077 Paṭṭhāna
HT Sán Nhiên giảng ngày 4 tháng 10, 2023
Minh Hạnh đã nghe để học và, xin ghi chép tóm tắt theo sự hiểu của chính mình từ video giảng 077 - Paṭṭhāṇa" do HT Sán Nhiên giảng. Minh Hạnh xin chia sẻ đến qúi Thiện Tri Thức, nếu có gì sai sót xin lượng tình tha thứ, xin từ bi chỉ dạy, Minh Hạnh vô vàng cảm tạ.
Con xin thành kính cảm tạ ơn HT Sán Nhiên đã thuyết giảng bài pháp rất hữu ích để chúng con tu tập. Cũng xin chân thành cảm ơn đến qúi anh chị trong ban Hoằng Pháp của Trung Tâm Việtnamese American Mahasi Meditation Center.
Nguyện đem công đức này hồi hướng đến tứ ân phụ mẫu, đến tất cả Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, và tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nguyện cho vợ chồng con và các con cháu đời này và mãi mãi những đời sau có chánh tín và chánh trí.
Mọi sự copy, phát tán, in ấn xin ghi rõ nguồn gốc và tên người ghi chép là Minh Hạnh
Minh Hạnh
Những ngày Bát Quan Trai
1. căn bản hai ngày là ngày 15 và ngày 30
2. kế đến, bốn ngày là ngày 14, ngày 15, ngày 29, ngày 30.
3. kế đến là sáu ngày là ngày 8, ngày 14, ngày 15, ngày 23, ngày 29, ngày 30
Rồi trong bốn ngày lại chia làm loại nữa là ngày đón ngày đưa.
Thì từ đó mới ra được tám ngày là ngày 13, ngày 14, ngày 15, ngày 16 / ngày 28, ngày 29, ngày 30, ngày 1.
Thì ngày 15 và ngày 30 có ấn định của Tứ Đại Thiên Vương bốn vị đi tuần du bốn châu thiên hạ; Bắc cu lu châu (Uttarakuru), Ðông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Aparagoyana), và Nam thiện bộ châu (Jambudipa).
Rồi ngày 14, ngày 29 là 1000 người con của Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du.
Ngày 8, ngày 23 các quan đi đại thần của Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du.
Do đó ngày 13 là ngày đón, và ngày 16 là ngày đưa
Ngày 28 là ngày đón, ngày 1 là ngày đưa, cũng ra 8 ngày Bát Quan Trai.
Thì những ngày Bát Quan Trai này tức là không phải tính về ngày, mỗi một ngày ghi trên là thọ Bát Quan Trai Giới là giữ 8 giới, chứ không phải Bát Quan Trai là tính 8 ngày.
Thí dụ ngày mùng 8 Phật tử thọ giữ 8 giới, ngày 23 thọ 8 giới gọi là Bát Quan Trai.
Trai là trai tịnh, là thanh tịnh pārisuddhi mình đọc là chay lạc.
Thì có những ngày như vậy, ngày 15, ngày 30 Tứ Đại Thiên Vương đi, ngày 14, ngày 29 con Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du thành 4 ngày là ngày 14, ngày 15, ngày 29, ngày 30.
Rồi ngày 8, ngày 23, là các quan đại thần đi.
Tới ngày 14, ngày 29 các con đi,
Tới ngày 15, ngày 30 Tứ Đại Thiên Vương đi.
Rồi ngày đón ngày đưa thì các quan đại thần.
Tứ Đại Thiên Vương lo ngày 15 và ngày 30
Con Tứ Đại Thiên Vương lo ngày 14 và ngày 29
Các ngày này đều thọ Bát Quan Trai được.
Thì khi những ngày này ở cõi nhân loại chỉ ở Nam thiện bộ châu (Jambudipa) là thọ Bát Quan Trai.
Còn các cõi Bắc cu lu châu (Uttarakuru) Ðông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Aparagoyana) không thọ Bát Quan Trai, mà họ sống trong giới Sila nissita giới thường niên là họ có sẵn những giới căn bản của họ
Thì những ngày này ở cõi Nam Thiện Bộ Châu người nhân loại giữ Bát Quan Trai các Chư Thiên xuống hốt những phước đó của các vị Phật tử đang thọ đem về cho vua trời Đế Thích với các Chư Thiên ở Đao Lợi Thiên, các Ngài mới trữ phước đó mỗi năm Atula Vương tới đánh thì các Vua Trời Đế Thích dùng phước này phòng hộ lại và thắng. Do đó, thắng hay thua Vua Trời Đế Thích trông cậy vào cõi nhân loại. Thành khi cõi nhân loại làm nhiều công đức thì Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích, các Ngài Tứ Đại Thiên Vương coi nhân loại các Ngài hộ độ mình lại làm cho mưa thuận gió hòa mọi việc tốt đẹp, thời tiết không bị sái trật, mình muốn cầu nguyện gì các Ngài đều đáp ứng, các Ngài trả ơn lại mình vì mình đã làm công đức phước báu cho các quí Ngài hưởng để các Ngài được an lành.
Do đó Đức Phật Ngài nói đó là 2 chiều, phước đó là phước hữu lậu.
Còn nếu như mình thọ nguyện mình cầu nguyện phước vô lậu là nguyện giải thoát với nhân sanh định, định sanh tuệ thì cái đó là phước vô lậu thì phước đó thù thắng hơn. Nhưng, song song cái đó mình vẫn bỏ ra phước hữu lậu này để cho các Chư Thiên hưởng để Chư Thiên được sự an lành, gia đinh mình an lành, sức khỏe mình được an lành hay vợ chồng con cái mình được an lành. Đó là lợi ích việc thọ Bát Quan Trai.
Thọ Bát Quan Trai Uposatha có 2 cách :
- Giới Nguyện có 8
- Giới Ngăn Ngừa có 10 ; 3 thân, 4 lời, 3 ý
Ngày Bát Quan Trai mình nguyện các nơi chỉ giữ 8 giới thôi, người ta không nhắc tới 10 giới ngăn ngừa.
Còn nếu như quí Phật tử muốn giữ giới sát trừ của bậc Thánh thì có 3 là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, là mình có đủ 3 giới. Ngày đó mình phải có Chánh Ngữ là mình có giới sát trừ của Bát Quan Trai.
- Giới Sát Trừ là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng
Đó là đường đi của bậc Bồ Tát Giác Hữu Tình Bodhisatta, hay là con đường đi của các bậc Thánh Nhân, Sơ Đạo, Sơ Quả bắt đầu họ đi như vậy, không rời.
Có một số người chỉ đi giới nguyện 8 giới.
Trong phần giới sát trừ : Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng. Trong đời sống hàng ngày việc nuôi mạng phải là chân chánh, nghiệp báo của họ về thân, lời, ý phải trong sạch. Giới sát trừ này của bậc Thánh Nhân là đi liền một lúc chứ không tách rời.
Ngày Bát Quan Trai Uposatha lý tưởng là như vậy
Giới nguyện 8 giới là thường
Giới ngừa là cao hơn
Giới sát trừ gọi là ngăn trừ phần là giới tối thượng
Mỗi một cái mình phải nhìn bằng trí tuệ của mình. Giới ngăn ngừa là 3 về thân, 4 về lời, 3 về ý, mình ngăn ngừa không đụng vô thôi, đối với bậc Thánh thì đi 3 giới sát trừ. Ba giới sát trừ gọi là ngăn trừ phần ; Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng.
Từ trì giới thông thường, thí dụ, trì giới thông thường của mình là Thập Phúc Hành Tông, nhưng cố gắng hơn là trì giới Balamat.
Khi đến phần Sát Trừ với những người còn phải đi làm họ khó xử ; Chánh Nghiệp, Chánh Mạng họ còn khó giữ. Chỉ những người ở nhà không phải đi làm mới dễ giữ.
Mỗi một cái là có tác ý và mình có trí tuệ và mình nhìn ra việc làm, làm ít mà được nhiều lúc đó vững chắc không bị mất, có nhiều khi mình không biết mình làm nhiều mà gặt hái ít và có khi bị mất, nó không vững chắc với mình tại vì mình không có tác ý không có trí mình làm vuột hoài, chưa kể nghiệp chủ nó vuột nữa, nghiệp chủ mình dùng danh từ là ma đánh lén mình, nó đánh bất ngờ, và mình không bao giờ biết trước được, tại vì trong tiền kiếp những kiếp quá khứ hay những thời gian qua những ngày tháng qua mình làm có khi có tác ý có khi không có tác ý do đó nó cũng đã để hạt giống lại.
Thứ hai nữa, khi việc Thiện trổ sinh cái lớn thì cái nhỏ mất, mà việc Bất Thiện nhỏ lớn đều trổ hết không sót cái nào. Còn Thiện lớn mà trổ thì Thiện nhỏ mất nên khi vướng vô khổ của một cái nghiệp quả Bất Thiện thì cái quả này trổ sinh liên tục.
Do đó, mình phải có tác ý ngay khi đó mình phải nhớ tới việc Thiện, tâm của mình giữ lại việc Thiện, mình đừng để việc Bất Thiện hiện bày với mình thì quí Phật tử mới giữ được việc Thiện, còn rớt vô rồi chỉ than thôi, buồn thôi, tiếc nuối thôi là nó chồng chất lên là vuột liền, không nghĩ tới việc Bất Thiện mà phải nghĩ tới việc Thiện.
Thiền sinh hỏi: khi làm việc bất thiện nó chỉ có 7 quả thôi, trong khi đó quả thiện cho 16. Hồi nãy Sư nói khi mình làm thiện là phước báu mà trổ cái lớn trổ thì cái thiện nhỏ mất đi, trong khi đó cái bất thiện nhỏ lớn gì cũng trổ hết, thì như vậy không phù hợp.
HT trả lời: Không phải. Khi 7 quả Bất Thiện Vô Nhân là vừa hưởng quả vừa tạo tác ra tâm Đổng Lực khác rồi thì nói là ngồi thọ hưởng là không có.
Ngay khi một chúng sinh rớt xuống địa ngục họ không hưởng quả khổ mà họ ở trong đó tạo tác cái khổ, mình nhìn mình nghĩ nó trả quả nhưng không phải mà cái khổ chồng chất lên, nó tạo quả, nhãn nó vừa bắt vô, thân vừa xúc vô thì nó tạo ra Đổng Lực liền, và tạo ra nữa, rất khó, "nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục" khi mất thân làm người thì khó mà trở lại, tại vì không có cơ hội để làm việc thiện, tại vì ở trong 4 cõi khổ không có việc thiện để làm.
Ngài Jotika trong quyển sách về nghiệp, Ngài nói Thiện tạo ra cho đến lúc trổ ra thì nó mất, thí dụ quí Phật tử đắc Sơ Thiền Sắc Giới, đắc Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ Vô Sắc Giới khi chết mà đắc một trong tầng thiền này, thì không sanh về đó được. Mà cái quả của Thiện mình ngồi mình hưởng được, còn quả bất thiện biết như vậy đó nhỏ lớn gì không kịp hưởng mình đã tạo ra cái mới.
Một thí dụ, khi quí Phật tử bị đau chẳng hạn như chân đạp trúng đinh, hay đạp trúng mảnh chai, hay con dao cắt đứt tay thì mình la lên thì tâm sân nổi lên vì thân thức thọ khổ thì tâm sân khởi lên.
Thí dụ, Mẹ mình mất, nhãn thức bắt cảnh sắc thấy cảnh Mẹ mất, mình buồn, tâm sân khởi lên, rồi khóc chảy nước mắt ra là tâm sân nó theo.
Câu "theo ta như bóng với hình" thì nó có một mãnh lực nào, một năng lực nào mà cắt cái hình ra khỏi cái bóng không ? Mà thời gian nó theo mình không đếm được thời gian, như bóng với hình Đức Phật Ngài dùng từ rất chính xác, không có mãnh lực nào cắt nó ra, do đó, đừng có tạo ra, mà có tạo ra rồi thì lo chạy. Hối tiếc không kịp, cái chữ hối tiếc là nó tạo ra thêm giòng Đổng Lực khác, mình chỉ lo chạy thôi.
Thí dụ quí Phật tử làm lỗi thì lo chạy, đừng có đứng lại lo sửa, lo làm việc thiện để mà chạy, còn việc kia nó tới thì để nó tới, mình không nghĩ tới, chứ mình ngồi nghĩ tới là dại lắm.
Thí dụ. Không bao giờ mình lấy cái tôi ta để mà đối trị với Pháp, mà lấy Pháp đối trị Pháp. Khi mà tạo ra một việc Bất Thiện Pháp mà lấy cái tôi để mà đứng chống đỡ hay để trị việc Bất Thiện Pháp đó quả báo trổ sinh thì không bằng mình đi làm Thiện Pháp. Cái Tâm lúc đó mà nghĩ Thiện, hành động làm việc Thiện, ngữ nói lời Thiện thì đó là lấy Thiện Pháp trị Pháp, lấy Thiện Pháp để đỡ lại việc Bất Thiện đã lỡ làm, chứ không lấy cái "Tôi" để đối trị Pháp, đó là định luật
Ngài Tịnh Sự khi Sư ở với Ngài. Ngài nói Ngài không tạo phước vật, Ngài tạo phước trí, nên trí tuệ của Ngài là vô song, nhưng phước vật Ngài không có cái gì hết, y áo, tứ vật dụng, chùa chiền Ngài cũng không có, Ngài chỉ tạo phước trí thôi, Ngài dịch kinh sách, Ngài thuyết giảng Pháp, đó là phước trí, phước vật của Ngài ít, Ngài hưởng cái cũ, có bao nhiêu Ngài sài bấy nhiêu, Ngài không tạo. Ngài nói trí của Ngài dùng Ngài sợ có phước vật lên Ngài dính mắc vô đó làm trí lu mờ, người mà sống đầy đủ họ đắm nhiễm trong đó họ đâu còn tính toán nghĩ ngợi gì nữa, cái khó nó bó cái khôn, họ đói thì họ vùng lên, còn no thì nằm ngủ
Tâm Quả cho mình cái giựt mình chứ không phải cho mình cái thắc mắc, mình không thắc mắc, cho mình cái giựt mình là vì chưa kịp hưởng thì nó đã tạo nữa rồi, trong khi biết được là cái quả Bất Thiện nhỏ lớn gì nó cũng trổ hết.
Thí dụ, mình là con người tạo ra Bất Thiện khi chết làm súc sinh, mà súc sinh này là súc sinh Thiện, thí dụ như cọp beo rắn rít là chúng sinh dữ, súc sinh hiền là không làm cái gì tội, mà chỉ trả quả thôi, là con dòi trong đống phân, nó không tạo tác, từ khi rớt xuống làm con dòi trong đống phân khổ triền miên, con cọp, con beo, con sư tử còn đi kiếm ăn. Bây giờ mình quán con dòi nằm trong đống phân, nó khổ triền miên.
Nên khi tại sao mình rớt xuống làm thú dữ ? Là trong đời sống hàng ngày mình có oan trái, thí dụ người ta nói xấu mình phản ứng, người ta hại mình phản ứng lại, thì bắt đầu mình ra thú dữ.
Trong Kinh Pháp Cú có câu chuyện 2 người vợ của một người gia chủ:
(3) Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi,
Ai ôm biềm bận ấy,
Hận thù không thể nguôi.
Nó mắng tôi, nó chửi tôi, nó sát hại tôi, ai không ngừng oán hận, hận thù mãi không nguôi.
Thì bà vợ thứ nhất không có con, bà vợ thứ 2 có con, thì bà vợ thứ nhất cho thuốc vào thức ăn bà vợ thứ hai để phá thai và bị chết rồi tái sinh thành con con mèo, còn bà vợ lớn làm vợ thứ 2 chết nên bà bị ông chồng đánh đập và bị chết thì lại tái sinh vào nhà đó thành con gà mái, khi con gà mái đẻ trứng thì bị con mèo ăn hết trứng, rồi ông chủ nhà đá con mèo chết, con mèo tái sinh thành thợ săn, còn con gà tái sinh thành con nai, rồi thợ săn bắn con nai.
Mình sống ở đời mình thấy có thú dữ là khi ở loài người họ oan trái với nhau không ngừng.
(4) Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi,
Không ôm biềm bận ấy,
Hận thù được tự nguôi.
Như bà hoàng hậu Sāmāvatī, khi bà thứ phi Māgaṇḍiyā hại Đức Phật không được nên hại đến đệ tử Đức Phật là bà hoàng hậu Sāmāvatī, thì bà thứ phi Māgaṇḍiyā dùng củi chất chung quanh hoàng cung để hỏa thiêu bà hoàng hậu Sāmāvatī cùng với 500 cung nữ, thì bà hoàng hậu Sāmāvatī cùng với 500 cung nữ ngồi thiền quán tưởng và đắc quả Thánh, thì khi chết họ được sinh thiên. Còn nếu mà trả thù rồi chết thành ngã quỉ Atula, rồi có khi rớt vào đường thú dữ để trả thù tiếp.
Bây giờ mình nguyện không có oan trái với chúng sinh nào hết.
Đức Phật nói trong Kinh Pháp Cú là : đừng đổ thừa do nghiệp, mà là do mình tất cả, tốt cũng do mình, xấu cũng do mình, an vui cũng do mình, khổ đau cũng do mình, chính mình tạo ra nghiệp tốt, chính mình tạo ra nghiệp xấu, chính mình thọ khổ, chính mình thọ an vui, chính mình tạo tác ra.
Mình học Abhidhamma mình biết rồi là Tâm dẫn dắt, Ý dẫn dắt là mình biết rồi. Nghiệp Chủ nó đến đánh mình. Mình không oan trái thì không ai oan trái với mình, nhưng trong giây phút mình có Tâm buồn là rớt xuống cảnh khổ liền, rớt xuống cảnh khổ thì khó trở lại làm người, như con rùa khó chui vào lỗ ván trôi trên bãi biển.
Tính sân mà oan trái là trong đời mình có oan trái.
Đức Phật Ngài nhìn thấy cái nghiệp của chúng sanh, nghiệp quá khứ, nghiệp hiện tại, nếu làm nữa thì Ngài biết nghiệp vị lai của họ. Nhưng không phải Ngài dừng ở đó Ngài nói mà Ngài dạy nữa. Ngài nói : Nếu ngươi không dừng lại thì ngươi sẽ đi, ngươi sẽ đi như thế này, Ngài nói chính xác.
Còn mình đây, không ai biết mình bằng chính mình biết mình, có khi mình làn lơ, có khi mình cố ý mình che lấp luôn. Rồi khi nó trổ ra mình lại hỏi làm sao mình có nó.
Miếng đất người ta có chủ, mà người chủ này trong thời gian họ sinh sống họ mượn nợ nhiều thì nhà băng tới tịch thu, trong khi đó mình ở bên ngoài mình nhìn thấy ông đang bị xiết nợ mình nhào vô mình dành.
Đức Phật nhìn không phải về câu chuyện, không phải nhìn vào sự việc, không phải nhìn về con người, mà Ngài nhìn vào Pháp.
Làm Toàn Thiện, trong Toàn Thiện là phước vô lậu, phước vô lậu đó thì có phước thiện, phước thiện trổ sanh điều an vui cho mình. Do đó, mình chỉ lo làm Toàn Thiện thôi.
Khi làm Toàn Thiện, một bậc Thánh mà họ được gọi là bậc Thánh là họ sống trong 3 Ngăn Trừ phần là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng cùng sanh khởi một lượt mà nhất định đi chung. Còn mình thì đi riêng lẻ, có khi Chánh Ngữ, có khi Chánh Nghiệp, có khi Chánh Mạng, mình không đi một lúc 3 cái, nhưng bậc Thánh Sơ Đạo, Sơ Quả đã có rồi 3 ngăn trừ phần một lượt cùng một lúc và không đi riêng.
Xả thí của phàm đi riêng
Xả thí của Thánh đi chung trong Balamat thì 3 Ngăn Trừ phần đi chung, quí Phật tử áp dụng vào thì hoàn hảo.
Trí Tuệ của phàm đi riêng
Trí Tuệ của bậc Thánh đi chung trong Balamat 3 Ngăn Trừ phần đi chung
Quí Phật tử áp dụng như vậy là hoàn hảo.
Như vậy, khi xả thí quí Phật tử có Chánh Mạng, vật thí này của ta là do ta làm bởi sự Chánh Mạng này. Vật thí này làm có Chánh Nghiệp, và vật thí này làm với lời nói chân thật là có Chánh Ngữ.
Trong xả thí có 2 là vật thí và cách thí.
Vật thí này là Chánh Mạng, vật thí này là Chánh Nghiệp, vật thí này là Chánh Ngữ,
Cách thí này là Chánh Mạng, cách thí này là Chánh Nghiệp, cách thí này là Chánh Ngữ.
Như vậy là có 6 là được toàn thiện. Lúc nào quí Phật tử tập khi làm thiện thì đi chung như vậy là được 6 toàn thiện, làm được như vậy là con đường Thánh nhân cô đang bước trên đó.
Cách thí này là ta làm Chánh Mạng, cách thí này ta làm Chánh Nghiệp, cách thí này là Chánh Ngữ
Nên Ngài Paṇḍita trong In This Very Life - Ngay Kiếp Sống Này : Ta hạnh phúc là ta đang đi trên con đường của bậc Thánh nhân, ta là họ hàng của bậc Thánh nhân, ta là con cháu của bậc Thánh nhân, hay ta là thành viên của bậc Thánh nhân, do mình quyết định, đó là ngay trong kiếp sống này chứ không phải chờ đến kiếp sau. Không bỏ cơ hội nào khi đã biết được Bát Chánh Đạo bậc Thánh nhân đi chung, không rời, không riêng, và không bỏ cơ hội nào hết, thì mình cứ theo đó với tác ý khôn khéo và có trí tuệ, sẽ có được quả phước báu đó trở lại rất là mãn túc đầy đủ như ý nguyện.
Với Bát Quan Trai hay làm việc thiện của bậc Thánh nhân và phàm phu 2 cái đó khác nhau.
Mình học về 3 Tâm Sở Ngăn Trừ phần bất định và đi riêng và nhất định mà đi chung, tùy mình chọn cái nào mình đi, cái đó không bắt buộc và không ai cản ngăn hết, mà với tác ý của mình muốn tạo ra, mình gieo chủng tử đó là mình làm được.
Mình mà không tác ý thì khi làm bị lựng khựng.
Ôn lại bài tuần trước Thắng Giải Adhimokkha của mình chưa chắc, mà Tà Thắng Giải (Micchādhimokkho) thắng đó sai lầm không chính xác và không chuẩn xác, và mình phải làm lại.
Tới ngày 15, ngày 30 Tứ Đại Thiên Vương đi.
Rồi ngày 14, ngày 29 là 1000 vị con của Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du.
Ngày 8, ngày 23 các quan đi đại thần của Tứ Đại Thiên Vương đi tuần du.
Thì bây giờ mình ngày nào của vị nào thì mình lựa để mình thọ Bát Quan Trai, hay ngày nào mình cũng thọ hết là do mình chọn.
Do đó, mình phải hiểu đó là quyền quyết định ở mình, giờ mình nhất định đi chung chứ không đi riêng thì mình làm hết Bát Quan Trai Giới này.
Vì khi mình mất cơ hội làm thì khó có cơ hội nữa đến. Một năm mình có một ngày. Một ngày có một giờ. Buổi lễ Kathina cúng dường Tăng trong 365 ngày chỉ có một ngày để làm lễ Kathina cúng dường Tăng, thì mình dồn Tam Tư ( Tư Tiền, Tử Hậu, Tư Hiện) vào để làm, dồn vô hết tất cả Tương Ưng Trí, Đại Thiện Tương Ưng Trí, hỉ thọ Vô Dẫn đủ Tam Tư. Không biết ngày mai mình còn sống ? Không biết năm tới mình còn sống ? Bây giờ mình cứ làm thì phước trổ sinh liền, cái đó là Phala là Quả, chứ không phải Vipāka quả dị thục.
Tại vì thực ra Nghiệp Chủ mình quen rồi, Nghiệp Chủ quan trọng, nó là chủ nhân của mình nên nó đứng lại, do đó phải tác ý khôn khéo và có trí tuệ.
Thì làm Bát Quan Trai thường giữ 8 giới, nhưng muốn Bát Quan Trai giới Ngăn Ngừa thì giữ theo giới Thập Thiện Nghiệp, còn muốn Bát Quan Trai giới Sát Trừ của bậc Thánh nhân, thì bắt đầu đi Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng trong Bát Quan Trai, cách đi này là an toàn.
Còn Bát Quan Trai ngăn trừ phần và Bát Quan Trai sát trử phần thì giữ nguyên không uyển chuyển
Mình giữ Bát Quan Trai Balamat giữ 8 giới thì uyển chuyển theo hoàn cảnh. Cho tới khi xuất gia mà giữ sadi giới là giới thứ 10 là giới không giữ tiền.
Thí dụ mình có đủ điều kiện mình giữ 8 giới mà uyển chuyển theo hoàn cảnh, còn 2 Ngăn Trừ phần và Sát Trừ phần giống như một đôi Balamat bất di bất dịch trong khi hành Balamat. Đó là người tác ý khôn khéo và có trí tuệ.
Trong 5 giới của giới nguyện mình giữ được Thập Thiện
5 Giới trong Ngăn Trừ phần và Sát Trừ phần mình giữ được 3 giới.
Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng là đang đi trên con đường Bát Chánh Đạo của bậc Thánh, đang đi trên Bát Chánh Đạo của giới phần, với trí tuệ mà mình biết là đã có Tuệ Văn trong Bát Chánh Đạo đang hành giới, Chánh Kiến Chánh Tư Duy của mình.
Do đó, tác ý khôn khéo của mình là mình bước qua bước lại cũng được. Mình bước qua từ phàm qua Thánh, dù mình đang ở vị trí phàm nhưng mình biết làm xả thí.
Trong quyển Sưu Tầm Pháp cô Diệu Giác nói Bất Thiện có 3 nhân : Tham, Sân, Si. Sư sửa lại Thiện có 2 là Vô Sân, Vô Tham, cô đang làm thiện phàm nhân
Thiện Thánh nhân có 3 nhân : Vô Tham, Vô Sân, Vô Si.
Cô làm Thiện Thánh nhân có 3 nhân (Vô Tham, Vô Sân, Vô Si)
Thiện phàm nhân vừa có 2 và vừa có 3.
Từ khi mình biết được pháp này thì mình nhìn lại người bạn của mình, hay người trong nhà của mình, hay chúng sinh mình có dịp tiếp xúc, mình biết họ là Thiện tam nhân hay Thiện nhị nhân, Thiện Thánh nhân hay Thiện phàm nhân.
Mình phải biết Thiện có 3 là Thánh nhân và phàm nhân.
Thiện có 2 (Vô Tham, Vô Sân) thì chỉ có phàm nhân.
Mình lấy trí tuệ khôn khéo của mình
Mình làm cái gì phải có trí tuệ, phải có sự tác ý, có sự khôn khéo, có sự hiểu biết. Trong khi mình làm tinh tấn Balamat của phàm nhân, tinh tấn Balamat của Thánh nhân.
Thí dụ. Tinh tấn có :
- Tinh Tấn Phàm
- Thánh Tấn Thánh
Tinh tấn có 2 :
- Tinh Tấn Thiện, gọi là Chánh Tinh Tấn
- Tinh Tấn Bất Thiện, gọi là Tà Tinh Tấn
Do đó không bao giờ mình nói một chiều được khi ta nói đến Tinh Tấn thì có phàm và Thánh. Khi ta nói tới Tinh Tấn thì có Thiện và Bất Thiện. Thiện là Chánh Tinh Tấn, Bất Thiện là Tà Tinh Tấn
Tinh Tấn thì có Thiện và Bất Thiện là dựa trên 4 cái Tứ Chánh Cần.
Tà Tinh Tấn chỉ có 2 vế là : Bất Thiện nào chưa từng sinh cho nó sinh.
Bất Thiện nào đã sinh rồi cho nó phát triển.
Nhưng Thiện có 4 : Bất Thiện nào chưa từng sinh không cho sinh
Bất Thiện nào sinh rồi thì diệt nó đi
Thiện nào chưa từng sinh cho nó sinh
Thiện nào sinh rồi cho nó phát triển lên
Như vậy là 4 là Tứ Chánh Cần.
Trong phàm Tinh Tấn có 2 : Thiện 4. Bất Thiện 2
Trong Thánh Tinh Tấn có 4 (coi phần trên) nhưng chỉ có 3 bậc : Thất Lai ( Tu Đà Hườn), Nhất Lai ( Tư Đà Hàm), Bất Lai ( A Na Hàm). Không có Vô, Vô không có Thiện mà Vô là Vô Ký là Duy Tác.
Trong Tinh Tấn, khi mình biết mình là phàm mình đi con đường của Bậc Thánh được thì mới thành Tứ Chánh Cần. Do đó mình đang ở trong vị trí Tu Nguyện Tinh Tấn trong Thập Thiện Nghiệp , và con đường Bậc Thánh nhân
- Nguyện (Tứ Chánh Cần)
- Ngăn trong (Thiện Nghiệp + Toàn Thiện)
- Sát trong (Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng)
Tinh Tấn trong Chánh Ngữ, lời nói đi đôi với hành động và Chánh Nghiệp. Tinh Tấn này là vì mạng sống đang sống trong Thập Thiện Nghiệp hay là Thập Toàn Thiện mình thực hiện thì mình có được tinh tấn Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, đi một nước vậy đi toàn thiện luôn.
Như vậy thì trong bài của Ngài Mingun nói, tất cả bậc Giác Hữu Tình mà nguyện từ bậc giác hữu tình Thinh Văn Giác, Độc Giác và Chánh Đẳng Giác 3 bậc đó khi còn là bậc giác hữu tình là bồ tát ý thức giác ngộ và hiểu biết rồi thì các Ngài đi Tứ Chánh Cần với Ngăn, Nguyện, Sát Trừ suốt trong Thập Toàn Thiện của bậc Thánh nhân, chứ Ngài không đi Tứ Chánh Cần của bậc phàm nhân.
Do đó, khi Ngài Mingun nói tất cả các bậc giác hữu tình Thinh Văn, Độc Giác, Chánh Đẳng Giác nguyện trở thành Phật Thinh Văn, Phật Độc Giác, Phật Chánh Đẳng Giác đều đi Tứ Chánh Cần trong 3 bậc của bậc Thánh nhân. Chánh Ngữ nói ra lời, hành động theo Chánh Niệm, và mạng sống của các Ngài sống trong Chánh Mạng của bậc Thánh chứ không theo kiểu nghiệp báo nghiệp chủ của mình.
Thì mấy cô đi cái này là Nghiệp Chủ bắt không kịp và nó không đủ lực để bắt mình vì mấy cô đang sống trong cái ốc đảo bảo vệ của pháp Thánh nhân.
Bây giờ mình nói qua Phát Thú, pháp Thiện làm duyên cho pháp Thiện, tức là lấy pháp Tinh Tấn là pháp Thiện làm duyên cho pháp Thiện của phàm nhân hay của Thánh nhân với mãnh lực duyên nào quí Phật tử bắt vô.
Pháp Thiện làm duyên cho pháp Thiện mình đi Trưởng Duyên, trong Trưởng mình qua Câu Sinh.
Trong phần đó mình đi qua Trưởng Duyên, mà Trưởng Duyên này là Câu Sinh Trưởng, rồi Trưởng Duyên đó mới qua Đồ Đạo Duyên. Mình đang hành Đạo.
Người ta hỏi Đồ Đạo Duyên cô đi đạo gì ? Đi Bát Chánh Đạo trong Giới phần, Tuệ phần, Định phần thì hoàn hảo.
Với Phát Thú mình làm bằng mãnh lực thì đi như vậy là đi theo pháp, xuất sinh, bảo hộ, lấy mấy cái đó thì mới đi an toàn được.
Do đó, khi mình đặt ra một câu chuyện. Câu chuyện đó mình ở ngoài nhìn vô, khi mình biết câu chuyện đó.
Biết (tri, liễu tri, từ tri, tri đắc).
Thì khi người biết mà bị đánh lén, đánh thiệt, họ biết cái nào ?
Khi mà họ biết hết các chuyện mà họ còn bị đánh lén hay là bị đánh công khai, thì cái biết đó mình nhìn vô người đó mình sẽ nói "anh bị đánh lén" hay là "anh bị đánh công khai" .
Sư nói trường hợp của Sư. Tất cả mọi chuyện Sư nắm pháp, pháp Đức Phật, Chánh Tạng, Luật Tạng mà Sư la lên "người ta đánh lén Sư" vậy thì người ta đánh lén hay đánh thiệt.
Đánh lén là một cái bẫy cho mình lọt vô mình mới đánh được.
Khi người ta biết hết mà mình vẫn đánh mà mình nghĩ rằng tôi bị đánh bất ngờ thì cái đó chỉ là một cái đưa ra.
Khổng Minh khi đó trong thành chỉ có 1000 người lính, Tư Mã Ý mang đến 30,000 quân, Khổng Minh kêu mở cửa thành, Tư Mã Ý thấy cổng thành mở sợ là cái bẫy nên rút lui.
Người ta biết hết đó mà vẫn đánh lén coi chừng trúng mưu kế.
Vậy thì khi mấy cô biết được hành động của mình và mạng sống của mình và lời nói của mình, thân ngữ ý của mình mà mình kiểm soát trong Niệm và Tỉnh Giác thì những cái gì xảy ra ngoài cái đó mình coi đó là nghiệp chủ là mình biết được là mình giải quyết nó được. Còn nếu như mình thất niệm và không kiểm soát mất tỉnh giác trong hành động, trong sự sống hay trong lời nói của mình khinh xuất thì đánh ra mình quờ quạng mình không biết của mình hay là của người đánh lén hay đánh thiệt là mình chết.
Trên thế giới này chỉ có 2 dân tộc nổi tiếng nhất trên thế giới. Đức Phật Ngài thuộc dân tộc Ariya, Ngài dựa trên nền tảng Sacca thì mình mới ra được Magga và Ngài mới có Puggala.
Ariya Sacca là Tứ Thánh Đế
Ariya Magga là Bát Thánh Đạo
Ariya Puggala là tám bậc Thánh ; Sơ, Nhị, Tam, Tứ.
Đức Phật Ngài có dân tộc của Ngài là Ariya dựa trên Sacca là Tứ Thánh Đế.
Ngài đi trên con đường của Ngài cho dân tộc của Ngài đi Ariya Magga là Bát Thánh Đạo.
Thì Ngài có được Ariya Puggala là 8 Thánh nhân.
Ngài không đi ra ngoài 3 cái này.
Khi nào dân tộc của Ngài, người dân của Ngài, đệ tử của Ngài, học trò của Ngài mà đi ra ngoài 3 cái này thì không phải là Ariya. Giống như ông ngồi câu cá ông có tên là Ariya nhưng hành động không phải là Ariya, tại vì ông không đi trên Sacca, ông không đi trên Magga, nên ông không được gọi là Puggala.
Đó là Chánh Tạng.
Bắt đầu qua Tam Tạng.
Dân tộc thứ 2 là Ariens, dân tộc Thánh nhân. Dân tộc này có 2 : bên Âu Châu là nước Đức, và bên Trung Đông là nước Do Thái.
Đức Phật Ngài có Sacca, Ngài thực hành Magga và Ngài trở thành con người Thánh nhân Puggala.
Khi mình đi tới những người họ biết hết đừng bao giờ mình nghĩ rằng là mình đánh lén người ta được, đừng bao giờ mình nghĩ mình đánh thiệt người ta được.
Từ phàm qua Thánh mình phải đi từ dưới đi lên. Mình phải đi theo bậc Thánh nhân (Puggala) và hành đạo của các Ngài đang đi (Magga) và mình chứng tri được sự thật (Sacca). Mình phải đi theo bậc Thánh nhân (Puggala) mà hành đạo các Ngài đã đi (Magga) và chứng tri những gì Ngài đã có. Đó gọi là mình noi gương các Ngài để tu tập. Tại vì đường này các Ngài đã làm ra, các Ngài đã tìm ra, các Ngài đã có qua, các Ngài đã trải qua rồi. Thánh nhân đi trước, phàm nhân noi gót ./.