Wednesday, August 18, 2021

Vi Diệu Pháp 08 - Tâm Bất Thiện (Chương 3) - TT Sán Nhiên

 Tâm Bất Thiện (Chương 3) - Vi Diệu Pháp 08 - TT Sán Nhiên

Minh Hạnh đã được nghe để học và, xin ghi chép lại theo sự hiểu của chính mình từ video giảng "Vi Diệu Pháp 08" do TT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức. Và xin thành kính cảm tạ ơn TT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

TT Sán Nhiên: Hôm nay chúng ta tiếp tục học Abhidhamma, bộ chú giải gồm 9 chương, chúng ta bắt đầu đi vào chương 3 nói về Tâm.

Bảng Nêu Chi Pháp có đánh số

Hai bảng nêu chi pháp, một bảng Sư đánh lên con số và một bảng có màu sắc không có con số cũng không có chữ để chúng ta học, bắt đầu từ ngày hôm nay và những tuần sau qúi Phật tử không dùng bảng nêu có chữ, 

1) Thứ nhất, những chữ đó không còn có ý nghĩa giống trong quyển sách qúi Phật tử có trong tay tại vì Sư sửa các từ ngữ định nghĩa về tâm cho phù hợp đúng theo từ  vựng Pali do đó không nên dùng bảng nêu chi pháp đã có ghi chữ trên bảng nêu đó nữa. 

2) Thứ hai, điều tất nhiên là chúng ta phải học thuộc lòng chứ không ỷ nương tựa vào trong bảng nêu, nếu không nhớ không thuộc lòng thì sau này qúi Phật tử khó dùng. 

Điển hình thứ nhất mà Sư có kinh nghiệm về Abhidhamma khi đi qua pháp hành rất lợi ích, khi qúi Phật tử ngồi thiền, tâm hiện bày lên qúi Phật tử định nghĩa được cái tâm đó như thế nào để mà giải quyết được cái tâm đó, như vậy mới có giá trị.

 Chứ còn nếu như qúi Phật tử lúc đó ngồi thiền, tâm khởi lên loại tâm nào không lý qúi Phật tử đang ngồi thiền lại mở bảng nêu ra coi. Do đó qúi Phật tử phải tự thương lấy chính mình mà học thuộc lòng để nhớ cho chính mình, để khi hành thiền qúi Phật tử biết được loại tâm nào đang khởi sanh trong tâm mình, đó là điều thứ hai lợi ích cho qúi Phật tử khi tu pháp hành.

Khi thấy được tâm hiện bày như thế nào mà mình đọc được tên của tâm mình lúc đó, nó là con đường giải đáp sự thắc mắc của qúi Phật tử ngay tại lúc ngồi thiền đó, nó đi hơn phân nửa, ngồi thấy tâm này là tâm gì mình định nghĩa được liền, khi định nghĩa được mình giải quyết được nó rất dễ dàng, đó là kinh nghiệm của Sư ứng dụng trong Abhidhamma.

Ngài Hộ Pháp qua Thái Lan ghi danh vào trường thiền dạy Vipassana tại Bangkok, họ hỏi học Abhidhamma chưa, Ngài chưa học nên Ngài phải về Việt Nam học 6 tháng môn Abhidhamma với Ngài Santakicco là Ngài Tịnh Sự  rồi mới trở qua ghi danh vào học Thiền Vipassana, nếu như vị thiền sinh không học Abhidhamma không được vô lớp học, cái đó là quả quyết.

Học và hiểu Abhidhamma, lúc đi trình pháp, không phải mình nói tâm mình theo cách mình định nghĩa, mà mình nói tâm theo bảng nêu thì đã đi hơn phân nửa việc trình pháp, vị Thiền Sư sẽ thấy rõ cái gì mình nói, có những thiền đường giảng khóa trình pháp họ nói xuyên suốt về tâm của Abhidhamma. Họ không nói giống như mình nói "tôi ngồi thấy buồn" "tôi ngồi thấy tê thấy nhức". Họ không nói như vậy, mà tâm nào, tâm sở loại nào, định nghĩa đúng chính xác Thiền Sư  mới hiểu được, đó là mình lấy được pháp hành.

Do đó pháp học đi song song với pháp hành khi mình nắm vững thì rất lợi lạc. 

Bảng Nêu Chi Pháp Có Màu Sắc

3) Điều thứ ba là màu sắc.

Trên bảng nêu có 5 màu: màu đỏ, màu xanh dương, màu nâu, màu đen, màu vàng. 

- Màu đỏ là hỉ thọ

- Màu xanh là xả thọ

- Màu nâu là ưu thọ

- Màu đen là khổ thọ

- Màu vàng là lạc thọ

Như vậy có 5 loại thọ. Chúng ta học 121 tâm.

Trong bảng nêu 3 hàng đầu là tâm bất thiện gồm:

Hàng 1 là tâm tham có 8 tâm tham

Hàng 2 là tâm sân có 2 tâm sân

Hàng 3 là tâm si có 2 tâm si

Ba hàng 1, 2, 3 là tâm bất thiện, như vậy là 12 tâm bất thiện.

Hàng thứ 4 có 7 tâm quả bất thiện vô nhân 

Hàng thứ 5 có 8 tâm quả thiện vô nhân 

Hàng thứ 6 có 3 tâm duy tác vô nhân 

 3 hàng nối tiếp nhau là hàng thứ 4, thứ 5, thứ 6 là tâm vô nhân, có 18 tâm vô nhân

Hàng thứ 7, Tâm Đại Thiện  là Tâm Dục Giới  có 8 tâm.

Hàng thứ 8 là Tâm Đại Quả có 8 tâm

Hàng thứ 9 là Tâm Đại Duy Tác có 8 tâm

Hàng thứ 7 , 8, 9 là Tâm Dục Giới Tịnh Hảo, có 24 tâm Dục Giới Tịnh Hảo

Như vậy là 12 tâm bất thiện + 18 tâm vô nhân + 24 tâm Dục Giới Tịnh Hảo =  54 Tâm Dục Giới trải qua 11 cõi, tuần vừa rồi chúng ta đã học qua 11 cõi.

Hàng thứ 10, Tâm Thiện Sắc Giới có 5 tâm (4 màu đỏ và 1 màu xanh)

Hàng thứ 11, Tâm Quả Sắc Giới có 5 tâm

Hàng 12, Tâm Duy Tác Sắc Giới có 5 tâm (4 màu đỏ và 1 màu xanh) 

Hàng thứ 10, 11, 12 là Tâm Sắc Giới có 15 tâm 

Hàng 13, Tâm Thiện Vô Sắc Giới có 4 tâm

Hàng 14, Tâm Quả Vô Sắc Giới có 4 tâm

Hàng 15, Tâm Duy Tác Vô Sắc Giới có 4 tâm

Hàng 13, 14, 15 là Tâm Vô Sắc Giới có 12 tâm. 

Cộng 15 Tâm Sắc Giới + 12 Tâm Vô Sắc Giới = 27 Tâm Đáo Đại (Đáo là đi đến, Đại là cõi rộng lớn) đến cõi rộng lớn vô cùng rộng lớn hơn cõi Dục Giới, do đó ta gọi là Tâm Đáo Đại

Như vậy là chúng ta đã qua tất cả tâm này thuộc về Tâm Hiệp Thế

(Từ hàng thứ 16 đến hàng thứ 23 gồm 40 tâm gọi là Tâm Siêu Thế;  20 Tâm Đạo và 20 Tâm Quả)

Hàng 16, Tâm Sơ Đạo có 5 tâm

Hàng 17, Tâm Nhị Đạo có 5 tâm

Hàng 18, Tâm Tam Đạo có 5 tâm

Hàng 19, Tâm Tứ Đạo có 5 tâm

Hàng 16, 17. 18, 19 là Tâm Đạo Siêu Thế có 20 tâm

Hàng 20, Tâm Sơ Quả có 5 tâm

Hàng 21, Tâm Nhị Quả có 5 tâm

Hàng 22, Tâm Tam Quả có 5 tâm 

Hàng 23, Tâm Tứ Quả có 5 tâm

Hàng 20, 21, 22, 23 gọi là Tâm Quả Siêu Thế có 20 tâm

Cộng lại 20 Tâm Đạo + 20 Tâm Quả = 40 Tâm Siêu Thế  

Cộng hết tất cả là 121 tâm

 Như vậy, chúng ta học hết tất cả tâm có trong thế gian này vừa Hiệp Thế vừa Siêu Thế, vừa phàm phu vừa Thánh nhân, loại nào chúng ta cũng biết thì khi qúi Phật tử tiếp xúc với người này với người kia qúi Phật tử có đủ khả năng để biết tâm của người đó là phàm phu hay tâm của bậc Thánh nhân rất rõ ràng không sai trật vì ta có đủ công thức rồi.

Do đó, khi qúi Phật tử nắm được 121 tâm ở hàng nào, sau này quen rồi khi nói tới hàng nào mình biết rõ tâm gì mình theo dõi được tâm thức của mình. 

 Ở trên bảng nêu chi pháp, ở hàng thứ 10 và hàng thứ 12 có 2 tâm màu trắng

 Hàng thứ 10, có một tâm có màu trắng là Tâm Thiện Thông hay gọi là Tâm Thiện Thánh Trí, tâm này hiện bày thần thông. Tâm hiện bày thần thông là tâm này chứ không phải là sài tâm sắc giới.

Hàng thứ 12, có một tâm  màu trắng là Tâm Duy Tác Thắng Trí. 

Những tâm này dành cho các bậc Alahán thực hiện thần thông, người phàm phu không có, người ta chỉ có tâm thiện thôi

Thiền sinh: Thưa Sư, tại sao 2 tâm đó không để trong 121 tâm?

TT trả lời: Nó không có nằm trong 121 tâm, phần này là tâm gọi là được hiện bày ra chứ nó không nằm trong 121 tâm mà Đức Phật Ngài nói.

Ý nghĩa này do Ngài Tịnh Sự đặt ra để biết khi muốn hiện bày thần thông phải đạt đến Tứ Thiền Sắc Giới mới hiện bày thần thông được, Sơ, Nhị, Tam, Thiền Sắc Giới chưa đủ khả năng để hiện bày thần thông, vì định chưa mạnh, năng lực chưa có, thánh trí chưa đủ do đó khó hiện bày thần thông, chỉ tới Tứ Thiền Sắc Giới mới hiện bày thần thông được.

Hôm nay chúng ta học phần Tâm. Tâm Bất Thiện. Chúng ta nhìn trên bảng nêu, Tâm Bất Thiện có 3 màu là: màu xanh, màu đỏ, màu nâu - hỉ, xả, ưu. 

Đầu tiên, học về Tâm Tham. Có 8 Tâm Tham, chúng ta học tuần tự như sau.

Thứ nhất, nhìn vô 8 Tâm Tham này thấy chia làm hai, 4 đỏ, 4 xanh, chúng ta bắt đầu đi theo:

- 4 đỏ là 4 Tâm Tham Câu Hành Hỉ là màu đỏ. Somanassasahagatam: Câu hành hỷ

 (chữ "câu" nghĩa là "đồng", chữ "hành" nghĩa là "hành động", chữ "hỉ" nghĩa là "vui mừng thoải thích", trong tiếng Việt thì ta nói là "sự hiểu biết dính mắc vào đối tượng)

Thí dụ, có những người ăn cắp được món đồ nào đó họ vui mừng họ có tâm hoan hỉ, thì lúc đó họ có Tâm Tham Câu Hành Hỉ . Như vậy thì khi tâm tham lên ta hành động cùng một lúc với tâm hoan hỉ (hỉ là thoả thích).

Do đó chúng ta định nghĩa: Tâm Tham Câu Hành Hỉ tức là khi tâm có sự hiểu biết dính mắc vào đối tượng đó mà đồng cùng hiện bày sự thoả thích, được gọi là Tâm Tham câu hành hỉ. 

- 4 xanh là 4 Tâm Tham Câu Hành Xả là màu xanh. Upekkhàsahagatam: Câu hành xả

(chữ "câu" nghĩa là "đồng", chữ "hành" nghĩa là "hành động", chữ "xả" nghĩa là "không buồn không vui")

Có người ăn cắp quen tay nên khi ăn cắp được món đồ họ thản nhiên không có gì đáng vui mừng hết nhưng mà vẫn tham, thì lúc đó là câu hành xả.

Thí dụ, một đứa bé quen ăn cắp ra ngoài chợ thấy trái sầu riêng nó lấy cắp một cách thản nhiên không lộ vẻ vui mừng, đó là Tâm Tham Câu Hành Xả

Chúng ta đã định nghĩa được 8 Tâm Tham ở hàng thứ nhất:

 4 tâm đầu tiên màu đỏ là Tham Câu Hành Hỉ là tham có sự vui mừng thỏa thích. 

4 tâm màu xanh là Tham Câu Hành Xả, là tham có trạng thái thản nhiên bình thản.

Có những người ngồi thiền tới lúc chân đau tê quá chịu không nổi, nghe vị Thiền Sư cho xả thiền thì mừng, đó là hỉ thọ.

Nhưng, tới lúc mình xong rồi vị Thiền Sư còn nán lại 5 phút nữa mới được xả thiền, cái tê nhức nó đau quá đau rồi, vị Thiền Sư cứ ngồi nhắm mắt hoài, lúc đó tâm tham mình đang thúc đẩy "xả thiền đi, xả thiền đi", thì lúc đó Thiền Sư cho xả thiền mình vui mừng. 

Thì lúc nãy tâm mình đang khó chịu là Sân, nhưng khi mình muốn xả thiền thì được xả rồi thì là Hỉ Thọ, đó là trạng thái Hỉ Thọ. Vậy thì, lúc đó Phật tử phải niệm liền tâm mình lúc đó mình niệm là "Tâm Tham Câu Hành Hỉ", không bỏ qua cái niệm đó. 

Lúc chưa được xả thiền mình khó chịu bực bội thì niệm "tâm sân đó", phải niệm, niệm hết để ta xả thiền, bài tập ta làm xong hoàn mãn rồi mới nghỉ chứ chưa xong chưa được nghỉ, phút chót chúng ta niệm luôn chớ lúc đó xả thiền buông ra liền là qúi Phật tử mất đi cơ hội kiểm soát tâm của mình, lúc đó cũng phải niệm, xả, thọ, hỉ, không hoan hỉ, thích thú, và không thích thú, bực bội hay dính mắc, lúc nào chúng ta cũng phải niệm tâm, không bỏ qua một sát na tâm nào cả, không bỏ qua một phút giây tâm thức nào cả, đó mới gọi là có chánh niệm từ giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối.  Qúi Phật tử có chánh niệm khúc đầu, khúc giữa tới khúc cuối bỏ mất là thiếu chánh niệm, mà thiếu chánh niệm như vậy lâu dài ngày tháng quen, trước tiên ta tạo thói quen, sau thói quen tạo lại ta. Thường thường pháp đến với mình không có báo trước là một, hai nữa là đánh lén, ba là đến lúc nào ta không biết, người hành giả là người khéo có sự tu tập luôn luôn như người lính canh phòng ở biên giới không để phút giây sơ hở nào đột nhập vào, luôn luôn phải nhắc nhở tâm thức của mình, để sơ hở một chút nó xen vô lúc đó không niệm lâu ngày dày tháng những phút giây đó là đạo quả, qúi Phật tử mất cơ hội.

Trong kinh kể vị Sa-di Sukha tới giờ ăn cơm ngọ,  Trưởng lão Xá Lợi Phất khất thực xong rồi vội vã trở về tinh xá. Thế Tôn trong hương thất thấy biết hết, và cũng biết trước Sa-di Sukha sẽ chứng A-la-hán, nên Ngài rời hương thất đến trước cổng đón Trưởng lão đặt bốn câu hỏi để kéo dài thời gian cho Sa-di kịp chứng quả. Trưởng lão trả lời xong câu cuối thì Sa-di cũng vừa chứng quả. Lúc đó Phật mới cho phép Trưởng lão mang thức ăn cho đệ tử. Nếu lúc đó là mình, mình sẽ thắc mắc sao tới giờ ngọ không ai mang cơm đến cho mình, thì mình xả thiền để đi kiếm thực phẩm, như vậy mình mất cơ hội chứng quả.

Mình phải đi tiếp nếu không thì lúc đó mình phải trở ra Hiệp Thế, nếu mình quen chánh niệm những phút giây đó là mình đi tới Siêu Thế được, tại vì mình đang khắc phục những tâm Hiệp Thế thúc đẩy đòi hỏi mình ngay lúc đó là mình qua được giai đoạn Siêu Thế, lúc đó nó hiển lộ ra đặc tính của nó và lúc đó nó hiện bày những tâm tánh tập khí của mình tại nơi đó chứ thường thì nó không hiện bày, phút đầu qúi Phật tử không thấy nó hiện bày, 50 phút bắt đầu hiện, 55 phút bắt đầu rạng lên, 57 phút bắt đầu hiện rõ. Do đó chánh niệm là điều cần thiết nhưng nó không phải là chánh yếu, trí tuệ phối hợp với chánh niệm mới là điều chánh yếu. 

Các hành giả giữ chánh niệm, giữ chánh niệm, như thế là Thiền Chỉ chứ không phải là Thiền Quán. 

Thiền Quán là giữ chánh niệm và dùng trí tuệ nhìn thấy được bản chất sanh diệt của pháp hiện bày đó mới là Thiền Quán. Thiền Quán không phải chỉ có chánh niệm, phải là trí tuệ phối hợp với chánh niệm.

 Qúi Phật tử nếu đi tới mức chót cuối cùng vẫn là chánh niệm, tới lúc cuối cùng xả thiền vẫn là chánh niệm là ngay tại đó mình đang đi Thiền Chỉ mình giữ tới đó là hiện bày một tâm tham chứ không phải là tâm thiện. Mình tu ngồi thiền không phải là thiện mà là có tham dính mắc, tại vì trí tuệ là buông bỏ mà mình đeo giữ nó đó là bất thiện là tham.

Học Abhidhamma để lột vỏ tâm thức của mình ra chứ không phải đứng ở ngoài mà nhìn vô xem tâm mình như thế nào. Mình phải thấy rõ được sự thật ngay khi đó ta hiện bày là tâm thiện hay tâm bất thiện ta phải nắm liền, nếu Phật tử không nắm được cái đó thì qúi Phật tử trôi lăn với trạng thái là hình thức tu tập nhưng không phân biệt được tâm thức loại nào và không phân biệt được loại nào, qúi Phật tử không có tách dần những cái gì cần thiết và lượm giữ những gì chúng ta cần thiết, chúng ta sai lầm hết, do đó đi hoài mà không có kết quả là như vậy.

Khi ngồi thiền, qúi Phật tử muốn cái gì khởi sanh lên niệm muốn là "tham",  thích là "hỉ", không thích, trạng thái mệt mỏi vẫn muốn là "xả". niệm tại đó, niệm ngay đó cái tham sẽ biến mất là quí Phật tử đang có cái thiện mất cái bất thiện. Còn qúi Phật tử đeo đuổi nó mà nhìn nó hoài là đang nuôi cái bất thiện làm sao đắc đạo quả.

Thiền sinh: Thưa Sư, như vậy có nghĩa là mình thấy tâm mình, mình phải biết nó, mình phải niệm liền, rồi sau khi mình niệm mình để tâm mình ở đâu, nếu chân mình đau thì sao? 

TT trả lời: Tâm muốn cái gì, mình phải niệm liền "muốn à", "tham à", "xả à", "nghĩ à", nó đòi hỏi muốn nghĩ, nó muốn mình xả không hành nữa, rồi mình tham, mình phải niệm, sau khi niệm tham, muốn, xả thì trở lại niệm hơi thở, nếu chân đau thì niệm 3 lần "đau à, đau à, đau à", xong trở lại hơi thở, nếu cái đau kéo ra nữa thì lại niệm "đau à, đau à, đau à", rồi trở về nhìn hơi thở. Hơi thở là phương tiện để giữ tâm không bị phóng dật.

Chúng ta trở lại bài học

- Thứ nhất, chúng ta phân biệt màu sắc; màu đỏ là câu hành hỉ, màu xanh là câu hành xả.

- Thứ hai là tham có 2 loại: Tham Tà Kiến và Tham Không Tà Kiến, nên ta còn có Tương Ưng với Tà Kiến và Bất Tương Ung với Tà Kiến.

Dịch nghĩa chữ:

- Tương ưng là hoà trộn, giống như hòa trộn của nước với sữa, 

- Kiến là tà kiến, là thấy sai chấp lầm. 

Như vậy, tâm tham của ta có 2 trường hợp xảy ra: Tương Ưng với Tà Kiến và Bất Tương Ưng với Tà Kiến, loại thấy sai, loại không thấy sai.

Chẳng hạn, người thấy sai, có những người họ nói ngồi thiền tê  suốt luôn không hết, ngồi tê cả đời không hết, tê hôm nay, tê ngày mai, tê năm sau, tê nhiều năm cũng giống nhau  không có gì khác biệt hết. 

Điều đó, Đức Phật nói là Tương Ưng với Tà Kiến, thấy sai chấp lầm, tại vì mọi pháp sanh lên tánh chất của nó là diệt tại đó, sanh diệt là lẽ thường, họ cứ nói khư khư là không thay đổi là họ bị tà kiến. 

Tà kiến mà nói không thay đổi là thường kiến, và nói không có gì cả là đoạn kiến. Chúng ta có hai, chấp thường và chấp đoạn, chấp ngắn chấp dài, chấp có và chấp không, đó gọi là tà kiến, 

Như vậy, khi ngồi thiền tê khởi lên hôm qua, bữa nay ngồi thiền cũng thấy tê, cái tê này nó giống hay không giống, mình không phân biệt được, mà không để ý cái tê ngày hôm qua, không để ý cái tê ngày hôm nay, chính điều đó khi ta ngồi thiền ta thấy tê là ta hoảng hốt lên, hoảng hốt rồi ta chú tâm vào nó, bị lôi cuốn vào nó, chúng ta không nhận xét được cái tê đó giống nhau hay khác nhau. Chính do đó ta nói tê này là có hoài không hết, ta bị dính vào Tương Ưng với Tà Kiến.

 Có những người hiểu là tê sanh lên rồi tê sẽ diệt, tê có sanh thì có diệt, có đó rồi mất đó, nó hoại diệt, nó không kéo dài mãi, thì họ có tham nhưng không thấy sai chấp lầm, đó là Tham Bất Tương Ưng với Tà Kiến, không có hòa trộn do sự thấy sai chấp lầm.

Thứ hai, chẳng hạn, có những người nói: "nhà phải giữ cho sạch, giết gián, giết kiến không có tội". Nói như vậy là Tương Ưng với Tà Kiến, vì hễ giết chúng sanh, dù bất cứ loài sinh vật nhỏ, đều là có tội, mà lại nói là không có tội thì, Tương Ưng với Tà Kiến. 

Khi mình biết giết chúng sanh là có tội, dù con vật đó nhỏ bé cũng có tội, thì mình là Bất Tương Ưng với Tà Kiến.

Thí dụ thứ ba. Chẳng hạn có một số người Phật tử thuần thành biết tội và phước, nhưng có một số Phật tử không thuần thành họ chỉ theo truyền thống, gia đình họ là Phật tử họ đi theo gia đình vô chùa một cách truyền thống thôi chứ họ không thuần thành, không học hỏi Phật Pháp, do đó họ không rõ tội phước, họ vô chùa thấy những trái cây để trên bàn thờ họ lấy ăn, họ nói của chùa lấy không tội, họ lấy cái đó phạm vô tội trộm cắp của ngôi Tam Bảo một trái soài, trái cam v.v... 

Nhưng khi có người nói: "đừng có lấy, lấy có tội đó", thì họ nói "không có tội gì cả của chùa mà". Người đó là Tương Ưng với Tà Kiến.

Còn người nhắc nhở người lấy, người đó ở trạng thái Bất Tương Ưng với Tà Kiến. 

Thí dụ thứ tư. Có những người nghĩ họ sống hoài không chết, cuộc sống của họ được lâu dài tới 80 tuổi vẫn thấy họ còn sống khỏi mạnh chứ không yếu đuối bệnh hoạn, 90 tuổi cũng vẫn vậy, nên họ nói "cuộc đời này không có sự chết" nghĩ và nói như vậy là tà kiến là thấy sai trách lầm, đó là Tương Ưng với Tà Kiến.

Còn người hiểu biết nói: "tất cả mọi người sinh ra trong đời này đều phải chết, già, trẻ, lớn, bé, cũng chết, không có chúng sanh nào không chết". Người đó là Bất Tương Ưng với Tà Kiến. 

Một thí dụ khác, qúi Phật tử ngồi thiền, thấy an lạc, qua giai đoạn, tê, nhức, mỏi, đau, không còn hiện bày nữa, qúi Phật tử nói trạng thái phỉ lạc đến với ta, ta đắc Niết-bàn rồi. Đó là tà kiến, là Tương Ưng với Tà Kiến. Trong kinh Phạm Võng, Niết-bàn kiến, hiện tại kiến có 5 là như vậy đó chúng ta sẽ thấy. Có nhiều người như vậy, họ ngồi không bị tê, không bị nhức không bị đau, không bị hành hạ đau thân xác của họ, họ ngồi yên bao nhiêu giờ bao nhiêu phút cũng ngồi được thì lúc đó họ nghĩ là họ đã được hưởng phước Niết-bàn, thật sự là chưa có, mà họ khư khư giữ lấy cái đó thì gọi là tà kiến, Tương Ưng với Tà Kiến. 

Đức Phật Ngài lên cung trời Sắc Giới thuyết giảng sự tà kiến của Phạm Thiên Bakha, ông nói ông đã đắc Niết-bàn rồi, nhưng khi Đức Phật Ngài tới thì ông ta không giải đáp được những cái gì Niết-bàn ông ta đang có, ông ta đang khư khư giữ lấy cái bản ngã ông ta đang có, Niết-bàn thì không còn bản ngã, Niết-bàn phải là diệt ngã không còn ngã mạn hay tăng thượng mạn mà ông ta vẫn còn thì sao gọi là đắc Niết-bàn, Niết-bàn là dùng tuệ giải đáp tất cả những sự chấp sai chấp lầm. Đức Phật Ngài đi đến cung của Phạm Thiên Bakha  và Ngài độ được Phạm Thiên Bakha.

 Khi qúi Phật tử ngồi thiền, những cái thấy sai trách lầm phải bỏ, khi ngồi thấy tê qúi Phật tử niệm "tê à tê à", nó kéo dài 5 phút qúi Phật tử nghĩ "chà chắc chết quá, tê hoài không hết" thì khi ý nghĩ đó khởi lên qúi Phật tử niệm "Tương Ưng với Tà Kiến, Tương Ưng với Tà Kiến".

Qúi Phật tử làm liên tục như vậy hết cái này qua tới cái kia, niệm liên tục như vậy, lúc đó qúi Phật tử không còn hôn trầm thị miên.

Thiền sinh: Thưa Sư, nhưng đau qúa con niệm hoài thì con vô Thiền Chỉ phải không?

TT trả lời: Không vô Thiền Chỉ, đau niệm "đau à, đau à", rồi trở về hơi thở, rồi đau lại niệm "đau à, đau à", rồi trở về hơi thở, cứ làm như vậy liên tục. Đừng có sợ mà chạy qua Thiền Chỉ. Cái đau nó sanh nó sẽ diệt, nó có đó rồi nó mất đó, mà chính cái đau là người bạn tốt của mình cho thấy được thực chất của nó, thấy được thực tướng của nó. Nó lâu nay ẩn nấp che dấu không hiển lộ cho mình thấy sự thật của nó, hôm nay nó cho mình thấy sự thật đó. Qúi Phật tử thấy không, cái thân mình, mình thương nó, mình lo cho nó, cái ăn, cái mặc, chỗ ở, mình lo đủ cho nó hết, rốt cuộc nó không làm cho mình vừa ý. Cái đau đó nó là bạn hiền của mình.

Thiền sinh: Thưa Sư, Khi đau con nhìn nó thì con thấy nó ấm lên rồi tan ra, rồi đau lại, con lại nhin nó thì nó lại ấm lên rồi tan ra.

TT trả lời: Như vậy là kỹ thuật đạt được cao rồi.

Tương Ưng với Tà Kiến là thấy sai chấp lầm.

Không thấy sai chấp lầm là Bất Tương Ưng với Tà Kiến. Đó là hai loại  ở trong tâm tham.

Có hai loại khác nữa, chúng ta cần phải biết là, vô dẫn (Sasankhàrikamekam) và hữu dẫn (Sasankhàrikamekam). 

- Vô dẫn là sự dẫn dắt xúi giục hay là lôi kéo, hay là rủ rê v.v... gọi là vô dẫn tức là ta làm với trạng thái mau lẹ không có người xúi dục dẫn dắt lôi kéo ta. 

Thí dụ, qúi Phật tử thấy trái cam ở trên bàn thờ Phật khởi lên tâm muốn lấy nhưng khi khởi tâm muốn lấy thì sợ tội, sợ người ta thấy mình, sợ lương tâm mình, nhìn qua nhìn lại coi có ai để ý không, đó là tâm mình còn đang lo, đang chần chừ không biết có nên lấy không, không lấy thì tội nghiệp mình đang đói mình cần trái cam ăn cho no, mà mình lấy thì mình sợ tội,  đó là trạng thái chần chừ không dám làm, đó gọi là hữu dẫn.

Thấy trái cam muốn lấy ăn nhưng chần chừ hoài không dám lấy gọi là hữu dẫn

Nhưng, khi vừa vô thấy trái cam chớp lấy liền gọi là vô dẫn.

Như vậy thì hữu dẫn có 6 động cơ thúc đẩy, vô dẫn thì không có gì cả

Hữu dẫn có 6 động cơ thúc đẩy, 

- 3 về thân, lời, ý, của ta 

- 3 về thân, lời, ý, của người

Thân, lời, ý, của ta làm cho ta có tâm hữu dẫn.

Thân, lời, ý, của người làm cho ta có hữu dẫn. 

Hữu dẫn có tất cả là 6 pháp hiện bày bởi tâm thức của ta.

- Thân. Thí dụ như mới đầu qúi Phật tử không thấy thân mình là xinh đẹp, hoặc đáng ghê đáng sợ đáng chán, mà cứ nghĩ thân người này thân người kia chứ không nghĩ thân mình., tới khi tắm qúi Phật tử kỳ cọ một hồi thấy thân mình đẹp là đẹp nhất rồi cái đó mình làm cho tâm mình khởi lên tham, khởi lên hữu ngã.

- Lời. Thí dụ, mới đầu qúi Phật tử nghĩ mình ca hát không hay, qúi Phật tử ra ngoài vườn ca một mình nhiều lần thì thấy "oh giọng mình cũng hấp dẫn há không thua ai đâu", rồi ca nữa ca nữa thấy mình hay hơn nên ghi danh thi ca tuyển.

- Ý. Ý của mình là mình ngồi suy nghĩ, trên đời này không có ai bằng ta, mới đầu mình nghĩ ai cũng hơn mình, mình làm dở lắm không có hơn, mình ngồi suy nghĩ suy nghĩ hoài lúc ý khởi lên nhắc nhở ta hoài mà chúng ta không thấy cái đúng cái sai nữa, lúc đó ta thấy ta là nhất trên đời này, thì lúc đó ý ta khởi lên tâm tham dính mắc là, mình nhất trên đời không ai hơn mình.

Đó là thân, lời, ý, của ta hữu dẫn ta khởi lên tham hay là khởi lên hành động bởi sự thúc đẩy nhiều lần lập đi lập lại.

Trong lời kinh của Đức Phật Ngài nói: "Thấy vật gì mình muốn trong sạch mình phải la lên 3 lần cho tất cả xung quanh nghe, không ai trả lời mình mới dám lấy"

 Đó là, thân, lời, ý, của ta. 

Còn thân, lời, ý, của người thúc đẩy ta lấy. "Nãy giờ tôi không thấy ai hết, lấy đi", đó là lời của người thúc đẩy ta lấy, ý của người thúc đẩy ta lấy, thân của người thúc đẩy ta lấy. 

Thân, lời, ý của người thúc đẩy hiện bày hữu dẫn ta hành động.

Thân, lời, ý của ta hữu dẫn ta hành động. 

 1) Tâm tham thứ nhất - Câu hành hỷ Tương ưng với tà kiến  vô dẫn

 Tâm thứ nhất có 3 chức năng hay là 3 nhiệm vụ là:

1) Tham Câu Hành Hỉ là vừa tham vừa vui mừng thoả thích.

 2) Tương Ưng với Tà Kiến là thấy sai chấp lầm.

 3) Vô dẫn là thực hiện một cách mau lẹ.

Khi vừa ngồi xuống, phải phân biệt cho rõ tâm của mình để mình kiếm thấy cái đó là phước hay là tội, tại vì mình tu là mình lựa phước chứ không có được lựa tội. Thí dụ 5 giờ chiều chúng ta ngồi thiền, trước khi ngồi thiền qúi Phật tử được nghỉ 5, 10 phút xong thì vào ngồi thiền, tất cả chúng ta đều vô ngồi thiền, ngồi thiền xuống lúc đó qúi Phật tử sẽ thấy, mình thích ngồi thiền, hoan hỉ ngồi thiền, mình vui mừng ngồi thiền, mình dính mắc trong ngồi thiền, hay mình đang chờ ngồi thiền, hay là mình nghĩ rằng ngồi thiền này tốt có lợi cho mình tu tập có phước báu, hay là chúng ta đang ngồi nói rằng tôi ngồi thiền hôm nay thoải mái quá, tôi ngồi thiền hôm nay nhẹ nhàng quá, ngồi thiền hôm nay tôi thấy thích. Thì qúi Phật tử phải niệm tâm của mình là loại nào xong mới ngồi xuống. Có nhiều hành giả không chịu niệm lúc đó, nó đi qua từ bất thiện dẫn đi luôn nguyên một giờ đồng hồ không có phước báu, thành ra mình quanh quẩn ở đó phiền não, chính cái đó mình không gặt hái kết quả, mình mất một giờ tu thiền, toàn là sài tâm bất thiện cả. Điều đó vô cùng quan trọng. 

Qúi Phật tử ngồi thiền xuống trong trạng thái chánh niệm và có trí tuệ, giai đoạn ngồi xuống, chân co lại, tay mình hạ xuống dần dần như thế nào, mình phải theo dõi những hành động đó, những trạng thái đó phải trong chánh niệm và trí tuệ. Nếu qúi Phật tử không làm điều như vậy thì qúi Phật tử dính vô trạng thái mau lẹ thiện hay là bất thiện. Sư nhắc qúi Phật tử ngay lúc đó từng mỗi phút giây đó phải cẩn thận.

Khi ta ngồi xuống, sửa tới sửa lui, thấy êm ái, thấy thích hợp, trong trạng thái niệm niệm niệm, rồi trí tuệ phân tách thấy rõ, bắt đầu yên lặng, bắt đầu theo dõi thở hơi thở đều đặn, lúc đó ta có chánh niệm và trí tuệ, chứ không phải chúng ta làm mà không có chánh niệm và không có trí tuệ, đa phần qúi Phật tử có chánh niệm không có trí tuệ.

Ngồi thiền được 5 phút thì trạng thái êm ái qúi Phật tử thích, rồi ngay khi đó một sự thích hợp đến làm cho ta vui mừng, chẳng hạn như hơi thở chúng ta đạt liền, có những người vừa vô 5 phút họ đạt kết quả liền, Sư nói thật điều đó qúi Phật tử sẽ thấy chứ không có gì thắc mắc cả, nhưng có người ngồi đợi nửa tiếng cũng không thấy sự việc gì hết, ngồi hoài không thấy pháp nhưng có người vừa vô 5 phút họ thấy pháp liền vừa thấy pháp hiện bày họ dính vào đó, nhưng mà lúc đó họ lại là Tham Câu Hành Hỉ, Tương Ưng với Tà Kiến, Vô Dẫn. Vừa thấy pháp hiện bày họ dính vô đó, họ không có niệm để buông bỏ mà họ đeo theo thích, họ hoan hỉ, hỉ lạc đó, cái này tôi đi tìm, cái này đúng là cái tôi đang muốn có, chỗ này lâu lắm chúng tôi mới được hưởng. Đó là Tham Câu Hành Hỉ, Tương Ưng với Tà Kiến, Vô Dẫn, nhanh lắm. Ngay khi đó qúi Phật tử cắt bỏ tâm dính mắc liền, niệm bỏ tâm thích đó liền không để nó cột trói tâm mình lại lôi cuốn mình ở trong bất thiện của một tâm tham sai lầm khi ta đang ngồi thiền chỉ là một tâm bất thiện mà thôi.

Chúng ta lấy thí dụ bên ngoài, một đứa bé mau lẹ (vô dẫn) ăn cắp một trái xoài nghĩ rằng mình không tội (tương ưng với tà kiến) nên hoan hỉ vui thích (câu hành hỉ)

Nếu như chúng ta đổi qua tâm thứ hai, chúng ta đổi từ vô dẫn qua hữu dẫn, 2 yếu tố trên giống nhau

2) Tâm tham thứ hai - Câu hành hỷ Tương ưng với kiến  Hữu dẫn

Thí dụ, được người mẹ xúi dục đứa bé lấy cắp một trái xoài cho rằng là không tội có trạng thái hoan hỉ thoả thích.

Những cái đó là những trạng thái tâm lý thông thường của chúng sanh, người nào cũng có, từ nhỏ cho tới lớn không bất kể một chúng sanh nào, dù lứa tuổi nào không có quan trọng. Nhưng mà ở đây chúng ta luôn luôn có hai loại đó; lời của người xúi dục ta, thân của người thúc đẩy ta, ý của người thôi miên ta dẫn dắt ta hành theo cũng là hữu dẫn.

Có những nhà thôi miên được người khác, họ sai khiến người khác thực hiện, có những người ở nhà mà có thể sai khiến một người ở xa, họ dùng cái tâm của họ đọc được tâm người kia, kêu ngồi xuống, người kia ở nhà người kia, đang đi ở trong nhà của họ giờ phút đó họ giựt bắn người lên, họ bị sai khiến trở lại ghế ngồi xuống, tiếp tục họ sai người kia nằm xuống, nhắm mắt lại, người bị thôi miên làm theo lời người sai khiến, cái đó là ý hữu dẫn người. Cái đó là kỹ thuật, kỹ thuật đó không làm gì cả nhưng chúng ta đọc được tâm con người bị sai khiến bởi ý của người khác. 

Thân của người sai khiến được ta, lời của người sai khiến được ta, Ý của người sai khiến được ta. 

Chẳng hạn như mẹ của Sư thường hay nhắc nhở hàng con trong nhà, khi nào mẹ có khách thì tất cả tụi con đừng lai vãng trong phòng khách để mẹ với khách nói chuyện không bị ồn ào xáo trộn. Thì lúc đó làm sao anh em Sư biết được, thì mẹ Sư nói: khi mẹ nhìn các con thì ánh mắt nhìn của mẹ không muốn các con ở đây thì các con đi chỗ khác liền. Ngày hôm sau khách tới mẹ Sư cũng bưng nước trà mời khách rồi quay lại ngó, anh em Sư nhìn biết ý mẹ lặng lẽ rời khỏi phòng khách để ba mẹ tiếp khách không bị ồn ào. Đó là ý hữu dẫn ta thực hiện. 

Có những cái Đức Phật Ngài chỉ nhìn thôi là Ngài Ananda hiểu được, Ngài Ananda khi đi theo Đức Phật, Đức Phật nhìn qua một cái Ngài Ananda hiểu liền nhưng chưa hiểu nguyên nhân là gì hỏi Đức Thế Tôn, 

- "Bạch Đức Thế Tôn, sao Đức Thế Tôn nhìn con vậy". 

- "Này Ananda, đây là Như Lai cho con biết người này quá khứ là một keo kiệt hôm nay sinh trở lại làm đứa bé ăn xin nghèo khổ xấu xi". 

Đức Phật chỉ nhìn thôi là Ananda hiểu liền, chính cái đó gọi là ý hữu dẫn ta.

Tâm của con người chúng ta có hai loại: 

1) Tâm tham thứ nhất - Câu Hành Hỷ - Tương Ưng với Tà Kiến - Vô Dẫn

2) Tâm tham thứ hai, - Câu Hành Hỷ - Tương Ưng với Tà Kiến - - Hữu dẫn

Trong đời sống hàng ngày chỉ cần kiểm soát hai tâm đó thôi chúng ta cũng thấy thoả thích được tâm của mình rồi.

Qúi Phật tử lái xe đi chơi  thấy thích hợp thấy thoải mái không muốn về nhà lái vòng vòng đi chơi, lúc đó tâm của mình là Câu Hành Hỷ, thấy đi chơi sướng hơn ở nhà làm việc cực hơn, nghĩ không có gì tội lỗi hết là Tâm Tham Tương Ưng với Tà Kiến, mình thích ngồi lâu ở đó là Vô Dẫn, mà mình ngồi còn kéo lôi thúc đẩy là Hữu Dẫn.

Những cái đó luôn luôn là vậy, khi ăn cũng vậy, khi ta ăn, ta nhìn thấy vật thực, đối với người xuất gia, người tu, ăn mà không có ấn tượng thì tâm gọi là Tâm Tham Vô Dẫn, người xuất gia có quán tưởng ăn từ từ thì tâm đó gọi là tâm Hữu Dẫn. Mỗi lần quán tưởng là "vật thực này ta ăn để nuôi mạng chứ không phải là nuôi xác thân cho tốt", lúc đó sài tâm Hữu Dẫn. 

Thì qúi Phật tử cũng vậy thôi, khi thấy vật thực mang đến qúi Phật tử thò tay bốc liền là vô dẫn, ngồi suy nghĩ là hữu dẫn. Nghĩ ăn cái này có tội không, ăn cái này có thiếu nợ không, là tương ưng với tà kiến và bất tương ưng với tà kiến, đời sống hàng ngày qúi Phật tử cũng vậy thôi, nếu như qúi Phật tử không quán xét hai cái tâm này qúi Phật tử sẽ dính dễ dàng trong thân kiến.

Ở đây ngay phút giây đầu tiên qúi Phật tử tìm ra được hai tâm này cho chúng ta thấy được thân kiến. Thân kiến này gọi là thân kiến kiết sử vi tế nằm trong tâm thức của ta, mỗi giây mỗi phút qúi Phật tử tìm ra thân kiến tại nơi Tương Ưng với Tà Kiến và Bất Tương Ưng với Tà Kiến.

Như vậy, khi nào qúi Phật tử thấy thân kiến này của mình ở đâu là qúi Phật tử phải nói "ta còn có tâm tham". Khi nào qúi Phật tử có một thân kiến khởi lên; sắc, thọ, tưởng, hành, thức, qúi Phật tử còn nói "của tôi", "của ta", tại đây là phải thấy là qúi Phật tử có tâm tham ở tại nơi đó.

Vậy thì: Ta diệt thân kiến kiết sử từ nơi tâm tham, tham mà ta diệt được là ta diệt được thân kiến.

Thân kiến kiết sử từ nơi tâm tham thứ nhất (vô dẫn), tâm tham thứ hai (hữu dẫn) thấy rõ ràng thân kiến.

Lúc bấy giờ qúi Phật tử thấy thân này là của ta không, lời này của ta không, ý này của ta không. Rồi, thân, lời, ý của người làm ta làm theo như vậy thì ta có thân này người kia tác động ta làm theo, ta bị chi phối bởi vì ta có nghĩ rằng là có thân này của ta.

Một người hành thiền không bao giờ muốn ai đụng tới mình, họ ngồi như vậy không ai được lại sửa họ, họ ngồi nghiêng, họ ngồi cong, họ ngồi thụng, họ ngồi không ngay, nếu như Thiền Sư lại sửa dáng ngồi của họ lại, họ bực bội, thì lúc đó là họ đang bị thân kiến không cho ai sửa hết, khi họ không cho ai sửa hết họ thấy sai chấp lầm là họ ngồi đúng, họ ngồi ngay, họ ngồi thẳng không thấy sai mà người ta sửa họ chấp mê tại đó là họ đang bị trong Tham Thân Kiến Tương Ưng với Tà Kiến, và họ mừng vui không có gì là buồn là Câu Hành Hỉ, họ thản nhiên chấp nhận giữ lấy thân không có gì thay đổi là Câu Hành Xả.

Có những hành giả ngồi thiền xong xả thiền ra họ hỏi Sư, lúc nãy con ngồi thiền có đúng không Sư", Sư nói ngồi thụng lắm lưng chưa thẳng lắm, ngẩn cổ lên thì khỏe hơi thở thông thì khỏe hơn. Không con không chịu đâu, con ngồi vậy quen rồi, con ngồi thỏai mái rồi, cái đó họ đang ở trong Tham Thân Kiến Tương Ưng với Tà Kiến, họ vui mừng giữ lấy là Câu Hành Hỉ, họ thản nhiên giữ lấy là Câu Hành Xả.

Có nhiều người cố chấp, họ ngồi thiền trên ghế quen rồi ngồi thiền dưới đất họ không chịu được, thì lúc đó họ đang đeo níu giữ cái của họ muốn có, khi có ghế mới ngồi thiền được, khi không có ghế họ ngồi thiền không được. Có một vị hành giả vào trong rừng ngồi thiền chim muôn thi nhau hót, khỉ vượn hú ồn quá không ngồi thiền được, vị hành giả bỏ ra biển ngồi trên mỏm đá thì cá giỡn dưới dòng sông cùng tiếng sóng biển ồn quá ông mở mắt ra coi hoài không tập trung thiền được. Ông giận quá, ông nguyện hôm nay chúng sanh này gây oan trái với ta kiếp sau sinh ra ta với năng lực thiền này ta làm một loài ăn hết những chim muôn vượn khỉ ta ăn hết, ta ra ngoài biển ta nhảy xuống biển ăn hết các loài cá nãy giờ vẫy đuôi đùng đùng làm ta không ngồi thiền được, ta sẽ trở thành hạng phi nhơn. Trong kinh điển gọi là Kim Xí Điểu nửa thân dưới là người, thân trên là đầu chim với mỏ đại bàng, đằng sau có một đôi cánh, hạng người đó có khi là tà kiến có khi là chánh kiến, do đó qúi Phật tử sẽ thấy loại người đó trong kinh điển có nói như vậy đó, thì cái đó là oan trái.

Hôm nay chúng ta học hai tâm, tâm thứ nhất và tâm thứ hai câu hành hỉ tương ưng kiến vô dẫn và hữu dẫn mình phải nhớ.

Chúng ta qua tâm thứ ba.

3) Tâm thứ ba là:  Câu Hành Hỉ Bất Tương Ưng với Tà Kiến Vô dẫn

Tức là tham có sự vui mừng thoả thích mà không thấy sai không thấy tội một cách mau lẹ dính mắc vào đó, gọi là Tham Câu Hành Hỉ Bất Tương Ưng với Tà Kiến Vô Dẫn.

Thí đụ: 

Khi ghi danh học trong một thiền đường họ có khóa tu, mà khoá tu đó sẽ đưa ra một nội quy rõ ràng, giờ nào là giờ chỉ tịnh (giờ nghỉ) giờ nào là giờ hành thiền tọa, giờ nào thiền hành chúng ta phải rõ ràng. Thì khi ghi danh vào đó thì qúi Phật tử phải thực hiện theo thời khóa đó, giờ ngồi phải ngồi cho đúng giờ, giờ đi phải đi cho đúng giờ, không thục tới thục lui, thêm thì không sao mà thiếu là không được.

Có một số hành giả sau khi ghi học khóa thiền, vô ngồi thiền xong nhưng họ thấy 1 giờ ngồi không nổi, 45 phút xả thiền ra, thiền sư thấy, nhắc mình phải ngồi tiếp, nhưng vẫn đứng lên bỏ ra về. Thì lúc bấy giờ họ vui vì xả thiền trước 15 phút (Câu Hành Hỉ), họ thấy không gì là tội là sai (Bất Tương Ưng với Tà Kiến) tại vì họ không thấy mình thiếu nợ 15 phút trong 1 giờ thiền đó mình đã hứa khi ghi danh, và họ mau lẹ hành xử rời khỏi thiền đường (Vô Dẫn). 

15 phút đó Thiền Sư đã ra công coi mình tu tập, mà mình bỏ 15 phút đó là mình đã thiều nợ vị Thiền Sư. Qúi Phật tử không làm được phải nói trước, mà qúi Phật tử không làm được điều đó mà bỏ ra về, còn 15 phút không qua khỏi bỏ đi về lý do nào cũng được.

Muốn được xả thiền sớm là có tâm tham và,

 - Thứ nhất, câu hành hỉ, hoan hỉ xả thiền

- Thứ hai, bất tương ưng với tà kiến, nghĩ là không tội

- Thứ ba, vô dẫn,  mau lẹ buông bỏ không nói trước với vị Thiền Sư 

Như vậy là dính vào: Tham câu hành hỉ, bất tương ưng với tà kiến và, vô dẫn

Rồi vị Thiền Sư đến nói "ông thiếu thiền đường chúng tôi 15 phút", trả lời là "không có, tôi làm theo khả năng thôi, không có gì tội cả (bất tương ưng với tà kiến) 

Như vậy thì qúi Phật tử phải nói trước với ban tổ chức là ngồi 1 giờ không được. 

Thêm giờ ngồi thiền được thì tốt, còn nếu thiếu thì là nợ, mà tội ở nơi đó là tại vì mình muốn được như vậy là mình có tâm tham. qúi Phật tử phải cẩn thận coi tâm của mình.

Đứa bé vô trong chùa ăn cắp một trái xoài, biết rằng đói vụng cần phải ăn nhưng vì đứa bé ăn soài mà chưa xin phép Chư Tăng là có tội nhưng vì đói vụng phải ăn, mau lẹ ăn cắp ăn liền, hay là mau lẹ lấy nước uống liền vì khát nước biết là có tội mà vẫn làm là bất tương ưng với tà kiến.

Còn nghĩ là của chùa lúc nào lấy cũng được và không tội là tương ưng với tà kiến.

Tương Ưng với Tà Kiến ( Ditthigatasampayuttam) là nghĩ rằng không tội nên lấy nên làm

Bất tương ưng với tà kiến (Ditthigatavippayuttam) là biết rằng có tội như vẫn làm.

Nếu qúi Phật tử cho rằng không tội là Tương Ưng với Tà Kiến, ăn cắp trái soài biết có tội nhưng vẫn ăn cắp là Bất Tương Ưng với Tà Kiến. 

Xả thiền trước 15 phút cho rằng không tội không thiếu nợ với thiền đường là Tương Ưng với Tà Kiến, nhưng xả thiền trước 15 phút vì hoàn cảnh chịu không nổi phải xả thiền biết rằng đây là có tội thiếu nợ với thiền đường là Bất Tương Ưng với Tà Kiến.

Bất Tương Ưng với Tà Kiến nhẹ tội hơn là Tương Ưng với Tà Kiến.

Vô Dẫn (Sasankhàrikamekam) nặng tội hơn là Hữu Dẫn (Sasankhàrikamekam) .

Sư phân biệt 8 tâm, qúi Phật tử sẽ thấy tội nào nặng hơn tội nào nhẹ hơn 

Vô dẫn nặng tội hơn hữu dẫn. Qúi Phật tử vô thấy trái xoài ăn cắp liền là tội nặng, còn bị người xúi ăn cắp đi ăn cắp đi rồi chia hai là hữu dẫn thì tội nhẹ hơn (tội thì không chia hai mà là tội ai nấy chịu). 

Nhưng mà tội ai nấy chịu nhưng tội người lấy và tội người xúi lấy còn theo tác ý nữa.

Ở đây qúi Phật tử học qua 

4) Tâm tham thứ tư là: Câu Hành Hỉ Bất Tương Ưng với Tà Kiến Hữu Dẫn.

Tham câu hành hỉ, bất tương ưng với tà kiến, hữu dẫn là tâm tham thứ tư

Như vậy chúng ta qua được 4 tâm tham này thì:

1) Tâm tham câu hành hỉ tương ưng với tà kiến vô dẫn - tội nặng nhất

2) Tâm tham câu hành hỉ tương ưng với tà kiến hữu dẫn - tội nặng nhẹ hơn một chút

3) Tâm tham câu hành hỉ bất tương ưng với tà kiến vô dẫn - tội nặng nhẹ hơn một chút nữa

4) Tâm tham câu hành hỉ bất tương ưng với tà kiến hữu dẫn - tội nhẹ nhất

Qúi Phật tử ngay khi giết một con kiến sài tâm sân, trước khi giết con kiến là muốn giết con kiến thì sài tâm tham (vì có chữ muốn nên là tham).

Giết con kiến khi đưa tay xuống giết con kiến là tâm sân, nhưng qúi Phật tử muốn giết con kiến này là tâm tham.

Ăn cắp là tâm tham, muốn ăn cắp cũng là tâm tham, ăn cắp cho bỏ ghét sài tâm tham và sân.

Tất cả tham sân đều do si là gốc. tham do si, sân do si hiện bày ra tất cả. Vì si mà ta tham, vì si mà ta sân, cái đó chúng ta không phải lo, khi qua phần si sẽ giải thích rõ hơn.

Ăn cắp cho bỏ ghét là tham sân, thương chúng sanh bị bịnh nan y, chẳng hạn thương con chó bị bịnh nan y đau nhức hành hạ đau khổ, không muốn kéo dài sự đau khổ, chúng ta giết nó bằng dao hay tiêm thuốc vào cho nó chết, ngay phút giây giết con chó sài tâm sân, mà muốn giết nó sài tâm tham, trạng thái quyết định cái đó là trạng thái si mê.

Sư ở trong trạng thái nan giải 3 lần, 2 năm liền Sư bị 3 cái nan giải, Sư có 3 con chó bên Cali, Sư đi nó thương quá nó ngã bịnh, một con bị hoại huyết, Sư đưa vô bệnh viện thú y chữa bịnh hoại huyết cho nó tốn 7,000 dollars có người Phật tử của Sư đã trả tiền chi phí để chữa bệnh cho con chó đó mà cũng không qua khỏi, cô đó báo tin là bác sĩ nói phải rút kim ra chứ nó không qua khỏi, Sư trả lời không rút kim ra, cứ để đó nuôi nó cho tới khi nó chết thì thôi. 

Mình rút kim ra là nhân quả sẽ trở lại mình, tới phiên mình nằm bịnh cũng sẽ bị rút kim ra. Sư phải dằn co như vậy, vị bác sĩ thú y gọi qua nói chuyện với Sư là dùng lòng bi mẫn cứu nó cho nó giải thoát sớm đừng để nó đau đớn thể xác nó, nhưng Sư nói không, đừng nản, cũng không nên nói pháp Sư nghe, tại vì Sư biết pháp, Sư đối diện được Pháp và Sư giải quyết theo Pháp, lúc đó Sư bị dao động, tới khi Sư nhẹ tâm Sư tịnh tâm một chút xúi thì quả nó tới trở ngược về Sư liền. 

do đó lúc đó qúi Phật tử nghe thấy cái tâm của mình là thương chúng sanh là tâm từ, tâm bi, tâm thiện, nhưng hành động của mình giết một chúng sanh cứu nó qua khỏi căn bịnh nan y trong lúc đó mình hiện bày một cách bất toàn niệm là tâm sân, mình quyết lòng thực hiện cái đó làm tham, mà thấy không tội là tương ưng với tà kiến, làm một cách mau lẹ là vô nhẫn.

Dễ sợ vậy đó, Sư gặp trường hợp đó 3 lần, 3 con chó 

Thiền sinh: Thưa Sư, bây giờ mình làm bản di chúc về nếu mình bị như vậy mình không muốn dùng ống thở để mình đi luôn, như vậy mình có tạo nghiệp không?

TT trả lời: Đúng vậy, là mình tạo cái nghiệp cho mình, cũng như mình giúp người ta chết hay là mình làm bản di chúc là mình không muốn dùng ống thở, nó giống như là mình tự sát, mình không sát sanh, nhưng mình không chịu dùng ống thở là mình giết mình cũng là sát sanh, tại vì mình là chúng sanh. ./.


Wednesday, August 4, 2021

Vi Diệu Pháp 07 - Tâm Dục Giới - TT Sán Nhiên

 Tâm Dục Giới  - Vi Diệu Pháp 07 - TT Sán Nhiên

Minh Hạnh đã được nghe để học và, xin ghi chép lại theo sự hiểu của chính mình từ video giảng "Vi Diệu Pháp 07" do TT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức. Và xin thành kính cảm tạ ơn TT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.

Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh

TT Sán Nhiên: Tuần trước chúng ta học Tâm biết các cõi và chúng ta biết Hiệp Thế và Siêu Thế. 

Tâm Hiệp Thế là tâm biết 3 cõi: Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới. 

Tâm Siêu Thế biết về Đạo Quả và Niết-bàn. 

Hôm nay, học phần Tâm biết các cõi. Đầu tiên qúi Phật tử sẽ học Tâm biết về cõi Dục Giới gọi là Tâm Dục Giới là tâm biết về ngũ dục tăng trưởng, hồi xưa dịch là ngũ dục công đức.

Ngũ dục tăng trưởng là những gì liên quan tới, sắc, thinh, khí, vị, xúc, làm cho chúng sanh ở trong cõi dục giới này duyên theo hay dính mắc vào. Có những người ưa thích về cảnh sắc, có người ưa thích về âm thanh, có người ưa thích về mùi, có người ưa thích các vị, có người ưa thích xúc. Nên người ta gọi lả duyên theo ngũ dục tăng trưởng. Những thứ này có chất hút lôi cuốn, nó níu kéo ta vào đó. Có những người thích cảnh sắc, họ đắm đuối nhìn vào trong cảnh sắc đó, họ đeo đuổi trong cảnh sắc đó không buông rời khỏi cảnh sắc đó, do đó gọi là tăng trưởng lên hoài.

Ngũ dục lôi cuốn đeo đuổi ta từ kiếp này qua kiếp khác, không dứt ra được, do đó cuộc sống của chúng sanh ở trong cõi Dục Giới này nói về tuổi thọ ngắn hơn tuổi thọ của chúng sanh ở cõi trời Sắc Giới, Vô Sắc Giới.

 Các cõi, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, những người ở nơi đó là các vị hành giả tu tập về thiền họ chỉ có một đối tượng hay một đề mục để nuôi dưỡng tu tập và, họ tu tập từ cõi người  được sanh về cõi trời, tại đó họ hưởng tuổi thọ chứ không có một cái gì bám víu níu kéo trong cõi họ đang ở.

 Ở cõi Dục Giới này ngũ dục đeo đuổi ta một cách rất khắn khích và chúng ta không thể rời xa được, nó lôi cuốn đeo đuổi ta từ kiếp này qua kiếp khác. Một người trong giờ phút cận tử lâm chung thường hay bị đeo níu một cảnh vật nào đó làm cho chúng sanh đó lại đi tục sanh tiếp tục. Có những người đeo níu ở trong đó thời gian là 7 ngày trước khi họ chết những cảnh nào đến với họ và đủ để tâm họ dính vào đó, họ đi theo cảnh đó. Do đó, ở cõi Dục Giới này sự thật nó có tính chất đeo níu nhiều hơn ở hai cõi Sắc Giới và Vô Sắc Giới.

Chúng ta nói trở lại cõi Dục Giới. Ở cõi Dục Giới có hai lãnh vực: khổ và vui, cõi hạnh phúc và khổ đau, hay cảnh an lạc và cảnh đau khổ của chúng sanh.

 Cõi Dục Giới được chia làm 3:

1) Bốn khổ thú

2) Cõi người

3) Sáu cõi Chư Thiên (Lục Dục Thiên).

Như vậy, trong cõi Dục Giới chia ra tất cả 3 lãnh vực: Bốn khổ thú, cõi người và sáu cõi Chư Thiên (Lục Dục Thiên) cộng chung lại Tâm Dục Giới có tất cả 11 cõi.

1) Thứ nhất là Bốn khổ thú

Cõi bốn khổ thú gồm:

1) Cõi địa ngục (Niraya)

2. Cõi bàng sanh (Tiracchānayoni)

3. Cõi ngạ quỉ (Pittivisaya)

4. Cõi atula (Asurakāya)

Chúng sanh ở địa ngục không một phút giây nào an vui, từ khi đọa xuống do  ác nghiệp đã tạo ra phải chịu thọ lãnh khổ đau suốt thời gian ở trong đó tới khi ra trả hết nghiệp. 

Cõi địa ngục có hai loại địa ngục, có những loại địa ngục lạnh khủng khiếp, lạnh tới mức chúng sanh ở nơi đó chết đi sống và, có những loại dầu sôi lửa đỏ. Thì khi bị đọa xuống đó lạnh quá chịu không nổi chết liền rồi sống lại,  thì tính là một kiếp, chảo dầu sôi nóng đỏ chúng sanh lọt vô trong đây vừa đụng vô dầu sôi là chết liền tuột xuống đáy dầu sôi, rồi ló đầu lên sống lại rồi chết là tính một kiếp. Cõi con người sống tới 100 tuổi thọ mới chết tính một kiếp. Trong thời Đức Phật, Ngài Mục Kiền Liên được đi xuống cõi địa ngục Ngài thấy được hiện tượng và Ngài đem câu chuyện nói lại cho Đức Phật nghe, khi  Đức Phật nghe thì Đức Phật xác minh và Ngài tuyên bố câu chuyện về địa ngục như vậy. Ngài cho biết do nhân nào chúng sanh rớt trong địa ngục và ở trong đó họ khổ như thế nào.

 Hồi xưa kia có một số đệ tử Phật tại gia và thậm chí luôn cả người xuất gia  họ suy nghĩ nếu ta đi vào Niết-bàn thì ta không còn hưởng lạc thú trong tam giới này nữa, mặc dầu họ biết tam giới như hỏa trạch như lửa lò đốt cháy con người chúng ta mỗi phút giây.

 Cho dù như ta đang ở trong nhà có máy lạnh hay chăn êm nệm ấm đi nữa Đức Phật vẫn nói là đây là cảnh khổ của chúng sanh chưa phải là cảnh an vui. Cảnh an vui là Niết-bàn tiếng Pali là: 

Nibbanam paramam sukham - Niết-bàn là sự an vui tuyệt đối 

Đức Phật Ngài luôn luôn cảnh tỉnh hàng Phật tử xuất gia cũng như tại gia hãy nhìn là; chúng sanh con người của ta thua loài chim  nữa, là chim ở trên cây khi nó trượt chân xuống thì nó có đôi cánh hạ từ từ xuống không bị bể thân của nó, nhưng con người ta leo lên cây mà trượt chân xuống thì rớt xuống, thứ hai nữa khi ta ra khỏi cõi trời Phi Phi Tưởng Xứ ta rớt xuống y như vậy, không biết đi đâu, cái nghiệp tốt của tuổi thọ của  Phi Phi Tưởng Xứ nó nối tiếp qua đó là nghiệp đó dẫn mình đi tục sanh, khi nghiệp đó dẫn đi tục sanh nếu mà là bất thiện thì rớt xuống bốn cõi thú liền, địa ngục, ngã qủi, atula, bàng sanh duyên theo đó mà hưởng. 

Cũng như qúi Phật tử biết lái xe, qúi Phật tử sẽ nói là "tôi chạy xe kỹ lắm không ai được đụng tôi". Nói như vậy là  không thể được. vì dù mình lái xe kỹ như thế nào mà người ta do lý do gì đó họ đụng mình thì mình không thể tránh khỏi. Do đó, khi ra ngoài đường mình phải nuôi trong đầu là sẵn sàng để đối diện với bất cứ chuyện xảy ra, biết đâu bốn đường khổ thú ta sẽ rơi xuống đó, phải nghĩ như vậy mới được. Nếu chúng ta không chịu nghĩ như vậy thì Đức Phật nói chúng sanh sẽ sống trong sự dễ dui khinh suất và tạo ra những hành động không cân nhắc, thì lúc bấy giờ sẽ đưa đến bất thiện nghiệp và ác nghiệp trong khi đó chúng ta không biết là ta tạo ra bao nhiêu nữa. Qúi Phật tử nhớ như vậy đó.

Như vậy, ở Tâm Dục Giới biết được 11 cõi Dục Giới, trong 11 cõi Dục Giới này chia ra làm bốn loại khổ thú: địa ngục, ngã qủi, atula, súc sanh hay bàng sanh. 

2) Thứ hai là cõi người. 

Trong cõi người lại có nhiều loại người. 

1) Người sinh ra bị khuyết tật, từ trong bụng người mẹ sinh ra bị khuyết tật rồi tới ra đời sống đầy dãy khổ đau, không gặp được nhiều may mắn. 

2) Người thứ hai, được sinh ra ngoài đời được đầy đủ không bị khuyết tật nhưng bị lù đù không có trí tuệ, thì người này cũng khổ. 

3) Người thứ ba, đáng được nói là người sinh ra ăn ở hiền lành mà phải có trí tuệ, người đó mới là người có giá trị. Chứ còn nếu như người hiền nhưng không có trí cũng không đáng để nói tới. 

Do đó ở đây chúng ta sẽ thấy có 3 loại người, thì 3 loại người này là 

1) người sinh ra bị khuyết tật, 

2) thứ hai là người hiền lương nhưng không có trí tuệ.

3) người vừa hiền vừa có trí.

Trong 3 loại người đó, không ai biết được mình sẽ là loại người nào, sinh ra ta là cha mẹ, mà nghiệp báo quyết định con người của ta ở trong đời, ta chỉ mượn thai bào để được ra đời chứ ta không quyết định được mình là người loại nào.  Khi biết được điều đó, đầu tiên ta không trách cha mẹ và cũng không buồn khi con cái trách lại mình, mình ở giữa mình có ra sao mình cũng phải chịu cái nghiệp của mình đã tạo quá khứ.

Thì qúi Phật tử có biết là mình sanh ra trở thành người không biết khuyết tật không, không biết được, con chim sanh ra cái trứng chứ nó đâu biết từ cái trứng con nó sanh ra bị khuyết tật, con bò cũng vậy thôi, nó sanh con nó ra nó đâu biết con nó bị khuyết tật, con người chúng ta cũng vậy thôi, 

Do đó, chúng ta sanh ra được trở thành người là mừng, nhưng may mắn khi biết mình có ở hạng không khuyết tật, càng mừng hơn nữa mình được làm người hiền có trí. Người hiền có trí là người đặc biệt nhất trong đời, như hạng bồ tát, như Bồ Tát Sĩ Đạt Đa được sinh ra vừa là người hiền lương vừa có trí tuệ. 

 Có một cô Phật tử Sư biết, hiền lắm không có chuyện gì mà thấy dữ, khi cô đứng ủi quần áo thấy những con kiến đi ngang qua cô lấy bàn ủi cô ịn ịn hết những con kiến, cô không thích kiến. Qúi Phật tử thấy những lúc đó họ vô tình lắm họ làm rất vô tư.  Sư có ông cậu, là cậu của ông thân Sư ở bên Houston người rất hiền, cả một đời không nói nặng ai hết, nhưng ông rất ghét những con gián, thấy là ông giết, kỳ rồi Sư đến thăm gặp và nói: "Ông đừng có giết gián nữa, ông 97 tuổi rồi ông trường thọ rồi, do kiếp quá khứ ông không giết gián nên ông mới được trường thọ như bây giờ, nên kiếp này mà ông không giết gián thì kiếp sau ông sẽ thọ lắm." Nói hoài mà ông không nghe cứ thấy gián là giết liền. 

Đó là người thấy hiền nhưng không có trí, họ không đo lường nhân quả, họ không đo lường hiện tại nghiệp trổ sanh nghiệp quá khứ, trổ sanh vị lai, trổ sanh trong cảnh khổ, khi đó họ rớt xuống vào khuyết tật hay vào bốn cõi khổ, đó là hạng người thứ hai đứng ở giữa ngã 3 đường, có thể họ rớt xuống là khuyết tật hay là rớt xuống bốn con đường ác đạo mà họ không biết, họ không có ngừa, không cẩn thận, không đắn đo lo lắng và họ làm một cách rất thoải mái.

3) Thứ ba là sáu cõi Chư Thiên (Lục Dục Thiên).

1) Tứ Thiên Vương.

2) Cõi Đao Lợi.(Tavatimsa)

3) Cõi trời Dạ Ma

4) Cõi Đâu Xuất Đà

5) Hóa Lạc Thiên

6) Tha Hóa Tự Tại.

Đó là sáu cõi trời Dục Giới.

1) Cõi trời Tứ Thiên Vương: Những Chư Thiên ở trong nhà của Qúi Phật tử, Chư Thiền ở trên các chùm cây, hay ở nơi, sông, núi, ao, hồ, biển cả, đại dương, những Chư Thiên đó gọi là Chư Thiên bậc thấp, Chư Thiên bậc thấp đó nằm ở trong lãnh vực của Tứ Thiên Vương cai quản.

2) Cõi trời Đao Lợi là cõi trời của vua trời Đế Thích ta gọi là Sakka, một số kinh Hán tạng có nơi gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế, đó là thần thoại hóa của người Trung Hoa. Nhưng, thực ra các vị Trời ở đó không có tư tưởng giống như trong kinh điển của bên Hán Tạng diễn tả. Tiếng Pali là Sakka là vị Trời này là chủ Chư Thiên ở Tam Thập Tam Thiên họ chăm sóc đời sống của Chư Thiên ở Dục Giới này và cõi nhân loại này là cõi trời Đao Lợi.

3) Cõi trời Dạ Ma, họ hưởng phước lạc và họ không có một cái gì gọi là ưu phiền lo âu, cõi trời Đao Lợi và cõi trời Tứ Thiên Vương  còn có vui có buồn, cõi trời Dạ Ma không có buồn phiền họ lên đó hưởng phước, hưởng an lạc trên đó cho tới hết tuổi thọ họ đi.

4) Cõi trời Đâu Xuất Đà, cõi trời của các vị bồ tát tu tập balamật khi họ thác ở cõi nhân loại này và balamật của họ chín muồi và họ không bị đứt gãy bị hoại balamật thì họ được sanh về cõi trời Đâu Xuất Đà, tại nơi đó họ tiến tu balamật nữa cho tới khi nào đạt được thành tựu kết quả balamật của họ thì họ sẽ xuống cõi nhân loại tu kiếp chót để đạt thành quả mà họ tu tập. Đức bồ tát Di Lạc đang ở cõi trời Đâu Xuất Đà Ngài đang làm việc giảng dạy cho Chư Thiên, Phạm Thiên, chúng sanh có balamật nghe giáo pháp của Ngài, nhưng Ngài chưa thành Phật mà Ngài đang ở trên đó trưởng dưỡng balamật cho đến chín muồi, và sau khi hết Phật pháp của Đức Phật Gotama này thì lúc đó chúng sanh tuổi thọ giảm xuống 10 tuổi và sau khi giảm xuống 10 tuổi thì tuổi thọ chúng sanh tăng lên lại 84,000 tuổi thì lúc bấy giờ bồ tát Di Lạc ở trên trời Đâu Xuất Đà mới được Chư Thiên và Phạm Thiên thỉnh mời xuống nhân loại một lần chót, lúc đó thì Ngài xuống bình thường như con người và Ngài sẽ tiến tu balamật tại nơi cõi người này, rồi Ngài cũng sẽ thấy bốn hiện tượng sanh già đau chết và một vị đạo sĩ, rồi sau đó Ngài phát tâm xuất gia tự một mình ra đi và tại nơi đó tiến tu đắc đạo quả trở lại trong đời này thuyết pháp độ sanh 3 thời giáo pháp. Đó là thời kỳ của Đức Phật Di Lặc. 

Quả địa cầu của mình chia làm 4 giai đoạn: Thành, Trụ, Hoại, Diệt. Thì từ giai đoạn Thành Trụ  trải qua 3 giai đoạn 3 bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời.

Chúng ta đang ở giai đoạn quả địa cầu từ Trụ cho đến Hoại, hiện bây giờ là giáo pháp của Đức Phật Gotama đang có.

Từ Hoại đi tới Diệt là giáo pháp của Đức Phật Di Lặc.  

Sau khi giáo pháp của Đức Phật Di Lặc hoại diệt thì lúc bấy giờ quả địa cầu này hình thành 7 quả mặt trời, lúc bấy giờ nó đốt cháy quả địa cầu này lúc đó quả địa cầu nổ tung. Giai đoạn này bất cứ luận thuyết nào về khoa học hay là một tôn giáo nào đi nữa người Phật tử đừng lo lắng sợ là quả địa cầu này bị nổ tung hay đến thời kỳ tận thế, chuyện đó không có trong kinh điểu của Đức Phật. Chúng ta đang ở trong giai đoạn Trụ và Hoại mà ít Trụ nhiều Hoại hơn, tiền dần tiến dần tới, rồi tới khi giáo pháp của Đức Phật Gotama hoại diệt và tuổi thọ chúng sanh giảm xuống rồi tăng lên rồi từ Hoại đi qua Diệt thì ít Hoại nhiều Diệt rồi Đức Phật Di Lặc ra đời nói giáo pháp 3 thời độ vô lượng chúng sanh, rồi lúc đó giáo Pháp của Đức Phật Di Lặc hoại diệt thì lúc đó đến giai đoạn Diệt của quả địa cầu.

Có những Phật tử đi nghe một vài nơi nào đó cho dù là lãnh vực của khoa học hay một vài tôn giáo khác nói vấn đề là quả địa cầu đến thời kỳ tận thế, chúng sanh sống không có trạng thái an vui, còn có hiện tượng đời sống về mặt xã hội và tâm linh con cái sinh ra bất hiếu không hiếu thảo với cha mẹ, hay là, người dân sống trong đời này sinh ra tính tình nóng nảy nhiều hơn thời xưa kia ông bà tổ tiên của ta sống hiền đức, bây giờ chúng sanh nóng oi bức do đó sanh ra xấu xí hay gặp đau khổ đó là điềm sắp sửa hoại diệt của  thế gian. Trong kinh điển nói khi con cháu chúng ta càng ngày khó dạy, bất hiếu, không có luân thường đạo lý, thì mình sẽ nhìn vô đó là thời kỳ giáo pháp đang đi xuống chứ không thể nói là thời kỳ tận thế của quả địa cầu, hai cái đó khác nhau. Giáo pháp đi xuống lời dạy không còn, chính đó chúng sanh sống trở lại tập khí thói quen của nghiệp của chúng sanh, do đó mới sanh ra những trường hợp làm người xấu xí trong cuộc đời, trong xã hội, trong thế gian này, chứ chưa có phải là thời kỳ của tận thế hay là quả địa cầu hoại diệt.

Người ở cõi nhân loại có tu tập balamật và có gìn dưỡng balamật trong đời sống hàng ngày, mỗi ngày mỗi tu hay có trau dồi rèn luyện balamật khi chết được sinh về cõi trời Đâu Xuất Đà. Như ngày hôm nay ông Cấp Cô Độc, bà Visakha, con gái của ông Cấp Cô Độc đang còn ở trên cõi Đâu Xuất Đà, và những người ở bậc Nhứt Lai hay Thất Lai vẫn còn ở Đâu Xuất Đà chờ đủ duyên lành trở xuống cõi nhân loại này để tiến tu trong vòng sanh tử của Thất Lai hay Nhất Lai.

Bậc Bất Lai thì họ không về cõi trời Đâu Xuất Đà, Bậc Anahàm quả sau khi bỏ thân mạng người ở đây họ sanh về cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên, một trong năm cõi đó thuộc về Sắc Giới, mà Sắc Giới đó thuộc về Tứ Thiền Sắc Giới (tuần sau chúng ta sẽ học về cõi trời Sắc Giới sẽ được mổ xẻ thêm về phần đó) thì khi gọi là Bất Lai là không còn trở lại cõi người thì sau khi chết ở đây  các Ngài đi theo phước báu của Bất Lai về Ngũ Tịnh Cư Thiên là cõi Tứ Thiền Sắc Giới, ở nơi đó có ba cõi là: Cõi Quãng Quả, cõi Phi-tưởng-phi-phi-tưởng. và Sắc Cứu Cánh thiên (uddhamsota akanitthagàmì) là đi theo năng lực hồi tu tập; tín, tấn, niệm, định, tuệ, họ tu tới đó rồi đắc đạo quả ở nơi đó và họ vô sinh tại nơi đó luôn không trở lại cõi người này nữa mà giải thoát. 

Cõi trời Đâu Xuất Đà dành cho bậc bồ tát tu tập balamật, hai nữa là dành cho những bậc: Thất Lai, Nhất Lai, Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, các Ngài còn lên xuống lên xuống trở lại ở nơi đây để tu tập, những người đó luôn luôn sống khắn khích với Balamật và con đường đạo quả Niết-bàn, cho dù họ trở lại cõi đời này họ cũng không có nhiễu đắm theo cõi người như chúng ta đang có, họ cũng hoàn toàn khác với chúng ta, mà cho dù họ có đi vào thai bào của một người mẹ thuần túy không phải là người mẹ khác thường như hoàng hậu Maya là người cưu mang Bồ Tát Sĩ Đạt Đa trong một kiếp chót này là bà phải tu một a tăng kỳ để bà mới được làm mẹ của vị bồ tát kiếp chót nên hoàng hậu Maya không phải là một người mẹ đơn thuần thuần túy như chúng ta ngày hôm nay, bà khác hơn chúng ta, bà phải tu và kiếp nào bà sinh lên bà cũng nguyện là balamật tu và nguyện làm mẹ của vị bồ tát kiếp chót, không đứt lời nguyện và balamật vuông tròn thì mới được người bồ tát đi vào trong thai bào của mình để mà ở trong đó 10 tháng rồi từ giả cõi đời này không có một người nào quá được 7 ngày, chết sanh về cõi trời Đâu Xuất Đà, đó là niêm luật, người mẹ nào làm mẹ của bồ tát kiếp chót không có thời gian ở với người con của mình được, sinh ra là đi về cõi trời Đâu Xuất Đà, từ nơi đó Đức Phật người con của mình sẽ tu tập trở thành vị Phật đi báo hiếu vào hạ thứ 7 của cuộc đời của vị Phật đó đi lên tìm mẹ độ để trả hiếu, đó là niêm luật của Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai là như vậy. Còn đối với chúng ta đây qúi Phật tử là người nữ có khi qúi Phật tử có sinh ra đứa con những người con đó mà có duyên với Phật Giáo mà nhỡ như họ là Thất Lai hay là Nhất lai là họ đến với qúi Phật tử mượn thai bào thôi, đời sống của họ là tiến tu tiếp tục họ không sống với qúi Phật tử, họ ở trong thời gian thí dụ như 3 năm nhũ bộ hay một thời gian chừng khi họ chín muồi họ cũng cắt ái ra đi, cũng rời khỏi căn nhà của người mẹ cha đi vào con đường xuất gia và tiến tu tiếp tục con đường balamật và đạo quả.

Thiền sinh: Thưa Sư, con nghe nói là ở cõi trời Đao Lợi có hai loại hạng người: một là bên nội viện hai là bên ngoại viện, một bên lo tu một bên không lo tu?. 

TT trả lời: Sư không nghe nói điều đó.

Có trường hợp phân biệt như sau: Cõi trời Đao Lợi Thiên là cõi trời của Tam Thập Tam Thiên của 33 vị trời cai quản, có hai trường hợp có thể, chứ danh từ bên nội viện và bên ngoại viện thì không có nói đến

Có hai trường hợp là chúng sanh có chánh kiến và chúng sanh tà kiến. 

Thứ nhất, ở các tôn giáo khác những người biết làm việc thiện, giống như những hội Thánh Tin Lành, họ làm việc từ thiện đi cứu nhân độ thế trong trần gian này, thí dụ như thiên tai động đất bão tố, những người đó đến tiếp cứu giúp đỡ họ đã tạo cho mình những phước báu, cho nên  tới khi họ chết  nhờ những phước báu đó được lên cõi trời Đao Lợi để hưởng phước báu ở cõi trời Đao Lợi, nhưng họ không có chánh kiến. Do đó khi chúng ta hồi hướng phước báu cho họ thì họ không nhận, họ là người có tri kiến của một tôn giáo khác, không phải là tri kiến tôn giáo Đạo Phật của mình nên họ không nhận sự hồi hướng của mình, cho dù đó là người thân trong gia đình của qúi Phật tử đi nữa họ đã có tri kiến của một tôn giáo khác qúi Phật tử làm việc thiện hồi hướng phước báu đến người đã quá vãng họ không có nhận; một là họ từ chối không nhận, hai nữa là họ nhận không được, giống như tấm kiếng qúi Phật tử búng nước vào thì nước tuột xuống, họ đứng bên kia tấm kiếng, cái phước đến không vô được người của họ mà vô cái kiếng rồi tuột xuống. Họ ở trên cõi trời Đao Lợi, hưởng theo dục lạc của Chư Thiên, sau khi thân hoại mạng chung họ bốn cõi thú hay cõi người tuột xuống trở lại. 

Thứ hai. Còn những Chư Thiên có chánh tri kiến giống như qúi Phật tử hay là thân bằng của qúi Phật tử có chánh tri kiến sau khi thân hoại mạng chung sanh về cõi trời Đao Lợi, khi ngày sắp sửa ra đi mình quyết định được chuẩn bị cũng như bây giờ qúi Phật tử đã biết được Phật Giáo như là Đức Phật thì Ngài và qúi Phật tử lâm chung mình quyết định được, trừ khi mình ở trong trạng thái là bị coma (hôn mê) trước đó thì qúi Phật tử không chuẩn bị được lúc đó đi theo cái nghiệp của mình mà thôi. Với những người không ở trong trạng thái bị coma mà trong trạng thái ngủ tỉnh táo ra đi trong sự hiểu biết thì họ quyết định được con đường họ đến.

Thường thường họ đến cõi trời Đao Lợi nếu như họ không phải là bồ tát hay balamật thì sinh về cõi trời Đao Lợi thì họ hưởng phước của người Chư Thiên có chánh tri kiến là một, thứ hai nữa, Chư Thiên có nhiều trí tuệ để dìu dắt nhắc nhở nhau thù thắng hơn là ở chỗ Chư Thiên không có trí tuệ và không có tri kiến, họ kéo lôi vào con đường hưởng ngũ dục lạc rồi mình trôi lăn trong cảnh khổ rồi sau khi hết trở về cảnh khổ lại.

Như qúi Phật tử ở đây có phước thì từ VN qua bên Mỹ này đất lạ quê người không ai tiếp đón nhưng phước dắt mình đi tới khu an lành yên ổn không có nguy hiểm, tối ngủ không sợ trộm cướp viếng nhà mình, đó là do phước dắt mình đi, chứ mình đến xứ này đâu biết nơi nào để lựa chọn đến, trên cõi trời cũng vậy, nhưng ở cõi trời theo trong kinh điển nói còn rộng lớn hơn cõi người, ở cõi người này có bảng đường mình đi trên cõi trời không có bảng chỉ đường, giống như mình lên máy bay không có bảng chỉ đường y như ở cõi trời rồi mình đi theo nghiệp tới nơi nào mình ngừng mình ở nơi đó.

Do đó ở cõi Đao Lợi có 2 loại người là như vậy. 

Ở cõi trời Đao Lợi cũng gây chuyện với nhau, Chư thiên cũng oan trái với nhau. Do đó từ cõi Tứ Thiên Vương đến cõi Đao Lợi này còn giống như cõi nhân loại mình, họ cũng có gia đình, cũng có chồng có vợ có con. 

Tứ Thiên Vương mỗi một vị vua trời Tứ Thiên Vương có 1000 người con trai.

Cõi trời Đao Lợi do vua Trời Đế Thích (Sakka) cai quản,  khi Ngài ở cõi nhân loại có tên là Maghavā lúc đó có 4 bà vợ. Đến khi Ngài được lên cung trời Đao Lợi thì 3 bà đi theo còn bà thứ tư bị rớt lại. Vì bà thứ tư sống trong tà kiến đắm say trong ngũ dục lạc, tối ngày nghĩ tới hưởng lạc thú trong đời, Ngài Maghavā thường nhắc nhở người vợ thứ tư lo tu nhưng bà không nghe chỉ vui chơi còn 3 bà vợ kia thì lo tu, do đó khi Maghavā sanh được lên trời Đao Lợi làm vua trời Đế Thích (Sakka) nhìn qua thì thấy 3 bà yên tâm rồi mà bà thứ tư không thấy, ngó xuống cõi người thấy bà thành con cò, lặn lội tìm cá ở dưới dòng sông, thấy cũng thương tội nghiệp nên xuống độ. Lúc đó con cò đang đi kiếm cá ăn, vua trời Đế Thích thành con cá, con cò đang đi tìm cá thấy con cá chụp ăn liền, con cá nói: 

- "Ăn đi rồi tiếp tục sanh làm loài thú nữa". 

Vừa lúc con cò chụp con cá tính ăn nghe như vậy giựt mình nhả con cá ra và nghĩ câu này nghe quen quen, nhớ lại kiếp làm người có nghe câu này:

-  "Cứ sát sanh đi rồi khổ cuộc đời đó" là chồng của bà ở kiếp quá khứ có nói. 

Thì khi con cò nghe câu nói "ăn đi rồi tiếp tục sanh làm thú nữa", nó vội nhả con cá ra và khép miệng lại nhịn đói 7 ngày không ăn mà chết. Sau khi chết tái sanh thành người vợ thứ tư của vua trời Đế Thích, bây giờ đi đâu cũng đi với bà thứ tư, bà thứ tư là con của vua Atula.

Còn Dạ Ma và Đâu Xuất Đà không có vợ mà lo tu. 

Cõi trời Tha Hóa Tự Tại là cõi trời của Ma Vương ở. Còn Hóa Lạc Thiên là cận thần, quan gần gủi với Ma Vương ở Tha Hóa Tự Tại, chính cõi này là cõi đầy dục lạc nhất trong 11 cõi Dục Giới. 

Trong 11 cõi Dục Giới thì Tha Hóa Tự Tại là cõi trời của Ma Vương đầy đủ uy quyền đầy đủ khả năng để chinh phục cả Tam Giới. Ngay cả các vị trời Sắc Giới, các vị Phạm Thiên Sắc Giới, Vô Sắc Giới, cũng nằm trong  lưới của Ma Vương quản lý. 

Vua Tha Hóa Tự Tại là Ma Vương, có 3 người con gái rất giỏi luôn luôn đi theo vua cha, vua cha Ma Vương chỉ ra tay khi gặp Bồ Tát kiếp chót sắp sửa thành đạo quả, lúc đó Ma Vương mới ra tay.

Theo thường là truyền thống, Ma Vương sẽ đến đánh vị Bồ Tát kiếp chót, Ma Vương đánh với Bồ Tát dành bồ đoàn, đánh thua bỏ về cung trời Tha Hoá Tự Tại thì 3 nàng con gái mới ra nói để con ra chiêu Bồ Tát sẽ thua liền, Ma Vương mới nói: 

- "Đừng có nói vậy, Ngài đã thành Phật rồi, các con không nên khinh suất mà xúc phạm sẽ có tội". 

Nhưng ba nàng con gái của Ma Vương không sợ không nghe cha nói, đi xuống một lần nữa để đánh với vị Phật, lúc đó không còn là Bồ Tát nữa. Đánh bị thua trở về khóc với vua cha, Ma Vương nói:

- "Cha đã nói các con không nghe lấy trứng trọi đá".

Câu chuyện là như vậy. 

Nghĩa của cụm từ "Tha Hóa Tự Tại" nghĩa là họ biến hóa ra một người khác để hưởng dục lạc. 

Nghĩa của cụm từ "Hóa Lạc Thiên" là biến hóa tất cả những dục lạc để  hưởng nên gọi là cõi trời Hóa Lạc Thiên. 

Chẳng hạn, Chư Thiên ở cõi trời Hóa Lạc Thiên đói bụng chỉ cần nghĩ tới vật thực là no, nên gọi là Hóa Lạc Thiên chứ không cần phải ăn uống vật thực như chúng ta, những dục lạc như: sắc, thinh, khí, vị, xúc, nghĩ tới là được hưởng liền, họ hưởng nhưng họ không biến ra người thứ hai để hưởng. 

Đó là 6 cõi trời Lục Dục Thiên.

Trong nhà qúi Phật tử luôn luôn có Chư Thiên, nhưng, nếu qúi Phật tử ở không lành, tâm không tốt, sống với tâm bất thiện, thậm trí nữa qúi Phật tử không tin tưởng có Chư Thiên ở trong nhà mình, thì Chư Thiên ở trong nhà có cũng như không, lúc bấy giờ Atula xen vào, qúi Phật tử phải cẩn thận trong nhà của mình luôn luôn phải nghĩ tưởng đến Chư Thiên, thường làm việc phước báu nào cũng nên hồi hướng đến Chư Thiên.

 Sư nhắc nhở nhiều lần cho qúi Phật tử, ở trong nhà  qúi Phật tử muốn cầu nguyện chi thì Chư Thiên trong nhà sẽ giúp đỡ cho mình và, thứ hai nữa khi mình được Chư Thiên trong nhà giúp đỡ mình thì mình làm việc thiện chi dù nhỏ dù lớn nên chia hồi hướng phước cho Chư Thiên trong nhà trước nhất. Qúi Phật tử thấy mỗi lần học xong thì Sư thường hay đọc câu: "nhất là Chư Thiên ở trong nhà của chúng con" thì khi gặp chuyện cầu Chư Thiên giúp đỡ là vậy.

Nếu qúi Phật tử không nghĩ tưởng đến Chư Thiên thì khi qúi Phật tử gặp khó khăn thì lúc bấy giờ tâm sầu muộn khởi lên lo lắng nghĩ ngợi không an trú chỉ hiện bày có tâm bất thiện mà thôi thì Chư Thiên không đến với mình được, mà Atula sẽ nhiếp tâm mình thúc đẩy mình làm chuyện sai quấy. Chẳng hạn khi buồn quá mà không có Chư Thiên nhắc nhở mình hay giúp đỡ mình thì Atula nhắc nhở mình "tự vận đi chết cho rồi" mình đi tới trạng thái tự sát, đó là do Atula thúc đẩy.

Trong đời sống hàng ngày, mình nghĩ gì thì sẽ có cái đó, và khi nghĩ cái đó nó sẽ tương ứng với cái phước hay là cái tội mà qúi Phật tử làm sẽ theo đó ảnh hưởng tới đời sống của mình. 

Khi làm việc thiện nghĩ tới cái phước, qúi Phật tử lại còn hồi hướng thì phước đó tăng lên, những người hiền lương sẽ đến với mình rất mau lẹ và mau giúp đỡ cho mình.

Còn khi mình không nghĩ tới cái phước mà mình nghĩ đến những chuyện xấu hoặc những chuyện bất thiện thì những loài xấu đến với mình, nó thúc đẩy xúi dục mình làm ra những điều đó, rồi mình gặt hái những quả khổ đau thì lúc đó mình phải chịu trách nhiệm chứ không có ai xen vào cả.

Thí dụ, qúi Phật tử  là một người có phước ra đường có sinh ra việc bất thường gây gỗ cãi vả nhau, nếu mình có phước sẽ có một số người đến khuyên can mình dàn hoà cho mình. Nhưng nếu như mình không có phước thì lúc đó đang gây gỗ có hạng người xấu xúi dục đánh nhau rồi mình chết theo cái nghiệp của mình.

Hôm nay chúng ta bắt đầu đi vào tâm Dục Giới. 

Những tâm Dục Giới này là những tâm duyên theo ngũ dục: sắc, thinh, khí, vị, xúc, cho dù ở cõi trời Dục Giới cũng chạy theo ngũ dục để hưởng, cho dù sống nơi loài người là, người khuyết tật, hay người hiền không trí, hay người hiền trí, hay người xấu người dữ, cũng chạy theo ngũ dục tăng trưởng này hưởng thụ, cho dù chúng sanh ở trong cõi thú, địa ngục, ngạ qủi, atula, bàng sanh cũng duyên theo ngũ dục này để tìm hưởng lấy những cảnh đó, không có chúng sanh nào không đi theo ngũ dục. 

Tới khi chúng ta học Tâm Sắc Giới hay Tâm Vô Sắc Giới chúng ta sẽ thấy những ngũ dục này được cắt giảm, không còn nghĩ tới nữa, họ hưởng phước lộc thiền, họ tu ở cõi trời người này khi lên trên cõi trời Sắc Giới, cõi trời Vô Sắc Giới họ hưởng phước của thiền chứ họ không hưởng ngũ dục này.

Như vậy, lập lại một lần nữa, tâm Dục Giới cho dù là cõi khổ, cõi người, hay cõi Chư Thiên và cõi an vui chúng sanh lúc đó ở nơi đó luôn tầm cầu tìm kiếm những loại dục lạc ở trong thế gian này; sắc, thinh, khí, vị, xúc, luôn luôn tìm cầu.

Thiền Sinh: Thưa Sư, ngũ dục đó sắc là cái đầu tiên, thì con có hỏi từ lâu rồi là những người bị đọa vô địa ngục hay ngạ qủi không có thân sao họ có sắc được?

TT trả lời: Họ có thân, có hình thể, nếu qúi Phật tử đọc quyển "Petakkathà - Ngạ quỉ kinh giải" có vẽ hình thù ngạ qủi theo nghiệp của nó có thân, nó to hơn mình, không có một con người nào so bằng chiều cao của ngạ qủi, thân của chúng sanh ở cõi địa ngục cũng có, nó cũng cảm thọ khổ của cõi khổ đó nữa. Thí dụ, như ta lấy cái búa đập vào đầu ngón tay ta đau thốn như thế nào thì cũng như chúng ta lấy ngón tay ta nhúng vô chảo dầu sôi đang sôi nó đau đớn như thế nào thì chúng sanh ở cõi địa ngục họ cũng thọ lãnh cái khổ như vậy, nhưng do nghiệp của nó và thân của nó không phải giống như ta so sánh được thân ta giống như thân nó, nhưng nó có thân khác hơn thân của con người chúng ta, ngạ qủi cũng có thân, Atula cũng có thân.  

Chúng sanh đều có thân chỉ ở cõi Vô Sắc Giới là không có sắc thân, chỉ thuần là danh pháp, còn cõi Dục Giới và cõi Sắc Giới đều có sắc thân.

Cảm xúc của họ duyên theo phước và tội nghiệp báo họ theo đó.

Thiền Sinh: Có nghĩa là cái thân họ theo chiều khác mà mình không thấy được?

TT trả lời: Họ thấy mình, còn mình không thấy họ. Thứ hai, khi mình đủ duyên với họ hay họ nghĩ mình có thể giúp được họ thì họ mới hiện ra chứ không phải chúng ta muốn lúc nào cũng thấy được, không phải lúc nào họ muốn hiện ra để nhác mình được, hai cái đó khác nhau, và qúi Phật tử không có bao giờ nghĩ suy sợ ma, có duyên lắm mới gặp không phải sợ là ma cho mình gặp, đốt nhang cầu nguyện chưa chắc gặp, nhưng khi nó hiện ra là có vấn đề, một là nó nhờ mình giúp họ, hai là tới báo cho mình biết những cái gì của họ mình nghe để hiểu họ muốn gì. Nhưng điều thứ nhất họ đến nhờ mình giúp họ hiện ra mà mình bỏ chạy thì nó rượt theo, vì người ta đang cần mình mà mình bỏ chạy thì họ rượt theo.

Sư kể qúi Phật tử nghe một câu chuyện, có một ông già người miền Nam mới qua Mỹ  theo diện con cháu bảo lãnh, các con dặn ông đi đường mà lạc thì nên gặp cảnh sát nhờ chỉ đường về nhà. Một hôm ông lái xe đi lạc, ông thấy xe cảnh sát đang chạy trước xe ông, ông lái xe chạy theo xe cảnh sát đó để nhờ chỉ đường, ông cảnh sát thấy ông này chạy sau lưng mình, ông cảnh sát mới chạy vô đậu xe nhường đường cho ông già đi, ông già cũng chạy theo vô bãi đậu xe, ông cảnh sát lại chạy ra ngoài, ông già lại lái chạy theo nữa, ông cảnh sát lại thấy ông này chạy theo mình hoài, ông ngừng lại và hỏi: " ông làm gì mà theo tôi hoài vậy".  Thì ông già trả lời tôi theo ông để nhờ ông chỉ đường cho tôi về nhà. 

Thì người ngạ qủi hay Atula họ như vậy đó, do vậy qúi Phật tử đừng chạy vòng vòng như ông cảnh sát nó sẽ rượt theo, mà khi nó biết mình không giúp nó mà mình lại có tâm sợ nó nó đọc được tâm mình mà mình không đọc được tâm nó nó làm cho mình chết luôn. Không bao giờ qúi Phật tử Sư nói thiệt có duyên mà còn tiền kiếp nữa nó mới tới với mình, không phải Sư hù doạ đâu, qúi Phật tử đừng có sợ, họ đến với mình thân hình họ to lắm, nếu là ngã qủi thì lông lá xù xì. Nó không có thần thông, nó đến nhờ chia phước cho nó hay nhờ cứu nó. 

Trong Kinh có kể: 3 vị tỳ khưu đang đi trên đường khất thực thấy con ngã qủi bụng rất to, miệng nhỏ nhọn như cây kim đứng bên bờ sông khóc la khát nước, 3 vị tỳ khưu đi ngang qua thấy vậy nói:

- "Bên kia là dòng sông sao ngươi không thấy mà lại xin ta múc nước cho".

Nó trả lời:

- "Tôi chỉ thấy một bãi sa mạc khô không có nước"

Do nghiệp nó nên không thấy nước, khi đó 3 vị Tỳ Khưu mới nói:

- "Để ta múc nước cho ngươi uống".

 Thì 3 vị Tỳ Khưu ôm bình bát múc nước đổ vào miệng con ngã qủi, nhưng cái bát thì to mà cái miệng thì nhỏ, múc bao nhiêu nước đổ vào miệng nó bao nhiêu lần nhưng không có miếng nước nào vào miệng nó được, do cái nghiệp của nó mà, 3 vị tỳ khưu nói:

- Không được ta phải dừng lại, tới giờ ta phải đi khất thực rồi".

Con ngạ qủi lại đứng khóc la nữa, 3 vị đem câu chuyện về hỏi Đức Phật, Đức Phật nói rằng con ngạ qủi này trong một kiếp quá khứ thời của Độc Giác Phật, nó là một người thợ săn đi săn gặp vị Phật Độc Giác từ trên núi xuống thành phố để đi khất thực, người thợ săn nói:

- "Sáng nay ta đi săn gặp tên samon ta bị xúi quảy rồi" 

Nói thì y như vậy một ngày đi săn không được con thú nào bèn trở về trên đường thấy vị Phật Độc Giác từ trong làng đi về, vị thợ săn này nổi cơn sân  đập bể cái bình bát của vị Phật Độc Giác này. Vị Phật Độc Giác không có vật thực ngày hôm đó nên vận thần thông bay về núi Tuyết Lãnh, nguyên ngày đó Ngài không có vật thực. Cái quả đó người thợ săn bị đoạ xuống địa ngục và sau dư sót nghiệp địa ngục đó sanh vào làm ngã qủi bị đói và khát, cho dù 3 Chư Tăng múc nước cho nó uống cũng không giúp được nó uống nước cho hết khát.

 Do đó, khi gặp ma qủi là thường thường nó có vấn đề nhờ giúp đỡ nên qúi Phật tử đừng có lo sợ mà chạy, càng bỏ chạy nó càng rượt theo bởi nó đang cần mình giúp đỡ điều gì đó. 

Trong kinh có kể một câu chuyện khác. Có cô kỹ nữ tên là Serima, buôn hương bán phấn không hiếu thảo với người mẹ của mình, sống trong đời sống hưởng dục lạc, có tiền thì cất dấu dưới gầm giường, một hôm cô nàng kỹ nữ Serima này ngã bịnh chết, tại vì dính mắc trong đó ác kiến tà kiến trổ sanh làm ngạ qủi ở chỗ đó, Bồ Tát trong kiếp đó là vị thương gia trên đường đi buôn, tối đó dừng nghỉ chân tại quán trọ, ra nhà sau rửa mặt, khi Ngài đang múc nước rửa mặt thì bóng con ngã qủi đó in vào trong chậu nước, Ngài ngước mặt lên nhìn thấy nó, Ngài mới hỏi:

- "Này người đến với ta có việc cần chi nói cho ta biết"

Con ngạ qủi mới nói: 

- "Tôi là Serima một kỹ nữ sống với ác kiến tà kiến có chôn cất một hòm tiền dưới hầm giường, xin Ngài tới nơi đó mách cho mẹ của tôi biết lấy ra đem làm việc thiện hồi hướng phước cho tôi."

 Ngài Bồ Tát đi tới làng đó nhà đó tại căn nhà đó gặp người mẹ của nàng kỹ nữ Serima nói cho bà biết có tiền dưới gầm giường, bà kéo ra có hòm tiền, bà mẹ mới lấy tiền cúng dường Chư Tăng hồi hướng Serima mới hết kiếp làm ngạ qủi được sanh thành vị chư thiên ở Tứ Thiên Vương, đó là cái nghiệp không nặng còn nếu ác nghiệp nặng thì không ai giúp được. 

Do đó, khi duyên lành đến cho qúi Phật tử tu nhiều kiếp rồi ác qủi ngạ qủi tới tìm ta thì nó là bạn hiền của ta, không có gì phải sợ, còn sợ là do qúi Phật tử không có đức tin vào phước báu của mình nên mới sợ, người có đức tin không có sợ.

Thứ hai, các ngạ qủi, atula đến với qúi Phật tử là đến để báo cho qúi Phật tử điều gì, họ cũng là một loại với Chư Thiên, họ tới để báo cho mình biết chuyện gì sẽ xảy ra, đó cũng là một điều tốt chứ không phải là điều xấu mà sợ bỏ chạy.

Trở lại bài học hôm nay. 

Ở trong Tâm Dục Giới, chúng sanh ở đây luôn luôn có hai lãnh vực chúng ta cần biết, tâm của họ thường là có hai loại: tâm bất thiện và tâm thiện.

Ở đây chúng ta đừng nghĩ chúng sanh trong cõi khổ họ khhông làm việc thiện, thật ra họ có làm việc thiện nữa. Còn chúng sanh ở cõi an vui mình đừng nghĩ họ toàn làm việc thiện, họ cũng có làm việc bất thiện nữa. Do đó ở cõi Dục Giới này có hai loại này như thường Chư Thiên cũng có tâm bất thiện mà nhân loại hay là khổ thú cũng có những tâm thiện. 

Có một con chó rất tinh khôn, nó biết đường đi của vị Độc Giác Phật, mỗi lần vị Độc Giác Phật từ trên núi Tuyết Lãnh đi tới làng nó luôn luôn dắt vị Độc Giác tới nhà người này nhà người kia để lấy vật thực, vì nó đã nghe nhà người này nhà người kia bàn với nhau ngày mai chuẩn bị vật thực cúng dường đức Phật Độc Giác tới thọ bát, thì sáng y như rằng vị Độc Giác từ núi Tuyết Lãnh bay vào làng, tới đầu làng con chó bắt đầu sủa và chạy trước dẫn đường, một hôm vị Độc Giác thử coi nó có biết không, thì nó chạy một chút nó sủa nó quay trở lại đợi rồi lại chạy một chút sủa, vị Độc Giác thấy nó quẹo phải, vị Độc Giác quay lại thì nó chạy lại vị Độc Giác nó sủa vị Độc Giác đứng lại, nó tưởng biết rồi nó lại chạy quẹo phải, vị Độc Giác lại đi về tay trái thì nó chạy đứng trước vị Độc Giác rồi nó dắt đi nữa, thì tâm của nó là tâm thiện, nó muốn giúp vị Độc Giác đi nhận vật thực mau lẹ sớm trở về núi Tuyết Lãnh chớ không đi đến những nhà không có vật thực cúng dường.

ĐĐ Mục Kiền Liên đi xuống cõi địa ngục đem câu chuyện kể Đức Phật và Chư Tăng nghe các chúng sanh ở trong cõi địa ngục khi gặp đức Mục Kiền Liên đều chắp tay đảnh lễ Ngài và cầu xin Ngài giúp cho, như vậy cho thấy các chúng sanh trong cõi địa ngục gặp Ngài Mục Kiền Liên tới chắp tay đảnh lễ là tâm thiện, ở cõi khổ cũng có sài tâm thiện nữa.

Một hôm ĐĐ Mục Kiền Liên đi lên cung trời Đao Lợi là cõi Chư Thiên gặp một vị Chư Thiên đang bay ngang qua chào hỏi rồi bay đi luôn, Ngài với thần thông Ngài nhìn thấy hồi ở cõi người vị Chư Thiên này là học trò của ta bây giờ lên cõi trời đi lẹ quá không dừng lại thăm hỏi, đi tới một đoạn nữa lại thấy một Chư Thiên đi ngang qua gặp Ngài, Chư Thiên đó gật đầu một cái rồi đi luôn cũng là học trò của Ngài, họ bận rộn để hưởng dục lạc đâu có thì giờ chào đón Ngài. 

Qúi Phật tử cũng vậy, bây giờ qúi Phật tử ở đây đời sống đang chạy đua với thời gian, một ngày nào đó lỡ một vị thầy cổ xưa thời học lớp 2 lớp 3 qua đây sách cặp táp gặp mình giơ tay thầy khỏe, xong đi luôn, cái lý tưởng là phải đậu lại đón thầy nhưng khi nghiệp đến rồi muốn cũng không được vẫn tiếp tục đi theo dòng nghiệp của mình, thì lúc bấy giờ tâm mình nghĩ tới mình buồn, vì thấy thầy mình không ngừng để đón thầy được tại bị kẹt xe nguy hiểm không ngừng xe lại được nên mình tiếp tục đi, tâm mình trở nên buồn, thì khi tâm khởi lên buồn là tâm rơi vào bất thiện, cõi trời cũng như vậy.

Khi học tâm Dục Giới chúng ta thấy nghiệp đen nghiệp trắng, nghiệp trắng nghiệp đen luôn luôn chạy đua với dòng đời, cuộc sống của con người chúng sanh là như vậy, đen trắng, trắng đen chen nhau suốt cuộc đời kiếp trăm năm của mình không buông mình ra, mình không nghĩ tới đen thì mình đang trắng, mình không nghĩ tới trắng thì mình qua đen, liên tục như vậy và không ngừng một kiếp trăm năm, 

"Đường thế mịt mù trăm năm đầy tội, cửa thiền thanh tịnh muôn kiếp nên duyên" (thơ khuyến tu của hòa thượng hộ tông vansarakkhita mahāthera). là như vậy, cuộc đời của ta một trăm năm đường thế mịt mù, đường ta đi là mù mịt không có một sự sáng suốt nào, ta không tu thì cuộc đời ta đi đầy mịt mù 100 năm sống đầy tội lỗi, hết nghĩ, nói ra lời, hành động chân tay tiếp tục tạo tác với nghiệp báo một cách rất mù mịt và không cân nhắc lựa chọn hành động chúng ta mà có, 

Do đó, chúng ta có 2 lãnh vực này. 

Khi ta làm việc thiện ta biết, và khi ta làm việc bất thiện, ngay lúc đó ta cũng biết và, chúng ta sẽ nói là quên hay không rõ, lúc đó ta trả lời như vậy, chứ thực ra đã gọi là tâm là cái biết, mà đã là cái biết là biết sự tạo tác và hành động và hành động đó cũng biết làm điều đúng hay điều sai, làm điều tốt hay điều không tốt, trừ khi Đức Phật Ngài nói với Chư Tỳ Khưu "Này Chư Tỳ Khưu giới luật Như Lai đặt ra có hai hạng người không bị phạm giới mà không đứt giới không bị đứt luật. 

1) Thứ nhất là hạng người điên mất trí thì người đó không phạm giới.

2) Thứ hai, hạng người chưa học các điều học do đó không phạm vào giới thì không tính là người phạm giới.

Với người điên không tỉnh được họ mất trí rồi thì ta không bắt người đó là người phạm luật. Nhưng hạng người thứ hai là người chưa học điều học mà họ phạm giới luật thì cho rằng người đó không phạm giới luật. Thật ra đó chỉ là một cái cớ viện dẫn để nói thôi, tại vì khi mình đang thọ giới là qúi Phật tử sẽ học điều học trước khi thọ giới chớ không thể nói: "Điều này tôi chưa biết nên tôi phạm coi như là tôi không phạm giới luật với tác ý của tôi".

Do đó, khi qúi Phật tử thọ tam quy và ngũ giới là qúi Phật tử phải biết từng mọi giới với mỗi điều học của nó kèm theo cho qúi Phật tử thọ giới luật trọn vẹn, khi qúi Phật tử không giữ được các điều học mà đứt giới thì qúi Phật tử không thể nói thưa thầy con không biết điều này thì vị luận sư nói đã phạm rồi không cãi nữa.

Thí dụ, như qúi Phật tử học giới sát sanh thì điều sát sanh thì dù lớn hay nhỏ dù tác ý hay không tác ý mà đã làm ra thì qúi Phật tử phải coi cái điều đó trong điều học hay không, giới sát sanh còn hay mất. 

Do đó, thì ở đây nói đến việc thiện hay bất thiện:

- Ở cõi Dục Giới này luôn luôn có hai mặt đen và trắng, có cả hai bất thiện và thiện

- Cỏi Sắc Giới chỉ trắng và không đen, chỉ thuần tâm thiện.

-  Cõi Vô Sắc Giới chỉ trắng và không đen, chỉ thuần tâm thiện. 

Ở cõi trời Sắc Giới trừ cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên bậc Bất Lai sẽ được đắc đạo quả ở trên đó và vô sanh Niết-bàn tại đó luôn, còn ngoài ra những cõi trời khác của Sắc Giới không có điều kiện để đắc đạo quả và giải thoát.

Thứ hai cõi trời Vô Sắc Giới trừ khi những vị Nhất Lai, Thất Lai có tu tập về Thiền Vô Sắc Giới sau khi họ thân hoại mạng chung chứng đắc Nhất Lai và Thất Lai thì họ được sanh về cõi trời Sắc Giới nơi đó họ tiến tu để được đạo quả ./.