trạng thái không có vui vẻ, mà buồn phiền hay là không hài lòng, do đó gọi là ưu thọ, đây là một loại ưu thọ. 

 Phẫn Nộ là tiếng Nho tiếng Hán, và Ngài Tịnh Sự dịch là Khuể.

Pali là paṭigha có nhiều nghĩa: Khuể, phẫn, ghét bỏ, căm ghét, hay một tánh chất bất toại nguyện, không hài lòng, không vừa ý, bất mãn, không thích hợp nên được gọi là paṭigha.

 Những người có tánh khó chịu, tâm trạng đó là bất toại nguyện, thí dụ như không ưa những thời tiết thay đổi, đó là của thiên nhiên nhưng con người tánh khó chịu do đó không hài lòng sự thay đổi của thời tiết, những người dó thuộc về paṭigha.

Bất toại nguyện, là những người khi tiếp xúc ta thấy họ lúc nào cũng khó khăn, cau có xét nét, sửa lưng người ta, những trường hợp đó gọi là paṭigha.

Chữ vô dẫn và hữu dẫn là có sự trợ giúp của ta hay của người. Vô dẫn hay hữu dẫn có 3 loại là; thân, lời, và ý của ta hay của người, trong 8 tâm tham mà ta học rồi, với hữu dẫn có khi là thân ta trợ giúp ta. 

Cũng như vậy, ở đây chúng ta sẽ thấy thân ta trợ giúp ta sanh lên tâm sân. Thí dụ, qúi Phật tử nằm lâu trên giường trạng thái người làm biếng hay mệt mỏi uể oải và không siêng năng nằm lâu cũng khó chịu cau có bực bội. Mình  tự nằm không ai bắt mình nằm, nhưng nằm một hồi cũng cau có khó chịu, đó là sân hữu dẫn của mình, chứ không phải ai làm, không ai bắt mình hết, mà mình nằm một hồi cũng cau có khó chịu. Hay là qúi Phật tử thấy khi tập thể dục cho mình khỏe nhưng tập một hồi thân mình mệt cũng bực mình, đó là thân của ta chứ không phải của người.

Người ta đánh mình, người ta hành hạ mình, lúc đó là từ người làm ta sân. 

Lời cũng vậy, một cô ca sĩ hát hay nhưng rồi một buổi sáng cô thử giọng hát thấy giọng mình khàn thì cô bực mình, thì đó là lời của họ, âm thanh của họ làm họ sân lên.

Ý của ta, chẳng hạn như qúi Phật tử nghĩ cái gì mà nghĩ không ra, mình ngồi muốn nhớ lại chuyện đời xưa cũ mà nhớ mãi không ra, hay là qúi Phật tử nhớ người nào đó mượn tiền qúi Phật tử mà ngồi lâu nhớ mãi không ra tên người đó thì tâm mình nổi sân lên, đó là ý của ta làm cho ta sân, chứ không phải ý của người.

Đó là thân, lời, ý của ta sân. 

 Có câu chuyện cô gái bán sữa trong ngụ ngôn của  La Fontaine, cô gái đeo bình sữa, cô vừa đi vừa nhẩm tính số tiền bán sữa và định dùng tiền ấy mua một trăm quả trứng, đem về ấp gà con, rồi đem bán số gà bán đi để mua một con lợn. Nuôi béo lợn bán đi lấy tiền mua một con bò, rồi con bò đẻ ra bò con mình bán mua được nông trại. Nghĩ đến đó, cô vui quá, cô nhảy nhót  đụng vào tảng đá, làm bình sữa rớt xuống đất vỡ tan tành. Nào gà, nào lợn, nào bò, nào bê trong phút chốc biến đâu mất hết.

 Câu chuyện là ý mình làm cho mình tham. 

Thì, ở đây tâm sân thứ nhất là: Tâm Sân Câu Hành Ưu Tương Ưng Khuể-Phẫn Bất Toại Nguyện và Vô Dẫn.

Tâm sân thứ hai là: Tâm Sân Câu Hành Ưu Tương Ưng Khuể-phẫn Bất Toại Nguyện và Hữu Dẫn là của ta của người, đó là hai tâm sân.

Hai tâm sân này thường xảy ra nơi con người của chúng ta, còn là người phàm còn có tâm sân.

Tâm Sân tiếng Pali là Dosa, 

Ngữ căn là "Du" nghĩa là hủy diệt, tàn phá đối tượng, chữ "Du" này tính chất của nó là hủy diệt đối tượng, tàn phá đối tượng, sát hại đối tượng, không muốn đối tượng tồn tại trước mắt mình.

Sân là hủy diệt tàn phá đối tượng, không muốn giữ đối tượng. Khi tâm sân qúi Phật tử khởi lên, chắc chắn trong tâm đó qúi Phật tử đã có đối tượng ở trong tâm có cái gì đó qúi Phật tử muốn tàn phá muốn hủy diệt, muốn xua đuổi nó đi chứ không muốn giữ trong tâm, thì lúc đó sân đang hiện bày, bất cứ loại đối tượng nào trong tâm thức qúi Phật tử. 

Một người sợ ma, người đó khởi tâm sân, tại vì bất toại nguyện với con ma, không thích nhìn thấy ma, nói tới ma là sợ ma nhát mình hù mình làm mình sợ thì lúc đó là tâm sân. Tâm sân là tâm bất thiện, ma quái thí dụ như vậy luôn luôn nó đến với bất thiện, bất thiện gặp bất thiện, mình càng sợ nó càng hù nhát mình, đừng sợ nó mà chào nó và hỏi nó muốn gì mình giúp đỡ cho nó, nó hoan hỉ trình bày thì mình giúp nó, thì mình không sợ nó.

Vậy thì, với những người có tâm sân là những người có tâm nhìn đối tượng nào cũng không có hài lòng, bất toại nguyện. Ngay cả qúi Phật tử khóc rơi nước mắt xuống mặt mình đó là trạng thái không vừa lòng là tâm sân, họ khóc người thân chết đó là trạng thái họ không muốn người đó chết, đó là bất toại nguyện. Người mẹ người cha của mình mất là mình đang bất toại nguyện, không muốn xa người mẹ người cha, trong lúc đó người mẹ người cha cần mình phải có tâm thiện để cầu nguyện tiễn đưa hương linh đi an lành mà lúc đó qúi Phật tử khóc thì không có phần phước nào để cho người mẹ người cha qúi Phật tử ra đi an lạc được.

 Người chết cần có tư lương vốn liếng, nhưng đối với người không học hiểu về tâm Đức Phật Ngài dạy thì lúc đó ngồi khóc không đọc kinh cầu nguyện hay là mình ngồi thiền tập trung năng lực hồi hướng chia phước cho người quá vãng đi đến cảnh giới an lành, mà chỉ có tâm bất thiện khóc, thì lúc đó tội nghiệp cho người quá vãng, mình nói mình thương nhưng mình không cho cái gì đem theo cứ ngồi khóc miết.

 Nhiều lần Phật tử mời Sư tới đám tang tụng kinh cho người quá vãng thấy họ khóc, Sư nói với qúi Phật tử là không nên khóc, ở đây cùng với Sư với Chư Tăng tụng kinh cho người quá vãng, qúi Phật tử mà ngồi khóc như vậy là tâm bất thiện tâm đang buồn phiền mà qúi Phật tử đâu có muốn có tâm bất thiện trong lúc này cần tâm thiện để tìm phước báu để hồi hướng cho họ đi mà qúi Phật tử ngồi đây khóc, bây giờ Sư có cách là đừng khóc nữa Sư đọc kinh cho họ sống dậy chịu không? Thì không có người nào chịu để Sư đọc kinh cho người chết sống dậy, mà Sư có đọc được đâu. 

Do đó qúi Phật tử thấy rõ trước cảnh đó đa phần là vậy, mình không có phải, có nhiều người họ nói với Sư là khóc để tỏ lòng thương mến, khóc để mình nói lên lòng xúc động mình yêu thương người ta chứ còn mình ngồi yên thì giống như mình ghét người đó. Thật sự khóc không làm được cái gì, trong khi lúc đó tâm mình không có tỉnh táo để mình làm việc năng lực phước báu việc thiện mình làm cho họ một cách thiết thực hơn, thì điều đó mình phải suy nghĩ lại cho chính xác đúng đường.

Bậc A-na-hàm là tâm quả bậc bất lai diệt trừ tham và sân, không còn tham vi tế, không còn sân vi tế. 

Lên tới bậc A-la-hán là bậc vô sinh thì không có tham và sân. Do đó những bài kinh nào mà nói về Đức Phật Ngài đứng khóc tại một đống xương thì đó là một sự kinh ngạc đối với những người học hiểu biết về tâm Abhidhamma. Đức Phật Ngài đứng khóc tại một đống xương khô, Ngài qúi xuống Ngài lạy đây là cha là mẹ ta bỏ xương tại đây, đó là họ không hiểu về vấn đề tâm của chúng sanh. Đức Phật không thể nào khóc, Đức Phật đã dạy cho chúng ta tâm sân là tâm bất thiện với hình thức của hiện tượng khóc đó là hiện bày của tâm sân bất thiện, thì không thể nào Đức Phật khóc được với cảnh tượng nào hết, Đức Phật Ngài chỉ nhìn với trí tuệ để Ngài làm việc chứ không phải Ngài hiện bày với cảm xúc phàm phu để nói lên cảnh phải khóc lóc qúi lạy. Sau khi Đức Phật thành đạo quả ngồi dưới cội cây Ngài quán xét hết tất cả nơi nào để Ngài tôn kính thì Ngài nói chỉ có Pháp Bảo là Ngài tôn kính, chính Pháp Bảo làm cho Ngài đắc đạo quả, ngoài ra trong Tam Giới này không có một nhân vật nào để Ngài tôn kính và đảnh lễ nữa.

Do đó thì qúi Phật tử sẽ thấy Đức Phật Ngài đưa Pháp Bảo lên hàng hai, Chư Tăng là Tăng Bảo đứng hàng thứ ba, Chư Tăng còn phải nương vào Pháp Bảo để tu tập và hành đạo để có kết quả thành đạo và giải thoát. Do đó Tăng Bảo phải nương vào Pháp Bảo để có kết quả thành tựu bậc Thánh nhân.

 Nói đến tâm sân này là bậc A-na-hàm đã cắt đứt không còn hiện bày trạng thái khóc lóc than thở hay bất toại nguyện sân hận dù là vi tế.

 Có những người là nhị quả thất lai hay nhất lai, sơ quả và nhị quả thì có những lúc còn tham, có những lúc còn sân, nhưng đối với những vị bậc nhất lai là bậc Tư-đà-hàm thì những vị đó còn sân nhưng sân vi tế, họ chỉ cau mày một chút xíu, họ chỉ nhăn mặt một chút xíu thôi, họ cảm thấy một cái gì khó chịu một thoáng qua thôi chứ không giận dữ đỏ mặt lên với trạng thái của bậc thất lai là Tư-đà-hườn là bậc sơ đạo sơ quả. Những vị đó thanh lọc tâm của họ, khi họ thấy tâm sân khởi lên một chút xíu một cái gì bất toại nguyện, chẳng hạn như đang ngồi thiền bị muỗi đốt và họ cảm thấy ngứa khó chịu, họ nhìn tâm họ chứ không nhìn cái ngứa nơi da của họ đang cảm xúc, nhìn tâm thấy tâm đang khó chịu bất toại nguyện và đang khởi lên một cái gì vi tế của tâm sân chứ không phải nhìn vô ngứa để trong đó họ nghĩ tới sự oan trái với con muỗi chích làm họ bị ngứa.

 Đối với người không tu hay người tu không khéo huấn luyện tâm thì khi bị muỗi cắn ngứa thì nói "khổ ghê, ngồi nơi đây bực mình, chỗ này muỗi nhiều quá, muỗi oan trái với mình tu không được", họ nhìn cái chỗ muỗi đốt, tâm của họ đang bị cuốn theo cái đối tượng muỗi đối lôi cuốn họ tâm không chế ngự được hay tu tập được.

 Những người đang tu phải biết huấn luyện tâm họ, những bậc  Thánh nhân cao hơn nữa thì tâm họ thanh tịnh. 

Hôm nay qúi Phật tử sẽ học tới phần Thất Tịnh là Bẩy Thanh Tịnh Tâm, Citta visuddhi, thanh lọc tâm, xoá hết tất cả những cái gì bất thiện tham sân si để được an vui, đó là để tiến tu, tâm thanh tịnh.

Thất tịnh, bẩy thanh tịnh tâm gồm:

1. Thanh lọc giới đức (Giới tịnh).

2. Thanh lọc tâm (Tâm tịnh).

3. Thanh lọc quan kiến (Kiến tịnh).

4. Thanh lọc bằng cách khắc phục hoài nghi (Ðoạn nghi tịnh).

5. Thanh lọc bằng cách thấu hiểu và nhận thấy thế nào là Con Ðường, thế nào không phải là Con Ðường (Ðạo Phi-đạo tri kiến tịnh).

6. Thanh lọc bằng cách thấu hiểu và nhận thấy Con Ðường (Ðạo tri kiến tịnh).

7. Thanh lọc bằng cách thấu hiểu và nhận thấy (Tri kiến tịnh).

Như vậy, trong phần Tâm Thanh Tịnh là phải thanh lọc tâm tham sân si bất thiện, giống như nước người ta lọc cho tinh khiết, lúc đó tâm mới bắt đầu tiến tới độ cao qúi hơn.

Do đó, ở đây chúng ta học tâm sân, có hai loại tâm. Tâm thứ nhất là tâm câu hành ưu thọ, nói tới tâm ưu thọ là trạng thái buồn phiền, hay là trạng thái khó chịu, hay là trạng thái khóc than, những trạng thái đó là trạng thái ưu thọ, song song với cái gì bất toại nguyện, như vậy thì hai cái này kết hợp với nhau dùng chữ tương ưng là hoà trộn như nước với sữa, nước sôi bỏ sữa đặc vô khuấy lên hoà trộn thành một khối không phân biệt thành hai.

Như vậy, Câu Hành Ưu Thọ từ nơi tâm chúng ta vốn có mà tương ưng khuể phẫn bất toại nguyện với đối tượng bên ngoài ta đem vào. Câu Hành Ưu Thọ với tâm ta hiện có thường do thói quen và tương ưng khuể phẫn là với đối tượng bên ngoài ta đem vào, khi ta thấy đối tượng bên ngoài bất toại nguyện ta đem tâm đó kết hợp với ưu thọ của mình hiện bày tâm sân gọi là tương ưng.

Tương ưng thường thường là phải có hai khối hai bên kết hợp nhau mới được.

Khi đến với những trường hợp này tâm qúi Phật tử khởi sanh lên nhìn thấy rõ bản chất tâm thức mình liền, vậy thì lúc đó ta nhìn vô ta sẽ thấy; một là tâm ta có sân sẵn, hai là đối tượng làm tâm ta khởi sanh sân. Hai trường hợp đó chúng ta một là có sẵn, hai là đối tượng làm tác động tâm ta khởi tâm sân. 

- "Hai cái đó qúi Phật tử thấy cái nào?" 

Và Phật tử trả lời "thấy đối tượng". 

Ông La Fontaine nói con người ta có hai cái giỏ, giỏ đằng trước và giỏ đằng sau, giỏ đằng trước chứa những thứ của con người, giò đằng sau chứa những thứ của mình, mà người ta luôn nhìn đằng trước không bao giờ nhìn đằng sau, do đó, nếu qúi Phật tử thấy đối tượng làm cho tâm ta sân, nhưng khi  nhắm mắt lại ta vẫn còn sân.

Qúi Phật tử ngồi thiền nhắm mắt không thấy gì hết, rồi cảm thấy ngứa như con muỗi cắn ngứa thì tâm sân nổi lên nhưng thật ra không phải, không có con muỗi nào hết, không có con kiến nào hết, mà mình ngứa nó là một tâm thức làm cho mình một đối tượng của tâm thức, làm cho mình dính trong đó thôi chứ không có cái gì làm cho ta ngứa hết, nó lôi tâm mình lên, đó là nghiệp, mà mình không thấy thì mình lại nghĩ đó là một chúng sanh đang oan trái với mình, đang ngồi tu mà bị muỗi cắn kiến bò đổ thừa thiền đường này dơ nên có kiến, đổ thừa cửa không đóng nên muỗi vào.

Sư muốn nói là qúi Phật tử luôn luôn đưa tâm mình nhìn đối tượng mà không nhìn tâm mình đang sanh diệt với cái tâm thọ mình đang có mà mình nuôi dưỡng mấy lâu nay, cái người khó chịu thì dù cho không có đối tượng cũng khó chịu, không có đối tượng thì con người khó chịu vẫn khó chịu. 

Do đó, yếu tố sanh ra tâm sân, tánh sân thường quen. 

Yếu tố nhân sanh sân:

- Yếu tố đầu tiên là tánh thường quen sân, là người tánh khó chịu, tánh này khó chữa

- Gặp cảnh bất toại nguyện, gặp cảnh xấu.

- Thiếu sự tế nhị.

- Ở môi trường không thích hợp (người hay vật)

- Thiếu lập trường chân chánh thì hiển bày sân, nếu mình có lập trường chân chánh thì tâm mình không hiển bày tánh sân.

Thì những yếu tố hay những nhân sanh ra tâm sân này, hay có thể nói là nghiệp quá khứ đã tạo ra ta có tâm sân. Có những đứa bé sanh ra đời nó an vui nhẹ nhàng không làm phiền ba mẹ, không khóc, lúc nào cũng cười vui, có những đứa bé vừa sanh ra đời đã khóc từ khi lọt lòng cho tới khi lớn,  đó là cái nghiệp đến với nó như vậy, đó là sự oan trái giữa nó và ba mẹ của nó, thành ra nó làm khổ ba má nó. Tánh thường quen sân là đã có trong những kiếp quá khứ.

Gặp cảnh xấu, cảnh nội cảnh ngoại cũng là xấu, chưa nói tới môi trường ở, môi trường mình ở rất quan trọng, chẳng hạn mình ở nơi có thời tiết xấu cũng sanh ra tâm sân, mình ở gần người xấu bị nhiễm tánh xấu của họ cũng sanh ra sân, hoặc ở nơi không thích không hợp cũng có tâm sân. Người khó ngủ họ đòi hỏi những điều kiện mà họ thích hợp họ mới ngủ được, vô trường hợp họ không được như ý họ sân liền, cái giường không êm, giường để nơi không thích hợp, với tánh khó chịu là họ khởi sân liền. Với những người dễ thì ở đâu cũng được nhưng với những người khó chịu gặp bất ý nghịch lòng còn khó chịu nữa, nên người ta gọi là môi trường không thích hợp, có những chỗ gặp môi trường không thích hợp ngủ không được. Tâm mình khó huấn luyện. Ngày xưa Đức Phật Ngài ở cung vàng điện ngọc chăn êm nệm ấm ở toà lâu đài, cắt ái đi xuất gia vào rừng ở 6 năm không ở trong điều kiện của con người bình thường chứ đừng nói con người vương giả nữa.

Đó là những yếu tố làm cho tâm mình sân. 

- Đối với sự thiếu tế nhị, 

Là mình phải nhẹ nhàng, mình phải buông xả, mình không cột trói. Sự thiếu tế nhị này, cái hình ảnh của người Việt Nam là mẹ chồng nàng dâu, cảnh đó là thiếu sự tế nhị, cảnh đó khó lắm, hay là học trò với người giám thị, đó là trạng thái thiếu sự tế nhị với nhau thôi.

Hồi Sư học ở trường trung học, dạo đó có mắt kiếng đổi màu, ở ngoài sân thì kiếng màu nâu sậm, vô trong lớp thì kiếng đổi qua màu trắng, ba của Sư thấy mắt Sư lên độ nhanh quá, ba Sư mua mắt kiếng đổi màu cho con đỡ hư mắt, ba Sư xuống đường Catinal mua mắt kiếng đó cho Sư, mắt kiếng đó mắc tiền lắm, hồi đó vào năm 1969 - 1970  thì nó có hai loại, độ mạnh và độ nhẹ, độ mạnh thì xuống màu đậm, độ nhẹ thì màu nâu sáng vô trong thì nó xuống màu trắng liền, ba Sư mua độ mạnh, thì khi Sư vừa bước vô lớp mắt kiếng Sư mang còn màu nâu chưa đổi qua màu trắng, ông tổng giám thị đi ngang thấy, ông lại tát Sư một bạt tai nổ đom đóm liền, lúc đó Sư học lớp 9, ông nói: 

- "Vô lễ, vô lớp mà còn mang kính mát". 

Sư không còn biết trời trăng mây nước gì hết, Sư đứng một hồi rồi mở mắt ra nói:

-  "Thưa thầy, cái này mắt kiếng đổi màu, ba con mua để con giữ mắt không bị lên độ." 

Tại ông thầy không biết có loại kiếng đổi màu. Ông nói "không cãi", rồi lôi Sư lên văn phòng làm kiểm điểm, cái ngày hôm sau ba Sư vô đem giấy tờ bác sĩ ra nói mắt kiếng này là loại gì.

Cái đó là vị thầy đó không có sự tế nhị, không có đứa học trò nào vô lễ hết mà là vì chưa hiểu người học trò đeo mắt kiếng đó với lý do gì, mình lại hỏi đầu đuôi ngõ nguồn rồi nghe giải thích rồi mình thông cảm, chứ sao lại vừa thấy là tát tai người học trò liền. Người mẹ cũng vậy, đi làm về mà thấy thức ăn để trên bàn mà mất đi một phần tát con la con, như vậy là không đúng, phải tìm hiểu lý do gì mà mất đi một phần, hỏi han lý do trao đổi để tìm lý do hợp lý, cái đó là sự tế nhị, chứ không ỷ lớn la người nhỏ, ỷ người mạnh la người yếu, lấy cái quyền mà la người không có quyền, tội dữ lắm. Cái đó là tánh của mình thường hay sân người không có sự tế nhị. 

 Thiếu lập trường chân chánh 

Là tâm mình không ngay thẳng, mình để tâm mình sanh bất thiện, đó là tu tập của mình mất hướng đi. Theo chú giải sự thiếu lập trường chân chánh là tác ý không khôn khéo, do đó mình  mới bị tác động bởi môi trường làm cho mình thay đổi lập trường của mình, và mình ở môi trường này sẽ sanh tâm sân. Người có tâm sân dễ bị ảnh hưởng tới sức khỏe của họ, Những nhà khoa học những nhà y khoa nói khi tâm sân nổi lên máu trong người đang đỏ trở thành máu đen đưa đến tim đưa độc tố vào người mình. 

Phải giữ tâm quân bình hay là giữ tâm mình ngay thẳng đừng bị tác động, nó bị tác động với đối tượng là một yếu tố nhưng tâm mình không giữ được là yếu tố chính yếu, còn đối tượng thì khi có khi không có đối tượng, nhưng cái gốc của ta cũng có sân nó tác hợp hai cái đó hoà trộn tương ưng sanh ra tâm sân bất thiện.

Tâm sân câu hành ưu tương-ưng Khuể-phẫn hữu-dẫn

Người làm cho tâm ta sân hay tại tâm ta sân, đó là hữu dẫn, như vậy thì khi qúi Phật tử có tâm sân người tác động qúi Phật tử làm qúi Phật tử khởi tâm sân thì qúi Phật tử nói là tại người làm cho ta tâm sân, qúi Phật tử thấy hữu dẫn này là tâm mình sau khi suy nghĩ tại sao mình sân, vậy thì đối tượng làm mình sân do đó tâm khởi lên sân, chẳng hạn như con của ta ta dạy nó mà nó không nghe lời ta tâm ta sân, chiếc xe chạy không như ý mình mình sân cái xe, cái nhà này mình không thích hợp nên mình bực với cái nhà này. 

Do đó hữu dẫn với giữa cái vô dẫn này thì vô dẫn đáng lo hơn, tạo tội hơn hữu dẫn. 

Như vậy, ở đây vô dẫn là trạng thái tức thời khởi sanh, còn hữu dẫn là đắn đo rồi sau đó khởi sanh. 

Đối với những người sân mau lẹ là sân vô dẫn. Người sân hữu dẫn là người sau một thời gian đắn đo mới khởi sân lên là hữu dẫn, người đó sân chậm còn người vô dẫn là sân mau lẹ nhạy bén sân dễ bị kích thích, hai cái này thì cái sân này nặng tội hơn.

Như vậy, tâm sân có 2, một vô dẫn và một hữu dẫn, những tâm hữu dẫn nhẹ tội hơn tâm vô dẫn. 

Những người ở trạng thái vô dẫn họ dễ nóng dễ sân, còn người một thời gian đầu họ không sân nhưng sau đó họ sân dần dần lên, sân mà ngấm ngầm người ta gọi là giận ngầm, giận mà không nói ra người đó là hữu dẫn. Mình còn là phàm phu thì có cả hai hữu dẫn và vô dẫn.

Tâm sân như trạng thái đúng trước một cảnh đau lòng của một con thú mắc bịnh nan y không thể khỏi được, nó sẽ phải đau khổ với căn bịnh này kéo dài cho tới chết và nó không thể nào sống được an lành. Thì sự xúc động của  mình là một người có tâm từ thương chúng sanh thì qúi Phật tử mới thấy lời đề nghị của người bác sĩ là để nó ra đi nhẹ nhàng, chứ để cho nó ở trong hoàn cảnh bệnh tật dằn vặt đau khổ lắm, lúc đó qúi Phật tử phải thực hiện một sự quyết định, ông bác sĩ kêu qúi Phật tử phải dứt điểm một mũi thuốc là con chó sẽ ra đi, qúi Phật tử sẽ thấy dằn co giữa hai trường hợp đó thì cái gì sẽ đến nếu chọn theo đề nghị của bác sĩ, đó là:

1)  Thứ nhất qúi Phật tử đồng ý với vị bác sĩ cho chích mũi thuốc vào con chó bệnh nan y  không thể cứu được là qúi Phật tử cộng nghiệp với vị bác sĩ đó là sát sanh tại vì mạng sống nó đang còn, qúi Phật tử cắt đứt mạng sống nó là qúi Phật tử bị cộng nghiệp là sát sanh, kiếp sau qúi Phật tử sanh lên bị tổn thọ, đó là điều thứ nhất.

2) Thứ hai, sau nữa là qúi Phật tử sẽ bị những trường hợp người ta cũng dùng một mũi thuốc đoạn mạng mình, đó là cái quả nó đến.

3) Thứ ba là qúi Phật tử sẽ có cái quả là qúi Phật tử không có người thân người thương tại qúi Phật tử có tâm sân bất toại nguyện, lúc đó không có người nào tới gần qúi Phật tử, tâm từ mới hút người ta lại như nam châm, tâm sân như lửa đốt làm người bỏ chạy không ai lại gần, cái đó qúi Phật tử thấy rõ.

Vậy thì khi qúi Phật tử tác ý một hành động đồng ý chích một mũi cho con chó ra đi là qúi Phật tử cộng liền 3 quả ra liền; nghiệp sát sanh, tổn thọ, không có người thân gần gủi. Ba cái đó qúi Phật tử tính ra trạng thái khó xử nhất là tâm từ qúi Phật tử đang có, thì qúi Phật tử làm sao, ngay khi đó mà qúi Phật tử không giải quyết được thì qúi Phật tử đang ở trạng thái tâm sân tại vì bất toại nguyện qúi Phật tử đã nuôi dưỡng một cái bất toại nguyện, cũng như bữa trước Sư nói con muỗi lọt vô mạng lưới của con nhện, đứng trước bối cảnh đó nếu qúi Phật tử thò tay kéo con muỗi đó ra con nhện sẽ đói mà làm lơ thì con nhện sẽ ăn con muỗi, tâm từ qúi Phật tử đứng trước cảnh đó không giải quyết được, qúi Phật tử đang có ở chỗ đó là tâm sân, phút giây ngay đó là qúi Phật tử có tâm sân.

Cũng vậy, một người ngồi thiền với trạng thái lúc đó khởi lên: đau, tê, nhức, mỏi, của thân mình mà qúi Phật tử khởi lên trạng thái sân bực bội với: tê, nhức, mỏi, đau, là qúi Phật tử đang tạo ra một trạng thái không thương thân mình không thương con người mình tại mình sân, thân của mình mà mình sân, tại vì mình đang khó chịu là mình đang hiện bày một trạng thái sân, như vậy thì lúc đó mình thấy đối với con chó bị bịnh nan y mình không thể nào sân với nó được, đối với con muỗi mình không thể nào sân với nó được khi nghĩ tới cảnh khổ nó đến, vậy thì cũng như vậy, tê, nhức, mỏi, đau, đến với Phật tử đang ngồi thiền, qúi Phật tử khởi lên tâm sân là qúi Phật tử không thương chính mình.

Do đó, lúc bấy giờ thiền sinh hay người hành giả nhìn tâm của mình để xem mình có thương thân này không, nếu mình thương thân mình thì giữ tâm mình đừng sân, mình phải giữ tâm mình để sáng suốt mình niệm hay mình tìm cách để mà làm sao đừng hại thân này nữa hay là hại cuộc sống mình nữa cuộc đời của mình nữa thì qúi Phật tử mới làm ra được, ở trước bối cảnh mà qúi Phật tử nhìn thấy con chó bị bịnh nan y mà qúi Phật tử thương nó mà chích cho nó một mũi là chuyện đó dễ lắm, ở trong nền y khoa của người Mỹ có nói một câu: "đối với người bác sĩ giỏi là chữa chứ không phải nhổ bỏ hay là cắt bỏ", đưa ra cái gì cũng cắt hết chuyện đó dễ nhưng mà ngồi chịu khó chữa sửa cái đó giống như người thợ máy sửa máy cũ thì khó nhưng thay phụ tùng mới thì dễ. Con người chúng ta cũng vậy, đưa vô bác sĩ cái này hư cắt bỏ, bác sĩ mà chịu khó ngồi suy nghĩ để chữa bịnh này bác sĩ đó là người có tâm nhẫn nại, có lòng thương chúng sanh, chịu khó làm ra cái khác để cố gắng giữ cái đó, chứ còn nếu như mà giờ qúi Phật tử thấy có hai trái thận hư cắt bỏ, cái chuyện đó dễ lắm, mình là bệnh nhân vô tay của họ họ làm dễ dàng lúc đó mình mới thấy bác sĩ ngồi suy nghĩ mất ăn mất ngủ, cũng như người cơ khí ngồi suy nghĩ tìm ra một phương pháp để giải quyết căn bịnh của xe mất ăn mất ngủ, do đó giữa thiện bất thiện, nghĩ ra là thiện, nghĩ không ra mình bất toại nguyện sanh tâm sân người đó sống trong trạng thái tâm sân.

Thiền sinh: Thưa Sư, những tin tức gần đây là nhiều trường hợp mà người Sư Tây Tạng tự thiêu để họ chống đối lại vấn đề người Trung Hoa đàn áp, lúc họ chết thì họ có tâm sân không? 

TT trả lời: Mình không nói được, tại vì đối với một nhà Sư để thể hiện mục đích tôn giáo, nếu như một người thanh niên tự thiêu thể hiện tính cách xã hội thể hiện chính trị, đối với một nhà Sư thể hiện hành động đó là tự thiêu, họ đang đưa ra một trạng thái không là tôn giáo mà đang làm chính trị thì cái đó mình phải phân biệt mới bình luận được. Còn họ có tâm bất toại nguyện là tâm sân chắc chắn là có. 

Ngay khi bác sĩ đưa mũi kim chích vào con chó là sân với tâm bất toại nguyện thể hiện mình đau khổ trong đó mình phải cắt đứt để nó đi mình phải chịu cái nghiệp sát hại nó, tâm sân hiện bày ngay sát na đưa kim vô nó. 

Hai năm liên tục, 2010 Sư qua tới đây 2011 Sư vẫn còn ở đây là 2 năm liên tục Sư có 2 con chó một người Phật tử nuôi dùm Sư, tại Sư qua bên đây, người Phật tử gọi điện thoại liên tục hỏi Sư có nên chích thuốc nó không, một con 16 năm, một con mới có 2 tuổi, bác sĩ nói nó bịnh dữ lắm, phải thay máu mà tốn hết $7000 rồi mà bây giờ còn tiếp tục nữa, có nên chích thuốc cho nó chết không, Sư nói không chích thuốc mà tiếp tục chữa cho nó, Sư vẫn gửi tiền qua trả tiền phí cho nó, vì ngay khi đó Sư không muốn bác sĩ có một tâm sân, và chính đó Sư không muốn cộng nghiệp với trạng thái là quyết định của Sư đưa ra, bởi vị Phật tử đó không dám quyết định mà phải chờ sự quyết định của Sư, Sư nói không, vẫn tiếp tục nuôi, vô nước biển trợ giúp nó, đó là một chúng sanh, và Sư không muốn tạo ra nghiệp.

Thiền sinh: Thưa Sư, nếu người bác sĩ có nhiều trường hợp mà trong quá khứ mà họ đã biết rằng khi họ tiếp tục cứu con chó đó nhưng nó sẽ sống trong một trạng thái đau khổ, nó chỉ sống bằng hơi thở thôi, thì lúc đó mình phải làm như thế nào khi mình đã biết là trường hợp sẽ đi đến 

TT trả lời: Mình bắt buộc phải nương theo nó, săn sóc cho nó cho đến khi nó chết mà thôi, không chích thuốc để nó chết, nó cần vô nước biển thì vô nước biển, nó cần vô máu thì vô máu, hai cái máy hai bên, một cái bơm máu ra và một cái bơm máu mới vô, Sư phải chịu trả tiền đó cho tới khi nào nó ra đi, lương tâm của vị y khoa bác sĩ là bịnh nhân từ bỏ mình chứ mình không bỏ bệnh nhân. Lúc đó qúi Phật tử coi tâm qúi Phật tử lúc đó đang sân hay là bất toại nguyện đang hiện bày. Nên qúi Phật tử phải cẩn thận trước khi quyết định với người thân trường hợp đó mà người thân yêu cầu mình qúi Phật tử phải cẩn thận chứ đừng có nhận lời một cách mau lẹ vì sau này qúi Phật tử cũng bị ảnh hưởng chính mình với trường hợp tương tự.

Thiền sinh: Thưa Sư, như trường hợp con làm di chúc nói rằng nếu con nằm bịnh từ một tháng đến ba tháng mà không chữa được thì rút ống thở để con ra đi, như vậy có ảnh hưởng gì không?

TT trả lời: Như vậy là cô làm khó người nhà của cô lắm. Như Ngài Thiền Sư U Sīlānanda, Ngài bị coma vô bệnh viện nằm 2 tháng trên giường bịnh, không cử động gì và không nói gì, nhắm mắt nằm im ai vô thăm cũng không biết mà người nhìn vô thấy Ngài nằm đó không nhúc nhích, không có một vị Sư nào dám ra lệnh bác sĩ cắt mạng sống của Ngài U Sīlānand, lúc 2005 Ngài vô bệnh viện bị coma bị ngất xỉu vô trong bệnh viện luôn tới ngày Ngài ra đi chứ không có một phút giây nào Ngài nói từ giả người đệ tử. Thì đối với Chư Tăng, đối với quan niệm của một vị Sư cũng như Chư Tăng là không ai dám quyết định việc đó, Chư Tăng cầu nguyện rồi chia phước làm hết sức mình rồi năn nỉ bác sĩ cố gắng giúp giùm chứ không dám quyết định để xen vào nghiệp của chúng sanh đó, đối với nhà Sư thì không được làm cái đó. Do đó qúi Sư khác, còn qúi Phật tử có thể nhắm mắt đưa chân qúi Phật tử muốn làm nghĩ là được an lạc hơn thì đó là quyết định của qúi Phật tử, còn hỏi qúi Sư thì Sư chỉ nói theo chiều hướng độc đạo vậy thôi chứ không có đường hai chiều, có thể qúi Phật tử khó nghe khó chịu nhưng mà trường hợp của qúi Sư phải chịu như vậy.

Đối diện với nghiệp báo là qúi Sư sợ nhiều hơn nên có câu: "Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả". Đối với những trường hợp như một vị Bồ Tát qúi Sư còn sợ nhân này còn qúi Phật tử không có hạnh nguyện Bồ Tát thì có thể nghĩ mình vậy là mình cứu nó không để nó khổ, thì họ có quyền nói như vậy nhưng đối với Sư thì câu trả lời của Sư chỉ là có một chiều, qúi Phật tử có thể khó chịu nhưng trường hợp đó qúi Sư không dám làm. Như là một nhà Sư vì một lý do gì mà tự sát không được, vì một lý do gì mà tự thiêu cũng không được, vì lý do gì mà cắt mạng sống mình cũng không được tại vì cái đó coi như phạm vô giới luật đầu tiên nhưng đối với người bên ngoài nhìn đó là chính nghĩa đó là cao thượng.

Thiền sinh: Thưa Sư, năm 1963 ĐĐ Thích Quảng Đức khi Ngài tự thiêu ra đi thì có bị gọi là phạm giới sát sanh không?

TT trả lời: Đứng ở góc độ khi Đức Phật Ngài còn là Bồ Tát là vị thái tử thứ ba của vị vua có 3 người con trai, nhìn thấy con cọp với bốn cọp con đói khát sắp chết, cọp mẹ sắp sửa ăn bốn cọp con thì vị thái tử này gieo mình xuống để quyên sinh cái mạng này cho con cọp mẹ ăn rồi sức lực nuôi con chứ không con đói, thì lúc đó Ngài phạm giới sát sanh vì là Ngài tự sát để lấy thân mạng này cho con cọp, thì cũng giống như trường hợp này, đó gọi là vị Bồ Tát. Sư chỉ trả lời được như vậy thôi chứ không nói qua những vấn đề khác.

------------------------

Còn tiếp phần ÌI, Tâm Si


No comments:

Post a Comment